Chia sẻ Download
Tài liệu Tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ mầm non
/27
Thành viên ahoo125tp

Tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ mầm non

- 12 tháng trước
5,941
Báo lỗi
1. Lý do chọn đề tài Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha anh, gánh vác mọi công việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc – xã hội chủ nghĩa. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển. Khi xã hội ngày càng phát triển thì giá trị con người ngày càng được nhận thức đúng đắn và được đánh giá toàn diện. Vì một tương lai tươi sáng, trẻ em sẽ trở thành chủ nhân hữu ích của tương lai, thì ngay từ tuổi ấu thơ trẻ phải được hưởng nền giáo dục phù hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt: Đức, trí lao, thể, mỹ. Trong các mặt giáo dục trên thì giáo dục thể chất cho trẻ phải là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng nhất, vì sức khoẻ là vốn quý giá nhât và có ý nghĩa sống còn với con người, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo. ở lứa tuổi này, cơ thể trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần.
Nội dung

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài: Tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ mầm non.

Độ tuổi: 5 tuổi.

Đơn vị: Trường mầm non Đồng Phong –

Nho Quan-Ninh Bình.

1. Lý do chọn đề tài

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn

hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp

người kế tục sự nghiệp của cha anh, gánh vác mọi công việc

xây dựng và bảo vệ tổ quốc – xã hội chủ nghĩa. Mọi trẻ em

sinh ra đều có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, tồn tại và

phát triển. Khi xã hội ngày càng phát triển thì giá trị con người

ngày càng được nhận thức đúng đắn và được đánh giá toàn

diện. Vì một tương lai tươi sáng, trẻ em sẽ trở thành chủ nhân

hữu ích của tương lai, thì ngay từ tuổi ấu thơ trẻ phải được

hưởng nền giáo dục phù hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt:

Đức, trí lao, thể, mỹ.

Trong các mặt giáo dục trên thì giáo dục thể chất cho trẻ

phải là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng nhất, vì sức khoẻ là vốn

quý giá nhât và có ý nghĩa sống còn với con người, đặc biệt đối

với trẻ mẫu giáo. ở lứa tuổi này, cơ thể trẻ đang trong giai đoạn

phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần. Vì thế cơ thể trẻ còn non

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

2

yếu dễ bị phát triển lệch lạc và mất cân đối. Do vậy trẻ chỉ có

thể phát triển tốt nếu như được chăm sóc một cách hợp lý.

Giáo dục thể chất cho trẻ ở trường mầm non có thể thông

qua nhiều biện pháp, như: Tổ chức cho trẻ vận động phù hợp,

nghỉ ngơi hợp lý, ăn uống đầy đủ…Như vậy, một trong những

biện pháp phát triển thể chất là tổ chức bữa ăn cho trẻ. Cơ thể

trẻ đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện, do đó, nó cần

năng lượng để xây dựng. Năng lượng đó lại do thức ăn cung

cấp, vì thế thức ăn chỉ phát huy hết vai trò của mình đối với cơ

thể khi phù hợp với thể trạng và lứa tuổi.

ở trường mầm non trẻ thường được ăn hai bữa là bữa trưa

và bữa xế. Trong đó bữa ăn trưa là bữa chính và qua trong nhất.

Thông qua bữa ăn trưa, trẻ được bù đắp những năng lượng đã

tiêu hao và cung cấp năng lượng để tham gia và các hoạt động

mới. Vì vậy việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ ở trường mầm non

là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình chăm

sóc giáo dục trẻ.

Trên thực tế, việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ ở các trường

mầm non vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn đến ( nhất là đối

với khu vực nông thôn - điều kiện cơ sở vật chất, nhận thức của

giáo viên, phụ huynh còn hạn chế). Thường trong các bữa ăn

của trẻ cô giáo mới chỉ chú ý làm sao cho trẻ ăn hết xuất chứ

chưa chú ý đến việc tổ chức làm sao cho trẻ ăn ngon miệng,

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

3

làm sao để trẻ có tâm lý thoải mái khi ăn. Chính vì lý do trên

mà tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ

mầm non” làm bài sáng kiến kinh nghiệm của mình. Tôi mong

muốn cùng các bạn lựa chọn tìm ra phương pháp, biện pháp để

chăm sóc giáo dục trẻ ngày một tốt hơn.

2. Cơ sở lý luận :

Từ ngàn xưa, con người đã biết mối quan hệ giữa ăn uống

và sức khoẻ. Hyporcat ( 460 – 377 TCN) đã đánh giá cao vai

trò của sự ăn uống đối với sức khoẻ và bệnh tật, nhất là đối với

trẻ mầm non. Ông cho rằng: Cơ thể khi còn trẻ cấn nhiều nhiệt

hơn khi về già, vì vậy trẻ còn bé cần được ăn nhiều hơn; đồng

thời Ông cũng chỉ ra rằng: chế độ ăn chỉ tốt khi có một lối sống

hợp lý.

Danh y Việt Nam, Tuệ Tĩnh ( Thế kỷ XIV) đã từng nói: “

Thức ăn là thuốc, thuốc là thức ăn”, khoa học dinh dưỡng cũng

cho chúng ta biết: Thức ăn, các chất dinh dưỡng làm vật liệu

xây dựng cơ thể. Các vật liệu này thường xuyên đổi mới và

thay thế thông qua quá trình hấp thụ và chuyển hoá các chất

trong cơ thể. Ngược lại, khi cơ thể không được cung cấp đầy

đủ chất dinh dưỡng sẽ không thể phát triển bình thường và đó

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

4

là nguyên nhân gây ra bệnh tật, như suy dinh dưỡng, còi

xương, thiếu máu do thiếu sắt.

Nói về sự ảnh hưởng của sự ăn uống tới sức khoẻ của trẻ,

S. Freud ( 1835 – 1993) nhà tâm lý học ( người áo) đã nhận

thấy rằng: Sự ăn uống có ảnh hưởng rất lớn đến cân nặng của

trẻ. Ông khẳng định: trong trường hợp thiêu ăn, các xương cốt

vẫn dài ra, trái lại, cấn nặng đứng nguyên hay sụt đi.

Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng thì sự ăn uống có

sự ảnh hưỏng rất lớn đến sức khoẻ của trẻ. Trẻ được nuôi

dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ thì da dẻ hồng hào, thịt chắc nịch và

cân nặng đảm bảo. Sự ăn uống không điều độ sẽ ảnh hưởng

đến sự tiêu hoá của trẻ. Nừu cho trẻ ăn uống không khoa học,

không có giờ giấc, thì thường gây ra rối loạn tiêu hoá và trẻ có

thể mắc một số bệnh như tiêu chẩy, còi xương, khô mắt do

thiếu VitaminA…

Như vậy, vấn đề ăn uống đối với trẻ mầm non đã được

quan tâm từ rất sớm. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ quan tâm

đến ảnh hưởng của sự ăn uống đến sức khoẻ và bệnh tật của

trẻ. Đồng thời các tác giả cũng cho rằng: để có cơ thể phát triển

tốt, tránh được bệnh tật thì cần phải đảm bảo một chế độ ăn

uống khoa học, hợp lý và vệ sinh. Nhưng chưa có một tác giả

nào đề cập đến hiệu quả tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ.

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

5

Mãi cho đến năm 1967, trong cuốn “Cán bộ giữ vườn trẻ

và nhóm trẻ nhỏ của vườn trẻ mẫu giáo” của tác giả

M.Đ.Côvryghina mới đưa ra một số vấn đề cần lưu ý khi tổ

chức bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non như: cho trẻ ăn tuỳ

thích thú, không được bắt buộc trẻ ăn như thế dạ dày mới tiết

dịch mạnh; giữa các bữa ăn không bao giờ cho ăn bánh kẹo

ngọt; cho trẻ ăn không đúng lúc sẽ làm giảm khẩu vị, làm ức

chế trung tâm điều khiển ăn uống và làm phá hoại chế độ ăn

uống đúng đắn. Ngoài ra, thức ăn có hình thức đẹp, mùi vị hấp

dẫn thì sẽ gây cảm giác thèm ăn cuả trẻ. Mọi khẩu phần giành

cho trẻ em thì phải cho ăn cùng một lúc để trẻ quen ăn hết khẩu

phần.

3. Cơ sở thực tế:

ở nước ta, qua việc nghiên cứu vấn đề tổ chức bữa ăn cho trẻ ở

trường mầm non mới được quan tâm mấy năm gần đây trong

công trình nghiên cứu: “ Khảo sát khẩu phần ăn trưa và bữa

phụ” của tác giả Lê Thị Khánh Hoà ( 1983 ) có đưa ra khảo sát

khẩu phần ăn trưa năng lượng của trẻ ở trường mầm non. Kết

qủa nghiên cứu cho thấy tình hình cung cấp năng lượng cho trẻ

ở trường mầm non còn thấp so với tiêu chuẩn; tỉ lệ các chất

sinh năng lượng chưa cân đối, chưa hợp l ý, trong đó lượng

Gluxit quá cao, còn lượng Lipit thì quá thấp. Đồng thời tác giả

cũng chỉ ra một nguyên nhân dẫn đến tình hình trên như: bếp

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

6

ăn mới được hình thành, cơ sở vật chất thiếu thốn, có nhiều

quan niệm coi nhẹ việc nuôi nên các hình thức tổ chức còn

nghèo nàn.Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp: Trang bị đầy đủ

cơ sở vật chất cho các trường mầm non để đảm bảo cho việc tổ

chức ăn cho trẻ; đào tạo đội ngũ cô nuôi có trình độ hiểu biết

về dinh dưỡng cho trẻ….

Khi công trình nghiên cứu: “ Điều tra tình trạng dinh

dưỡng của trẻ mẫu giáo ở một số trường phía Bắc” của tác giả

Nguyễn Thị Ngọc Trâm ( 1989) và “tình hình cung cấp dưỡng

chất cơ bản cho trẻ ở một số trường mẫu giáo” của tác giả Võ

Thị Cúc ( 1992) cũng cho thấy việc cung cấp dưỡng chất cơ

bản ( Gluxit, Lipit) cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non của

ta hiện nay còn thấp. Chúng ta mới chỉ cung cấp được khoảng

70% nhu cầu cần thiết tối thiểu năng lượng cho trẻ mẫu giáo

và năng lượng đó chủ yếu là do Gluxit mang lại. Mặt khác hai

tác giả cùng nhấn mạnh việc nâng cao hơn nữa kiến thức khoa

học về dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo đối với các cơ sở nuôi dạy

trẻ, tránh tình trạng cho ăn theo kinh nghiệm hoặc tổ chức dinh

dưỡng thiếu lí luận toàn diện, chặt chẽ và kém hiệu quả. Đồng

thời, nhà trường và gia đình cần có sự hiểu biết đúng đắn về

mối quan hệ giữa nuôi và dạy, giữa sức khoẻ thể chất và sức

khoẻ tinh thần của trẻ mẫu giáo.

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

7

Như vậy, các công trình nghiên cứu về vấn đề này không

nhiều, chủ yếu là điều tra, đánh giá và tổng kết về tình hình

dinh dưỡng, khẩu phần ăn của trẻ mầm non chữ chưa quan tâm

đi sâu vào cách tổ chức bữa ăn và đặc biệt là bữa ăn trưa cho

trẻ.

Do tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu và do yêu cầu

thực tiễn nên yêu cầu “ Tổ chức bữa ăn trưa của trẻ 5 – 6 tuổi ở

trường mầm non” là cần thiết.

Như chúng ta đã biết, Trong cơ thể, vật chất bị tiêu hao

và bị phân giải để cung cấp năng lượng cho hoạt động sống.

Để bù vào phần vật chất đã bị tiêu hao, đồng thời để cơ thể

luôn luôn đổi mới và phát triển thì cơ thể phải lấy chất dinh

dưỡng từ bên ngoài và cơ thể dưới dạng thức ăn. Thức ăn gồm

các chất có cấu trúc phức tạp, gồm những phân tử quá lớn nên

cơ thể không thể sử dụng ngay mà phải qua hai quá trình biến

đổi: Biến đổi về lý học và biến đổi về Hoá học.

Sự biến đổi thức ăn về hoá học được thực hiện nhờ sự

tham gia của các men tiêu hoá. Vì thế, thức ăn được biến đổi từ

những hợp chất hữu cơ phức tạp thành những chất đơn giản để

cơ thể hấp thụ được.

Quá trình biến đổi và hấp thụ thức ăn được gọi là quá

trình tiêu hoá.

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

8

ống tiêu hoá chủ yếu được cấu tạo từ mô cơ trơn, bên

trong có niêm mạc bao phủ. Các tế bào niêm mạc tiết ra niêm

dịch. Lớp dưới niêm mạc gồm hệ thống các lông ruột, mạng

lưới mao mạch, mạch bạch huyết và các sợi thần kinh; ống tiêu

hoá gồm có miệng, hầu, thực quản, dạ dầy và ruột.

* Khoang miệng: gồm có răng và lưỡi.

- Răng: có tác dụng cắt, xé và nghiền nhỏ thức ăn. Tuỳ

theo hình dạng và chức phận mà người ta phân biệt ra làm 3

loại răng: răng nanh, răng cửa và răng hàm. ở trẻ lúc đầu xuất

hiện răng sữa. Mầm của răng sữa xuất hiện rất sớm nhưng phải

sau khi sinh 5 đến 6 tháng các răng sữa mới bắt đầu mới mọc

và đến 20 tháng tuổi trẻ đã có đủ 20 răng sữa. Đến năm 6 tuổi

răng sữa đã rụng và răng mới mọc lên bền vững hơn. Đến 15 –

17 tuổi sự thay răng kết thúc.

Răng có thể xuất hiện sớm hơn hay muộn hơn phụ thuộc

vào sự phát triển cá nhân, phụ thuộc vào di truyền và chịu ảnh

hưởng của các tác động với cơ thể trong thời kỳ phát triển của

thai và sau khi sinh. Và đặc biệt là chật lượng dinh dưỡng

cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng với việc xuât hiện và

phát triển của răng.

* Lưỡi: là cơ quan hình trái xoan, được cấu tạo bằng cơ

rất linh động, bao bên ngoài lưỡi là lớp màng nhầy trong đó có

màu và dây thần kinh. Lưới có vai trò chuyển thức ăn trong khi

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

9

nhai, thu nhận cảm giác và vị giác nhờ cac vị thể vị giác trên

mặt lưỡi.

* Hầu – thực quản: hầu và thực quản có nhiệm vụ dồn

thức ăn từ miệng xuống dạ dầy. Thực quản đi vào khoang bụng

qua một lỗ đặc biệt ở cơ hoành. ở trẻ sơ sinh, thực quản có hình

chóp nón. Thành thực quản còn mỏng, tổ chức đàn hồi và lớp

cơ chưa phát triển đầy đủ nên trẻ dễ bị nghẹn.

* Dạ dầy: là phần rộng nhất của ống tiêu hoá. Đó là nơi

chứa thức ăn và đồng thời là nơi thức ăn biến đổi về lý và hoá

học nhờ các cơ và tuyến của dạ dầy. Dạ dầy được cấu tạo bởi

ba lớp cơ chắc. Trong niêm mạc của dạ dầy có những tuyến

nhờn tiết dịch vị và axit HCl nên dịch trong dạ dầy có tính axit

cao. Trong dịch có các Enzym tiêu hoá thức ăn.

* Ruột: ruột non dai 5- 6 m. Niêm mạc của ruột non có

nhiều nếp gấp và có nhiều lông ruột. Mỗi lông ruột có chứa hệ

thống mạch máu và mạch bạch huyết. Thành của ống ruột rất

mỏng tạo điều kiện cho sự hấp thụ thức ăn. Trong niêm mạc củ

ruột non cũng có nhiều tuyến nhỏ tiết ra dịch ruột chứa enzym

tiêu hoá.

Ruột già dài 1,3 – 1,5m trong đó chứa hệ thống vi khuẩn

phong phú ( chủ yếu là vi khuẩn hoại sinh), có tác dụng phân

huỷ các chất bã của thức ăn để tạo thành phân. Đoạn cuối cùng

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

10

của ruột già gọi là ruột thẳng. Và tận cùng là hậu môn, nơi thải

phân ra ngoài.

Ngoài ra, tham gia vào chức năng tiêu hoá còn có các

tuyến tiêu hoá.

* Tuyến nước bọt nằm chung quanh khoang miệng. Nó là

những ống hình chữ n, tiết ra nước bọt theo ống dẫn đổ vào

khoang miệng. Thành phần của tuyến nước bọt có cac enzym.

Số lượng và thành phần dịch tiết ra phụ thuộc vào tính chất lý

và hoá học của thức ăn. Nước bọt có tác dụng làm nhão thức

ăn khô và cuốn khỏi niêm mạc miệng những chất có hại không

cần thiết. Các tuyến nước bọt tiết ra theo phản xạ: thức ăn vào

miệng kích thích các thụ thể của các dây thần kinh vị giác, các

xung động đó được lan truyền tới trung khu điều khiển việc tiết

nước bọt ở hành tuỷ, rồi từ đó theo dây thần kinh ly tâm đến

tuyến nước bọt, kích thích các tuyến nước bọt tiết ra nước bọt.

* Tuyến dạ dầy có khoảng 5 triệu tuyến nhỏ nằm trong

niêm mạc của dạ dầy và hàng ngày tiết khoảng hai lít dịch vị.

Trong dịch vị chứa HCl và men pepxin, prezua HCl vừa có tác

dụng giúp men pepxin hoạt động, vừa có tác dụng bảo vệ, tiêu

diệt phần lớn vi sinh vật thâm nhập vào dạ dầy cùng với thức

ăn.

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

11

* Tuyến tuỵ: Trong dịch tuỵ rất giầu enzym tiêu hoá tiết

dịch tiêu hoá và đổ vào tá tràng có tác dụng tiêu hoá tất cả các

loại thức ăn.

* Tuyến gan: thì tiết ra mật, có tác dụng hỗ trợ, kích thích

tiêu hoá và hấp thụ thức ăn.

Sự tiêu hoá thức ăn được diễn ra ở tất cả các phần của ống

tiêu hoá, nhưng quá trình này được thể hiện rõ nhất ở 3 nơi:

khoang miệng, dạ day và ruột non.

Tại khoang miệng thức ăn được tiêu hoá cơ học là chủ

yếu. Thức ăn vào miệng được răng cắt xé, nghiền nát rồi tẩm

với nước bọt là thành một chất nhão dính, rồi bì lưỡi đẩy vào

hầu. Khi các cơ quan thụ cảm ở hầu và ở gốc lưỡi bị kích thích

sẽ gây nên phản xạ nuốt. Nhờ có phản xạ nuốt mà thức ăn được

đẩy từ khoang miệng xuống thực quản và dạ dày. Trong nứơc

bọt có mem ptyalin, men này hoạt động trong môi trường kiềm

và có tác dụng biến đổi thành phần tinh bột thành đường

mantôzơ.

Tại dạ dày thức ăn sẽ được lưu giữ lại tuỳ thuộc vào bản

chất của thức ăn.

Gluxit có thời gian lưu giữ khoảng 3 – 4 giờ.

……..

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

12

Thức ăn xuống đến dạ dày nhờ có sự cọ xát của các cơ ở

thành dạ dày, làm thức ăn tiếp tục được nghiền nhỏ và trộn đều

với dịch vi do tuyến dịch vị tiết ra. Thức ăn tới dạ dày khoảng

5 – 6 phút thì tuyến dịch vị bắt đầu tiết dịch vị.Men pepxin

trong dic vị hoạt động trong môi trường axit HCl làm biến đổi

prôtêin thành aminôaxit.

Khi dịch vị chưa ngấm vào thức ăn và môi trường thức ăn

trong dạ dày chưa chuyển sang môi trường axit thì tinh bột vẫn

tiếp tục được biến đổi thành prôtêin dưới tác dụng của men

ptialin có trong nước bọt. ở trẻ em có men ptyalin có tác dụng

tiêu hoá prôtêin của sữa. Men lipaza biến đổi lipit thành prôtêin

và axit béo. Tuy nhiên trong dạ dày có men lipaza hoạt động

chủ yếu.

Sự tiêu hoá được diễn ra chut yếu ở ruột non. Đây là giai

đoạn quan trọng nhất và cần thiết nhất trong một quá trình tiêu

hoá và tại đây thức ăn được biến đổi đầy đủ nhất và triệt để

nhất.

Thức ăn xuống đến ruột non, nhờ quá trình co bóp của các

cơ ở thành ruột non mà thức ăn được tiếp tục nhào trộn và

ngấm dần các dịch tiêu hoá ( dịch tiêu hoá đến ruột và mật).

Đồng thời nhờ sự co bóp của các cơ quan này mà thức ăn được

đẩy dần xuống ruột già, thời gian thức ăn được lưu giữ ở ruột

non khoảng 3 – 5 giờ.

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

13

Tuyến dịch tuỵ và dịch ruột có chứa đủ các men tiêu hoá

prôtêin, Gluxit, lipit.

Gluxit -> Mantoza -> Glucôza.

Prôtit -> axitamin.

Lipit - > Glyxêrin + axitbéo.

Dịch ruột không tiết ra trong thức ăn mà nó chỉ được tiết

ra ở những phần ruột đang tiếp xúc với hồ nhão của thức ăn.

Trong dịch ruột có đủ ba loại men để tiêu hoá: prôtit, lipit và

gluxit. Các men tiêp tục biến đổi nốt phần thức ăn còn lại đến

các sản phẩm là các aminôaxit, glucôza, glyxêrin và axít béo.

Dịch mật không chứa men tiêu hoá, nhưng có tác dụng

làm tăng sự hoạt động của các men trong dịch tuỵ, dịch ruột và

đặc biệt là đối với sự tiêu hoá mỡ. Dịch mật có tác dụng phân

chia lipit thành những hạt nhỏ và tăng diện tích tiếp xúc với

lipit của men lypaza. Ngoài ra, axit béo được tạo thành trong

quá trình chuyển hoá lipit lại cùng với mật làm thành một chất

hoà tan trong nước và dễ dàng ngấm qua thành ruột và máu.

Mặt khác, Sự hấp thụ thức ăn là quá trình vận chuyển các

sản phẩm tiêu hoá ( aminôaxit, glucôza, glyxerin, chất béo) vào

máu.

Sự tiêu hoá thức ăn diễn ra suốt dọc chiều dài của ống tiêu

hoá nhưng chủ yếu diễn ra ở ruột non vì: ở ruột non có lớp

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

14

niêm mạc phát triển, có nhiều nếp nhăn có lông ruột làm cho

diện tích hấp thụ tăng lên đáng kể. Ngoài ra các tế bào ở ruột

non có cấu trúc thuận lợi cho sự vận chuyển các chất trong ống

tiêu hoá vào máu. Đến ruột non toàn bộ thức ăn đã biến đổi đến

mức đơn giản nhất để có thể hấp thụ được,

Sự hấp thụ thức ăn diễn ra theo hai cơ chế chủ động và thụ

động:

Cơ chế thụ động: nồng độ của các chất dinh dưỡng trong

ống tiêu hoá cao hơn trong máu, các chất dinh dưỡng này sẽ

được gắn vào các chất vận chuyển . Nhờ các chất vận chuyển

mà các chất dinh dưỡng được vận chuyển vào máu. Dung dịch

dinh dưỡng ( aminôaxit, gluxêrin, axit béo) được thấm vào máu

và thấm vào dịch huyết của niêm mạc ruột non. Trong đó

aminôaxit, glucôza được thấm thẳng vào máu và bạch huyết.

Sau đó sẽ tới gan và đổ vào tĩnh mạch chủ dưới rồi theo vòng

tuần hoàn tới các cơ quan trong cơ thể. Còn phần lớn các chất

béo được chuyển vào mạch bạch huyết rồi vào máu.

Sự hấp thụ thức ăn là một quá trình sinh lý được thực hiện

một cách chon lọc qua màng ống.

Quá trình này phụ thuộc vào thành phần, nguồn gốc của

thức ăn, cách chế biến và sự hấp thụ của cơ thể.

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

15

Thức ăn xuống tơi ruột già thì phần lớn các chất dinh

dưỡng đã được hấp thụ, ruột già chỉ hấp thụ thêm một số chất

dinh dưỡng, chủ yếu là các chất béo và cô đặc lại chât bã. Tại

đây một số vi khuẩn phân huỷ các chất còn lại: prôtit, gluxít và

sau đó lên men để tạo thành phân. Phân được đẩy ra ngoài qua

sự cử động thụ động của ruột già và theo cơ chế phản xạ

Một điều chúng ta quan tâm là sự thống nhất hoạt động trong

cơ quan tiêu hoá.

Cơ quan tiêu hoá gồm nhiều bộ phận, mỗi bộ phận lại có

một chức năng riêng và là tiền đề hạt động cho các bộ phận

tiếp theo. Mặt khác, giữa các bộ phận trong cơ quan tiêu hoá có

sự phân phối chặt chẽ và chính xác nhờ ảnh hưởng của hệ thần

kinh và thể dich. Vì thế, kết quả của sự phối hợp này là tạo ra

các chất cần thiết cho cơ thể và loại bỏ nhanh các loại thức ăn

không sử dụng được, thức ăn ôi thiu ra ngoài. Chẳng hạn, thức

ăn ôi thiu hoặc có mùi khó chịu vào miệng thì người ta sẽ oẹ nó

ra, nếu ăn phải thức ăn thiu mà không biết thì các chất có hại

trong thức ăn sẽ kích thích các đầu múp của dây thần kinh

hướng tâm nằm trong dạ dày. Để đáp lại kích thích đó các cơ ở

thành ruột co bóp mạnh nối tiếp nhau và lan truyền theo hướng

dạ dày. Các tuyến ngược chiều của sự co bóp này xuất hiện

trong thành dạ dày và thực hiện sinh ra chứng buồn nôn, nhờ

đó cơ thể loại được thức ăn không thích hợp và có hại ra ngoài.

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

16

Nếu thức ăn ôi thiu hay có độc sẽ xâm nhập xa hơn trong hệ

tiêu hoá thì có thể loại nó ra bằng hai cách: Thành ruột co bóp

đột ngột đẩy thức ăn về phía ruột thẳng và khối lượng thức ăn

đi nhanh qua toàn bộ ruột và thải ra ngoài cơ thể. Sở dĩ việc di

chuyển khối lượng thức ăn được mau lẹ là nhờ trong ruột có

lượng nước lớn đi vào.

Mầm mống của sự tiêu hoá được hình thành sớm, ngay từ

khi thai được bốn tuần tuổi và bắt đầu hoạt động khi thai được

bốn đến năm tháng. Khi đó phản xạ nuốt thể hiện rõ và có một

số enzym tiêu hoá được tiết ra . Tuy nhiên trong thời kỳ thai

nhi, hoạt động của hệ tiêu hoá còn rất yếu ớt. đối với trẻ sơ

sinh, động tác mút là biện pháp duy nhất để trẻ lấy thức ăn.

ở trẻ nhỏ niêm mạc ruột chưa bền chắc nên dẽ bị viêm

ruột. Màng treo ở ruột ở trẻ em thường dài nên dễ bị lồng ruột

hay xoắn ruột. Cơ thực quản và cơ dạ dầy củ trẻ mỏng, yếu nên

trẻ dễ bị nghẹn hoặc bị nôn trớ nhất là sau khi trẻ ăn nhiều.

Niêm mạc ruột non chưa bền chắc nên trẻ dễ hấp thụ

những sản phẩm thức ăn của quá trình tiêu hoá và vi khuẩn dễ

xâm nhập gây ra rối loạn tiêu hoá, viêm ruột.

Hoạt động của cơ quan tiêu hoá phụ thuộc vào sự muốn ăn

của cơ thể. Quá trình muốn ăn có liên quan đến sự hưng phấn

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

17

của các trung khu thần kinh điều khiển sự ăn uống của não bộ,

từ đó liên quan đến sự tăng cường các phản xạ ăn uống. Vì vậy,

nếu ta không muốn ăn thì dịch tiêu hoá sẽ tiết ra ít, thức ăn

được tiêu hoá sẽ chậm hơn và ít hiệu quả hơn.

Có nhiều biện pháp tạo ra sự muốn ăn của cơ thể và một

trong những biện pháp đó là thành lập ở trẻ những phản xạ ăn

uống có điều kiện.

Muốn tạo ra cảm giác muốn ăn của cơ thể thì cần phải

hình thành ở trẻ những phản xạ ăn uống có điều kiện và đặc

biệt cần hình thành phản xạ có điều kiện ăn uống về thời gian.

Khi phản xạ này được thành lập một cách bền vững thì chỉ đến

các giờ ăn quen thuộc các cơ quan tiêu hoá bắt đầu tiết dịch

trước khi ăn. Khi đó ta có cảm giác muốn ăn và khi được ăn sẽ

ăn ngon miệng, đồng thời thức ăn sẽ được tiêu hoá nhanh. Cảm

giác muốn ăn của trẻ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát, việc bày trí đồ đạc trong phòng

ăn là những nhân tố quan trọng tạo ra cảm giác muốn ăn của cơ

thể. Khi vào một phòng ăn thoáng mát, sạch sẽ, được ngồi ăn

trên bàn ghế sạch sẽ người ta sẽ có cảm giác muốn ăn, ngoài ra

dụng cụ ăn uống như: bát, đũa, thìa…sạch sẽ vệ sinh cũng giúp

ta ăn ngon miệng.

Ngoài ra cách chế biến món ăn, mùi thơm của thức ăn sẽ

kích thích dịch tiêu hoá, khi ta đói mà ngửi thấy mùi thơm của

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

18

thức ăn thì ngay lúc đó cơ quan tiêu hoá sẽ tiết ra dịch. Hoặc

thức ăn được bày biện lịch sự, gọn gàng…sẽ tạo cảm giác

muốn ăn của cơ thể.

Trong bầu không khí trước và trong khi ăn có ảnh hưởng

rất lớn đến cảm giác muốn ăn của cơ thể. Người ta chỉ muốn ăn

và ngon miệng khi mà con người cảm thấy thoải mái, không bị

ức chế bởi một lý do nào đó vì vậy trong khi ăn cần tạo bầu

không khí ấm cúng vui vẻ, yên tĩnh, nhẹ nhàng tránh những tin

gây xúc động mạnh… thì cảm giác ngon miệng sẽ được tăng

lên.

Con người ta cần ăn để sống, ăn uống là một trong những

nhu cầu của con người. Khoa học dinh dưỡng giúp chúng ta

hiểu được con người sống ở thức ăn và từ đó xây dựng các chế

độ ăn hợp lý cho từng độ tuổi, trạng thái sinh lý, bệnh lý. Đối

với trẻ mầm non cơ thể đang trong giai đoạn phát triển nhanh,

vì vậy đòi hỏi khẩu phần ăn phải đầy đủ về số lượng và chất

lượng, ăn uống rất cần thiết cho cơ thể phát triển về thể chất và

tinh thần vì thế thức ăn cung cấp vật liệu cần thiết , phát triển

và phục hồi sức khoẻ cho cơ thể. Thớc ăn chính là sợi dây liên

lạc giữa cơ thể và môi trường và cung cấp năng lượng cho tất

cả các bộ máy trong cơ thể hoạt động của hệ thần kinh, tuần

hoàn, hô hấp, bài tiết, tiêu hoá, cơ bắp… vì thế chẳng có tế bào

nào trong cơ thể giám từ chối thức ăn. Không những thế thức

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

19

ăn còn cung cấp những chất cần thiết để cơ thể lớn lên và phát

triển. Từ cái thai lớn lên thành em rồi thành người lơn, không

thể trông cậy vào gì khác ngoài thức ăn. Thức ăn còn đem lại

vật liệu để cơ thể sửa chữa những bộ phận hư hỏng, tái tạo lại

những cơ quan hao mòn quá trình sống. Ví dụ: cứ vài giờ tế

bào trong ruột lại chết vì thế phải tạo ra tế bào mới thay thế tế

bào cũ. Nói chung các cơ quan trong cơ thể đều nhờ vào thức

ăn để tồn tại và phát triển.

ăn uống là một trong những biện pháp giúp cơ thể khoẻ

mạnh. Trẻ khoẻ mạnh, giúp trẻ có sự cận bằng giứa tuôi, cân

nặng và chiều cao, cơ thể phát triển giúp cơ thể tránh sự nhiễm

trùng, tinh thần mở mang điều hoà, khuôn mặt vui tươi của tuổi

thơ. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cân nặng và chiều cao,

như: khí hậu, yếu tố giống nòi, chế độ dinh dưỡng…nhưng

trong đó chất lượng của dinh dưỡng vẫn là chủ yếu. Trẻ em nếu

ăn uống hợp lý thì tất phát triển về chiều cao. Qua các công

trình nghiên cứu cho thấy: ngay trong năm thứ nhất, mỗi tháng

đầu trẻ cao lên 3cm và 8 tháng sau mỗi tháng cao lên 3,5cm.

Theo Freud- nhà phân tâm học ( người áo ) thì trong trường

hợp thiếu ăn thì xương cốt vẫn dài ra, trái lại cân nặng đứng

nguyên hoặc sụt đi.

Vì vậy trẻ em chỉ phát triển được hài hoà, cân đối khi mà

được ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng. Nếu trẻ ăn uống thiếu

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

20

thốn quá hay ăn uống không điều độ thì sẽ ảnh hưởng đến sự

tiêu hoá, phá hoại quá trình trao đổi chất… từ đó làm cho cơ

thể trẻ yếu đi và dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng. Theo số

liệu điều tra của tổng cục thống kê thì tỷ lệ suy dinh dưỡng

hiện nay ở Việt Nam là rất lớn, đây là một tỷ lệ khá cao so với

quy định trên thế giới. Nguyên nhân chủ yếu là do ăn uống

thiếu chất và chế độ chăm sóc chưa hợp lý.Những trẻ suy dinh

dưỡng rất dễ mắc các bênh tiêu chẩy, viêm đường hô hấp… khi

mắc bệnh thì thường nặng hơn và có tỷ lệ tử vong cao. Như

vậy, ăn uống có vai trò rất to lớn đối với sức khoẻ và sự phát

triển thể chất của trẻ.

Đối với trẻ mầm non, nhu cầu về dinh dưỡng rất cao.Qua

nghiên cứu cho thấy trẻ em cần nhiều thức ăn hơn người lơn.

Chẳng hạn theo dõi cân của một trẻ mạnh khoẻ sẽ rõ. Từ 4

tháng tuổi cân nặng gấp đôi lúc lọt lòng, khi được 1 năm số cân

sẽ tăng gấp 3.

Cung cấp về dinh dưỡng của trẻ em theo tuổi được Viện

dinh dưỡng đưa ra với trẻ < 1 tuổi cần cung cấp

1000Kcalo/ngày

trẻ < 1 - 3 tuổi cần cung cấp 1300Kcalo/ngày

trẻ < 4 – 6 tuổi cần cung cấp 1500Kcalo/ngày

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

21

Dựa vào căn cứ trên nên chế độ ăn trong ngày của trẻ

được chia thành 3 – 4 bữa trong đó tỷ lệ các bữa hợp lý nên là:

Bữa sáng 25%, bữa trưa 40%, bữa xế 15%, bữa tối 20%.

Trong một ngày thức ăn được phận phối cho bữa trưa là

nhiều calo hơn khoảng 30 – 40% khẩu phần ăn hàng ngày, vì

bữa trưa cần cung cấp năng lượng cho trẻ để bù đắp cho sự tiêu

hao năng lượng ( do hoạt động ) và đảm bảo năng lượng cho

trẻ hoạt động tiếp theo trong ngày. Trẻ đến trường mầm non

ngay từ buổi sáng đã tham gia vào các hoạt đông trong chế độ

sinh hoạt một ngày, như: thể dục sáng, hoạt động học tập, hoạt

động ngoài trời, hoạt động góc… trẻ rất hiếu động nên thường

tham gia các hoạt động một cách tích cực. Khi trẻ hoạt động

tích cực sẽ tiêu hao nhiều năng lượng. Với cơ thể trẻ sẽ lấy

năng lượng ở đâu để hoạt động, đương nhiên nguồn cung cấp

năng lượng cho cơ thể là thức ăn. Thường buổi sáng, trẻ ăn rất

ít, do vậy không thể đủ năng lượng cho trẻ đủ hoạt động. Vì

vậy, nhất thiết phải có bữa ăn trưa để bù đắp phần năng lượng

bị tiêu hao trong các hoạt động từ sáng đến trưa và cung cấp

năng lượng cho trẻ tham gia vào các hoạt động buổi chiều. Nếu

như trẻ không có bữa ăn trưa hay có ăn nhưng không hợp lý thì

cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất của trẻ.

4. Kết quả:

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

22

Qua quan sát trẻ trong quá trình ăn chúng tôi thấy: phần

lớn trẻ đã ăn hết khẩu phần ăn, nhưng ăn trong một thời gian

tương đối dài và tốc độ ăn lúc đầu của trẻ tương đối nhanh,

nhưng về sau thì giảm dần, đặc biệt khi ăn đến bát thư hai thì

nhiều trẻ không muốn ăn, ngồi ngậm cơm. Có một số trẻ tỏ ra

hào hứng và vui vẻ trong ăn uống, như: cháu Bùi Minh Thư,

Quách Thị Vân Anh, Hoàng Việt Hùng, Đinh Thị Thanh

Thuý… những trẻ này thường được cô giáo bầu làm bàn trưởng

có nhiệm vụ chia cơm cho các bạn trong bàn, trẻ rất nhanh

nhẹn vui vẻ lấy cơm cho các bạn và khi bắt đầu ăn thì trẻ ăn rất

nhanh, ăn xong trẻ còn nói với các bạn cùng bàn “ Tớ là người

vô địch”, bên cạnh đó chúng tôi thấy có rất nhiều trẻ khó chịu,

không muốn ăn và thường những trẻ này ăn rất chậm, như:

cháu Hoàng Thị Thu Thảo, Bùi Huy Long, Đỗ Ngọc Anh, Bùi

Thảo Nhi… có nhiều trẻ khi cô giáo đến nhắc nhở và xúc cơm

cho trẻ thì trẻ mím chặt môi, không cho cô xúc hoặc có trẻ giả

làm động tác oẹ cơm để cô không thể xúc cơm, như cháu Đinh

Đức Mạnh. Trẻ thường ngồi ngậm cơm đợi cô cho đổi cơm đi

khi đã hết giờ ăn.

Chính vì vậy mà chúng ta cần phải tìm hiểu thật kỹ nguyên

nhân và thực trạng của việc tổ chức bữa ăn trưa của trẻ mầm

non để có những biện pháp tổ chức phù hợp nhằm nâng cao

hiệu quả tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ.

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

23

Tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ là một nội dung không thể

thiếu trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm

non.

Bữa ăn trưa của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non đạt hiệu

quả chưa cao. Cụ thể còn có 18/120 trẻ có bữa ăn trưa ở loại

trung bình. Sở dĩ bữa ăn trưa của trẻ đạt hiệu quả chưa cao một

phần là do nhận thức của giáo viên về cách tổ chức bữa ăn trưa

cho trẻ còn nhiều hạn chế, từ đó dẫn đến việc sử dụng các biện

pháp trong qúa trình tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ chưa hợp lý,

chưa khắc phục được những khó khăn về cơ sở vật chất …tất

cả những điều đó đã ảnh hưởng đến hiệu quả bữa ăn trưa của

trẻ.

Tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ là một nội dung quan trọng

trong qúa trình chăm sóc và giáo dục trẻ. Nó có ý nghĩa quan

trọng đối với sự phát triển của cơ thể nói chung và sự phát triển

thể chất của trẻ nói riêng. Do đó cần phải tổ chức bữa ăn trưa

cho trẻ đạt hiệu quả cao nhất.

Việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm

non cần dựa trên cơ sở tâm lý của sự ăn uống, qúa trình hình

thành thói quen ăn uống có văn hoá ở trẻ, từ đó có những biện

pháp tổ chức phù hợp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bữa

ăn trưa của trẻ.

5. Bài học kinh nghiệm:

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

24

Quá trình nghiên cứu và thực tế giảng dạy, cho phép tôi

rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

II. Kiến nghị sư phạm.

Từ những kết luận trên, tôi xin đề xuất một số ý kiến sau:

1. Giáo viên cần phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan

trọng của bữa ăn trưa đối với sự phát triển thể chất của trẻ, giáo

viên cần nắm vững cơ sở tâm sinh lý của việc ăn uống, các điều

kiện để có một bữa trưa ăn ngon, những nguyên nhân ảnh

hưởng tới bữa ăn trưa của trẻ để có thể sử dụng các biện pháp

một cách khoa học, phù hợp với đối tượng trẻ. Có được điều

đó, đòi hỏi mỗi giáo viên phải thực sự nỗ lực, yêu nghề và

thương yêu trẻ như con.

2. Cần phải cho trẻ tham gia tích cực vào tất cả các hoạt động

trong chế độ sinh hoạt. Giúp cho trẻ cảm thấy thực sự thoải

mái, thấy gắn bó với trường lớp, cô giáo, với bạn bè xung

quanh.

3. Cần tăng cường hơn nữa việc trang bị cơ sở vật chất cho các

trường mầm non, phòng ăn phải đảm bảo rộng rãi, thoáng mát,

bàn ghế, dụng cụ ăn uống như bát, thìa…phải đảm bảo đầy đủ,

vệ sinh và mang tính thẩm mỹ, phù hợp với lữa tuổi trẻ. Đặc

biệt ở các trường mầm non phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn về số

lượng trẻ trong một lớp,tránh tình trạng số trẻ quá đông trong

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

25

một lớp gây khó khăn cho cô giáo trong việc tổ chức bữa ăn

cho trẻ.

4. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa trường mầm non và gia

đình. Đây là hai môi trường hoạt động của trẻ do đó cần phải

thống nhất về yêu cầu – nội dung – phương pháp chăm sóc và

giáo dục trẻ, có như vậy mới hình thành được ở trẻ thói quen

ăn uống có văn hoá, vệ sinh. Nhờ đó sẽ giảm bớt được khó

khăn của giáo viên trong qúa trình chăm sóc và giáo dục trẻ

nhằm nâng cao hiệu quả bữa ăn trưa cho trẻ.

Với bài viết này, tôi hy vọng đã góp phần tìm hiểu được

thực trạng của việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ trong tình hình

hiện nay, để từ đó tôi và các bạn có những biện pháp để tổ chức

bữa ăn hiệu quả hơn cho trẻ. Vì điều kiện thời gian có hạn,

cũng như hiểu biết của tôi còn nhiều hạn chế nên bài viết

không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Mong nhận được

sự đóng góp của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp.

٭٭٭

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

26

Ngày …..

tháng …. năm 2008

Người viết

( Ký và ghi rõ họ

tên)

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

27

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT