Chia sẻ Download
Tài liệu Thành ngữ và tục ngữ trong thơ nôm Hồ Xuân Hương
/6 trang
Thành viên idoc2012

Thành ngữ và tục ngữ trong thơ nôm Hồ Xuân Hương

- 12 tháng trước
334
Báo lỗi

Thành ngữ và tục ngữ trong thơ nôm Hồ Xuân Hương Người ta thường bảo “Nôm na là cha mách qué”, thế nhưng với thơ Hồ Xuân Hương thì đó lại là một ngoại lệ, bởi vì người đọc nhớ Xuân Hương, yêu Xuân Hương lại chính từ cái sự “mách qué” ấy.

Nội dung
Microsoft Word - 26.doc

Thành ngữ và tục ngữ trong thơ nôm Hồ Xuân Hương

Người ta thường bảo “Nôm na là cha mách qué”, thế nhưng với thơ Hồ Xuân

Hương thì đó lại là một ngoại lệ, bởi vì người đọc nhớ Xuân Hương, yêu Xuân

Hương lại chính từ cái sự “mách qué” ấy. Nếu không có cái chất “nôm na”, “mách

qué”, “xỏ xiên” đầy tinh quái này thì có lẽ đã không có một Xuân Hương để cho

người đời chiêm ngưỡng và tôn vinh Bà thành Bà chúa thơ Nôm trong làng thơ

Việt Nam. Chính cái chất nôm na trong thơ của Bà đã tạo nên một chất men xúc

tác mãnh liệt trong lòng người đọc. Người ta ngây ngất, hỉ hả, khoái trá với cái thứ

ngôn ngữ “nhà quê, mách qué” như: đỏ lòm lom, già tom, mân mó, tấp tênh, lún

phún, le te, chín mõm mòm,... Tất cả những cái đó hoàn toàn xa lạ với sự trau

chuốt, gọt giũa, khuôn sáo mà người ta thường bắt gặp trong ngôn ngữ thơ. Ngoài

những đặc trưng ấy, người ta còn bắt gặp ở Bà một biệt tài nữa trong việc vận

dụng tiếng nói dân gian trong thơ. Đó là việc đưa thành ngữ, tục ngữ vào trong thơ,

làm cho câu thơ trở nên giàu tính hình tượng, dễ nhớ, và độc đáo hơn.

Qua sự khảo sát trong số 39 bài thơ trong tập Thơ Hồ Xuân Hương do tác giả

Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu được Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm

1987, chúng tôi đã phát hiện được 15 trường hợp có xuất hiện các yếu tố của thành

ngữ, tục ngữ trong những câu thơ. Đây quả là một con số không nhỏ, nó cho thấy

thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương có vị trí và vai trò đặc biệt

quan trọng như thế nào. Quả là hiếm có một nhà thơ nào lại quan tâm đặc biệt đến

vai trò của ngôn ngữ dân gian như Hồ Xuân Hương.

Việc đưa thành ngữ, tục ngữ vào tác phẩm đã được nhà thơ xử lí rất tinh tế, tài tình

và nhuần nhuyễn. Có những tác phẩm tuy rất ngắn nhưng chúng ta đã không khỏi

ngạc nhiên khi thấy tác giả đã hai lần sử dụng đến yếu tố thành ngữ, tục ngữ.

Chẳng hạn như: Bài Mời trầu có hai câu thành ngữ xanh như lá và bạc như vôi

được áp dụng trong câu thơ "Đừng xanh như lá, bạc như vôi". Bài Khóc Tổng Cóc

lại có hai câu thành ngữ khác là nòng nọc đứt đuôi và gọt gáy bôi vôi được áp

dụng trong hai câu thơ “Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, Nghìn vàng khôn chuộc

dấu bôi vôi”. Hoặc như ở bài Quan thị thì hai câu thơ "Đố ai biết đó vông hay trốc,

Còn kẻ nào hay cuống với đầu" lại chính là hai hình ảnh hết sức ví von được rút ra

từ hai câu tục ngữ[/i] ngồi lá vông, chổng mông lá trốc [/i]và đầu trỏ xuống, cuống

trỏ lên.

Thậm chí có bài như bài Làm lẽ, chỉ với tám câu thơ ngắn nhưng lại có tới ba câu

thành ngữ đã góp phần vào trong ấy, đó là "Năm thì mười hoạ chăng hay chớ" lấy

từ ý của câu thành ngữ năm thì mười hoạ; “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm" lấy từ ý

của câu thành ngữ cố đấm ăn xôi; và câu "Cầm bằng làm mướn, mướn không

công" lấy từ ý của thành ngữ làm mướn không công. Ngoài ra, còn có những bài

khác cũng được vận dụng từ ý của thành ngữ, tục ngữ như: "Tài tử văn nhân ai đó

tá?" (Tự tình I) lấy ý của thành ngữ tài tử giai nhân. "ấy ai thăm ván cam lòng vậy"

(Tự tình III) lấy ý thành ngữ thăm ván bán thuyền. "Bảy nổi ba chìm với nước

non" (Bánh trôi nước) ý của thành ngữ ba chìm bảy nổi (bảy nổi ba chìm). "Mỏi

gối chồn chân vẫn muốn trèo" (Đèo Ba Dội) ý của thành ngữ mỏi gối chồn chân.

"Bán lợi mua danh nào những kẻ" (Chơi chợ chùa Thầy) ý của thành ngữ bán lợi

mua danh (mua danh bán lợi). Và "Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi" (Con ốc nhồi) từ

ý của thành ngữ lăn lóc như cóc bôi vôi.

Qua một số dẫn chứng trên, chúng ta có thể thấy rằng Hồ Xuân Hương khi đưa

thành ngữ, tục ngữ vào thơ thường chủ yếu thông qua hai phương thức chính như

sau:

Phương thức thứ nhất là vận dụng trực tiếp thành ngữ, tục ngữ vào thơ, tức là lấy

nguyên văn, nguyên dạng những câu thành ngữ, tục ngữ vốn có của dân gian để

đưa vào thơ như trường hợp: xanh như lá, bạc như vôi (Đừng xanh như lá, bạc như

vôi - Mời trầu); nòng nọc đứt đuôi (Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé - Khóc Tổng

Cóc); năm thì mười hoạ, (Năm thì mười hoạ chăng hay chớ - Làm lẽ); cố đấm ăn

xôi (Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm - Làm lẽ); bảy nổi ba chìm (Bảy nổi ba chìm với

nước non - Bánh trôi nước); mỏi gối chồn chân (Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

- Đèo Ba Dội); bán lợi mua danh (Bán lợi mua danh nào những kẻ - Chơi chợ chùa

Thầy). Cách xử lí này phải nói là tương đối khó bởi vì nó đòi hỏi tác giả phải có

một khả năng cảm nhận hết sức tinh tế về nghĩa của những câu thành ngữ, tục ngữ

mà họ định sử dụng để xem nó có phù hợp với ý thơ mà mình định trình bày ở

trong câu và trong bài hay không. Đồng thời, tác giả cũng phải là người hết sức

giỏi về khả năng xử lí ngôn từ để có thể “ghép” những câu thành ngữ, tục ngữ, vốn

là một “khối từ ngữ đúc sẵn”, vào với những từ ngữ chủ quan riêng của mình để

tạo nên một câu thơ hoàn chỉnh mà không bị cứng nhắc, gượng ép về nghĩa cũng

như về vần điệu.

Những khó khăn nói trên đã được Hồ Xuân Hương xử lí thành công một cách

tuyệt vời. Chúng ta thử lấy một ví dụ nhỏ trong số các ví dụ trên thì sẽ thấy rõ hơn

biệt tài của Bà trong vấn đề này. Ví dụ trong bài Làm lẽ, để miêu tả thân phận hẩm

hiu, thua thiệt của người vợ lẽ trong cuộc sống vợ chồng, tác giả đã sử dụng hai

câu thành ngữ năm thì mười hoạ và cố đấm ăn xôi trong hai câu thơ "Năm thì

mười hoạ chăng hay chớ" và "Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm". Đối với tiềm thức văn

hoá của người Việt thì hai câu thành ngữ này vốn rất quen thuộc vì nó thường

được sử dụng để nói tới sự trái khoáy, trớ trêu của một điều gì đó. Vì vậy trong

trường hợp này phải nói rằng Xuân Hương đã sử dụng nó rất hợp cảnh hợp tình.

Phương thức thứ hai là chỉ lấy ý của thành ngữ, tục ngữ để chuyển vào trong thơ

chứ không áp dụng hoàn toàn như ở cách thứ nhất. Chẳng hạn như: thăm ván bán

thuyền (ấy ai thăm ván cam lòng vậy - Tự tình III); gọt gáy bôi vôi (Nghìn vàng

khôn chuộc dấu bôi vôi - Khóc Tổng Cóc); làm mướn không công (Cầm bằng làm

mướn, mướn không công - Làm lẽ); ngồi lá vông, chổng mông lá trốc (Đố ai biết

đó vông hay trốc - Quan thị); đầu trỏ xuống, cuống trỏ lên (Còn kẻ nào hay cuống

với đầu - Quan thị); lăn lóc như cóc bôi vôi (Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi - Con

ốc nhồi). Cách xử lí này thường tạo nên tính ẩn ý kín đáo cho câu thơ và đôi lúc

khiến cho câu thơ như có hơi hướng của những câu đố, ví dụ như trường hợp của

"Đố ai biết đó vông hay trốc" (Quan thị) hay như "Còn kẻ nào hay cuống với đầu"

(Quan thị). Những câu thơ được sáng tác theo kiểu này thường tạo cho người đọc

có những sự liên tưởng rộng hơn, thích thú hơn và đầy ấn tượng hơn bởi vì dấu ấn

thành ngữ, tục ngữ thường chỉ tồn tại phảng phất trong câu thơ chứ không hiện

hữu rõ ràng như ở cách thứ nhất. Do đó, muốn phát hiện ra trong câu thơ ấy tác giả

có sử dụng các môtip của thành ngữ, tục ngữ để diễn đạt nội dung hay không thì

người đọc phải có một vốn thành ngữ, tục ngữ nhất định để làm cơ sở quy chiếu so

sánh thì mới nhận ra được.

Qua một số ví dụ trên, chúng ta thấy rằng ngôn ngữ dân gian nói chung và thành

ngữ, tục ngữ nói riêng có một vai trò, giá trị rất lớn không chỉ trong đời sống ngôn

ngữ nói hằng ngày mà còn cả trong ngôn ngữ viết, đặc biệt là thơ. Những câu

thành ngữ, tục ngữ khi đi qua ngòi bút tài hoa của Hồ Xuân Hương dường như trở

thành một thứ công cụ hết sức đắc dụng trong việc tạo hình, tạo nghĩa cho thơ mà

không cần phải nhờ tới những thứ mĩ từ khác. Như chúng ta đã biết, thành ngữ, tục

ngữ vốn là những đơn vị ngôn ngữ hết sức đặc biệt. Nó là một loại tổ hợp từ cố

định quen dùng nên rất dễ nhớ dễ thuộc, và đặc biệt hơn là nghĩa của chúng

thường có tính văn hoá, giáo dục cộng đồng, cũng như tính khái quát rất cao. Cho

nên, khi xuất hiện trong thơ chúng thường đem lại tính gần gũi, bình dị và mộc

mạc cho câu thơ. Đồng thời, cũng tạo nên những chiều sâu về nghĩa thông qua sự

liên tưởng, suy luận của người đọc. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ

nhận giá trị của nền ngôn ngữ văn chương, hay ngôn ngữ phổ thông mà hiện nay

chúng tađang phải học, phải tiếp xúc hằng ngày. Điều quan trọng hơn là qua đó

giúp cho chúng ta thấy được những vẻ đẹp vốn có của ngôn ngữ dân gian. Và đặc

biệt là thấy được cái biệt tài của Bà chúa thơ Nôm trong việc vận dụng thành ngữ,

tục ngữ giỏi như thế nào. Nói tóm lại, bất kể là ngôn ngữ dân gian hay ngôn ngữ

văn chương cũng đều cần phải được tiếp thu có chọn lọc và phát huy đúng sở

trường thì mới có thể làm giàu thêm cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc. Điều đó có

nghĩa là mọi cái chỉ tạo nên được giá trị thực sự khi và chỉ khi nó được đặt vào

đúng vị trí của nó mà thôi./.

Có thể bạn quan tâm
Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT