Thành viên idoc2012

Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

- 12 tháng trước
Chia sẻ
/17 trang
Tải xuống miễn phí
Tải xuống miễn phí (17 trang)
Thành viên idoc2012

Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

- 12 tháng trước
701
Báo lỗi

Chế Lan Viên là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng trước Cách mạng tháng Tám với tập thơ “Điêu tàn”. Đi theo cách mạng rồi đi kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên gần như im lặng. Hoà bình lập lại , ông mới có thơ hay.

Nội dung
Microsoft Word - Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Chế Lan Viên là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng trước Cách mạng

tháng Tám với tập thơ “Điêu tàn”. Đi theo cách mạng rồi đi kháng

chiến chống Pháp, Chế Lan Viên gần như im lặng. Hoà bình lập

lại , ông mới có thơ hay. Bài thơ “Tiếng hát con tàu” rút trong tập

thơ “Ánh sáng và phù sa” là một bài thơ thời sự đáp lại lời kêu gọi

của Tổ quốc đi khai hoang Tây Bắc. Viết về một nhiệm vụ lịch sử

nhưng nhà thơ không thể hiện một cách chung chung mà viết với

một xúc cảm chân thành và cuồng nhiệt. Một vùng đất tươi đẹp

và anh hùng của Tổ quốc hiện lên thành hình tượng thơ lấp lánh

ánh sáng của trí tuệ. Tâm hồn của thi sĩ đã hoá thành con tàu

mộng tưởng, trở về với nhân dân mà cũng là trở về với chính

lòng mình.

1 Yêu em từ thuở trong nôi

Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru

2 Cầm vàng mà lội qua sông

Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

Chế Lan Viên mở đầu bài thơ bằng lối tự vẫn bộc lộ sự trăn trở

của nhà thơ trước một nhiệm vụ trọng đại của đất nước:

“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hoá những con tàu

Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”

Chế Lan Viên nhạy bén với những nhiệm vụ chính trị của Đảng

và của dân tộc. Tác giả đã chuyển nhiệm vụ chung (khai hoang

Tây Bắc) thành nhiệm vụ riêng của từng con người, sâu hơn nữa

là nhiệm vụ của “tâm hồn ta”.

“Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu?”

Đây là con tàu của mộng tưởng (chưa hề có đường tàu lên Tây

Bắc), biểu tượng này thích hợp với hình ảnh ra đi, gợi những ước

mơ lãng mạn:

“Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô, tàu đói những vành trăng”

Tác giả còn thôi thúc người ra đi khai hoang Tây Bắc chẳng

những vì Tây Bắc mà còn vì mở lối nhở hẹp của đời sống, mở lối

cho sáng tạo, cho thơ:

“Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép

Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”.

Nhà thơ đã biến cuộc ra đi thành cuộc trở về. Trở về “nơi máu rỏ

tâm hồn ta thấm đất”. Và tha thiết hơn nữa “cho con về gặp lại

Mẹ yêu thương”. Và thiêng liêng hơn nữa:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngưnừg bỗng gặp cánh tay đưa”

Những so sánh bất ngờ, những chi tiết bất chợt khiến cho dòng

suy nghĩ không khô khan mà lung linh, biến hoá.

Nhà thơ hồi tưởng lại những kỉ niệm sâu sắc trong kháng chiến

với nhân dân Tây Bắc. Những kỉ niệm hiện lên như một cuộn

phim. Hình ảnh của nhân dân được nhà thơ gọi một cách thân

thiết, ruột rà. “Con nhớ anh con, người anh du kích”, “Con nhớ

em con, thằng em liên lạc”, “Con nhớ mế, lửa hồng soi tóc bạc”.

Qua mỗi chi tiết đầy xúc động, nhà thơ muốn nói với chúng ta

nhân dân Tây Bắc anh hùng mà tình nghĩa.

Rồi Chế Lan Viên dẫn đến triết lí. Hiện thực cũng chỉ là cái cớ để

cho nhà thơ triết lí:

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!”

Người đọc thán phục Chế Lan Viên vì đã phát hiện ra được quy

luật của tình cảm, của đời sống tâm hồn con người. Nhà thơ dẫn

dắt người đọc đến triết lí bằng nhạc và bằng hình:

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ”

Điệp từ “nhớ” vừa diễn tả sự da diết của tình cảm, vừa tăng

cường nhạc điệu cho câu thơ. Về hình hoạ, trong những câu thơ

trên, nhà thơ áp sát ống kính vào từng khuôn mặt thân thương,

ruột rà để biểu dương. Đến đây, nhà thơ lùi ống kính ra xa để thu

hình ảnh của núi rừng Tây Bắc với những “bản sương giăng”, với

những “đèo mây phủ”, hình ảnh huyền ảo của núi rừng Tây Bắc

mà cũng là hình ảnh sương khói của hoài niệm. Và nhà thơ nói

với lòng mình mà như tìm sự đồng cảm của mọi người:

“Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?”

Câu thơ của Chế Lan Viên gợi nhớ mấy câu thơ của Hồng

Nguyên:

“Chúng tôi đi

Mang cuộc đời lưu động

Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng

Đã nghĩ lại rất nhiều nhà dân chúng

Tôi nhớ bờ tre gió lộng

Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau”

(Nhớ)

Nhưng Chế Lan Viên không dẫn tới tự sự mà dẫn đến triết lí:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!”

Hai câu thơ được kết cấu theo lối đối (Khi ta ở - Khi ta đi) đã diễn

tả hai trạng thái của tâm hồn con người và những điệp từ, điệp

ngữ tạo âm hưởng cho ý thơ triết lí vốn dễ khô khan. Từ sự

chiêm nghiệm của chính mình, tác giả đã phát hiện một quy luật

về tình cảm có giá trị khái quát. Nhà thơ đã nói hộ cho chúng ta

về sự gắn bó giữa con người với quê hương xứ sở, với những

miền đất xa lạ mà chúng ta đã từng sống. Cái cụ thể là “đất” đã

hoá thành cái trừu tượng là “tâm hồn”. Hai câu thơ rất là Chế Lan

Viên!

Từ triết lí, nhà thơ bỗng chuyển sang diễn tả những rung động cụ

thể, riêng tư. Tứ thơ chuyển lạ, nhưng không gãy đổ vì vẫn liền

mạch tư duy:

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương.”

Khổ thơ như một rẽ ngoặt đường rừng bày ra cảnh quan mới lạ.

Nhưng rồi ta vẫn nhận ra giọng điệu của Chế Lan Viên. Vẫn là từ

xúc cảm, hình ảnh cụ thể dẫn đến những suy ngẫm triết luận. Lại

tô đậm thêm cảm xúc riêng tư nên câu thơ trở nên xôn xao. “Anh

bỗng nhớ em như đông về nhớ rét”, những so sánh rất lạ, lấp

lánh chất trí tuệ chứ không phải tình cảm thuần khiết. Xét đến

cùng thì cũng không phải là nỗi niềm riêng, dù nhà thơ có nói thật

tha thiết “Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng”; mà là “riêng

chung” nói như Xuân Diệu. Cái lấp lánh của màu sắc “cánh kiến

hoa vàng” như “chim rừng lông trở biếc” là cái lấp lánh của trí tuệ.

Tác giả như phát hiện ra mỗi quan hệ khăng khít của sự vật như

mùa đông với cái rét, như mùa xuân với “chim rừng lông trở

biếc”. Và cái da diết của nhạc điệu, của hình ảnh, của màu sắc để

sửa soạn cho một triết lí mới:

“Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương”

Mỗi người đều tự cảm nhận, thấm thía với triết lí. Và như thế là

tác giả đã đạt đến chiều sâu của chủ đề “Tiếng hát con tàu”.

Rồi nhà thơ lại giục giã lên đường xây dựng quê hương Tây Bắc.

Tất cả những hồi tưởng, những hoài niệm, những triết luận là để

nhằm đến việc thực hiện nhiệm vụ lịch sử này:

“Đất nước gọi hay lòng ta gọi?

Tình em đang mong tình mẹ đang chờ

Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội

Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga”

Xây dựng quê hương Tây Bắc cho “mẹ”, cho “em” thì còn ai là

không tha thiết, không nhiệt tình?

Riêng đối với nhà thơ thì Tây Bắc còn là nguồn cảm hứng, nguồn

sáng tạo, nguồn thơ, là giá trị tinh thần thiêng liêng nên cuộc “trở

về” có ý nghĩa biết bao!

“Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ

Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa

Nay trở về, ta lấy lại vàng ta.”

Tác giả kết thúc “Tiếng hát con tàu” bằng những ý tưởng lãng

mạn thật đẹp và tình yêu nồng nàn (rộng là tình yêu cuộc sống và

hẹp là yêu em):

“(…) Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân”

Chế Lan Viên khi tâm hồn đã đổi mới, nhà thơ nhạy cảm với

những nhiệm vụ của cách mạng. Khi đất nước có nhu cầu mở

mang Tây Bắc, Chế Lan Viên đã có thơ ứng chiến và đáng quý là

đã có thơ hay, vượt lên trên thơ minh hoạ tầm thường. Chất trí

tuệ mẫn tiệp vốn có của ông lại được bồi đắp thêm những tình

cảm mới mẻ, cách mạng khiến cho “Tiếng hát con tàu” có sức

hấp dẫn. Chỉ tiếc là một tài năng ngôn ngữ siêu phàm như ông

mà lại lạm dụng những từ có ý nghĩa thiêng liêng, như từ “mẹ”

chẳng hạn, khiến người đọc thoáng qua chút hoài nghi về cảm

xúc chân thật của nhà thơ. Một thời, biết bao học sinh, sinh viên,

trí thức đã mê thơ ông, say sưa với những phát hiện triết lí trong

thơ ông:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn.”

Có thể bạn quan tâm
Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
372/10 Điện Biên Phủ, Phường 17, Q.Bình Thạnh, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT
Lên đầu trang