Chia sẻ Download
Hệ thống đang nâng cấp. Tài liệu này chưa thể xem online
Thành viên idoc2012

Phương pháp dạy đạo đức cho học sinh tiểu học - Phần 2

- 12 tháng trước
434
Báo lỗi
Về kiến thức - Phân tích được vai trò quan trọng của giáo dục đạo đức, các con đường cơ bản để giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học. - Trình bày được các phương pháp cơ bản để giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học. - Xác định được những giá trị đạo đức cơ bản của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. - Mô tả được những đặc trưng cơ bản của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện nay. - Nêu và giải thích được tầm quan trọng và nhiệm vụ của việc phối hợp các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.
Nội dung
Microsoft Word - dd2_P2.doc

TIỂU MÔ ĐUN 1 ĐẠO ĐỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

Mục tiêu Học xong phần này, học viên cần đạt :

Về kiến thức - Phân tích được vai trò quan trọng của giáo dục đạo đức, các con đường cơ bản để giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

- Trình bày được các phương pháp cơ bản để giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

- Xác định được những giá trị đạo đức cơ bản của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Mô tả được những đặc trưng cơ bản của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện nay.

- Nêu và giải thích được tầm quan trọng và nhiệm vụ của việc phối hợp các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

Về kĩ năng - Lựa chọn, vận dụng hợp lí phương pháp, hình thức giáo dục vào giảng dạy, giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

- Biết phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh.

Về thái độ - Có tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh.

- Gương mẫu rèn luyện phẩm chất đạo đức, không ngừng tự hoàn thiện để trở thành tấm gương đạo đức trước học sinh.

GIỚI THIỆU TIỂU MÔĐUN

STT Tên chủ đề Số tiết Trang số 1 Đạo đức và giáo dục đạo đức ở tiểu học 11 2 Những giá trị đạo đức cơ bản của con người Việt

Nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 1

3 Những đặc điểm cơ bản của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện nay.

1

4 Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

2

TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ ĐỂ THỰC HIỆN TIỂU MÔĐUN 1. Tài liệu học tập và tham khảo

l Môđun : Đạo đức và phương pháp giáo dục đạo đức ở Tiểu học, xuất bản năm 2005.

l Luật Giáo dục, 2005.

l Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em.

l Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam.

l Một số văn kiện của Đảng và Nhà nước về văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học - công nghệ (Văn kiện Đại hội VIII, Nghị quyết 4 - BCHTW khóa VII, Nghị quyết 2 - BCHTW khóa VIII).

l GS.VS. Phạm Minh Hạc (Chủ biên). Phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá - Trích đề tài KHXH 04-04 (trang 105-107, 112-113, 158-160).

l Hà Nhật Thăng. Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức và nhân văn. NXB Giáo dục, 1998.

l Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh. NXB Chính trị Quốc gia, 2003 (Phần tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, tr.333 - 373)

2. Thiết bị, đồ dùng dạy học l Máy chiếu, bảng trong (nếu có).

l Đầu video, băng / đĩa hình.

l Giấy khổ to, A4.

l Bút dạ, băng dính, kéo, giấy màu, phiếu học tập.

CHỦ ĐỀ 1 (1 tiết) ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC Mục tiêu

Học xong phần này, học viên cần đạt : Về kiến thức

* Trình bày được :

- Nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò xã hội của đạo đức.

- Yêu cầu đạo đức trong một số lĩnh vực xã hội.

- Một số phẩm chất đạo đức của cá nhân cần được giáo dục cho học sinh hiện nay.

* Nêu được mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của giáo dục đạo đức ở tiểu học.

* Mô tả và giải thích được các con đường, các phương pháp cơ bản để giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

Về kĩ năng - Vận dụng nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức vào thực tiễn giáo dục và dạy học.

- Kết hợp các con đường giáo dục đạo đức vào thực tiễn giáo dục một cách có hiệu quả. Về thái độ

- Có ý thức thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đạo đức, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh.

- Có tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

- Có thái độ quyết tâm rèn luyện, tu dưỡng để trở thành tấm gương đạo đức cho học sinh noi theo.

Nội dung Trong chủ đề này, các bạn sẽ được tìm hiểu các nội dung cơ bản :

* Một số vấn đề về đạo đức

* Yêu cầu đạo đức trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay

* Một số phẩm chất đạo đức cá nhân

* Giáo dục đạo đức

1. Một số vấn đề cơ bản về đạo đức

1.1. Đạo đức và các thành tố cấu thành đạo đức

Hoạt động 1 TÌM HIỂU KHÁI NIỆM VÀ CẤU TRÚC ĐẠO ĐỨC Thời gian : 30 phút

Nhiệm vụ * Thảo luận về tình huống sau :

Một cụ già định qua đường, nhưng đường đông quá không qua được. Một em học sinh nhìn thấy thế, đã đưa cụ qua đường.

- Bạn hãy nhận xét hành vi của em bé đó. Căn cứ vào đâu để đánh giá hành vi của em bé ?

* Kết hợp nhận xét về hành vi trên với thông tin cơ bản dưới đây để trả lời các câu hỏi :

- Bạn hiểu đạo đức là gì ? Nêu các thành tố của đạo đức xã hội.

- Giữa đạo đức và hành vi đạo đức có mối quan hệ như thế nào ? Thông tin cơ bản

Đạo đức là cái “gốc” của mỗi con người, vì vậy, giáo dục đạo đức là việc làm quan trọng và cần thiết trong việc hình thành nhân cách toàn diện. “Có tài mà không có đức là người vô dụng ; có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” (Hồ Chí Minh).

Đạo đức là một bộ phận quan trọng trong các hình thái ý thức xã hội. Theo quan niệm Mác-xít : đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực của đời sống xã hội và hành vi của con người. Nó quy định những nghĩa vụ của người này với người khác, nghĩa vụ của con người đối với xã hội nguồn ?

Việc thực hiện các quy tắc, chuẩn mực đạo đức phản ánh các quan hệ, hành vi của cá nhân đối với cộng đồng, xã hội thông qua những lợi ích nhất định.

* Chuẩn mực đạo đức

- Chuẩn mực đạo đức là những phép tắc, mang tính quy phạm - tính khuôn mẫu trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội. Đó là những yêu cầu, được thể hiện bằng những tiêu chuẩn cụ thể, làm cơ sở cho việc đánh giá hành vi của con người.

Ví dụ : “Một lòng thờ mẹ, kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

(Ca dao)

* Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật

- Hệ thống chuẩn mực đạo đức gồm :

+ Chuẩn mực điều chỉnh hành vi có giá trị tích cực : phải làm và nên làm.

+ Chuẩn mực điều chỉnh hành vi có giá trị tiêu cực : không được làm, không nên làm.

+ Chuẩn mực điều chỉnh hành vi có giá trị trung hoà : có thể làm.

- Loại chuẩn mực đòi hỏi “phải làm” và “không được làm” là những yêu cầu tối thiểu trong định hướng, điều chỉnh hành vi của con người. Nó thuộc về chuẩn mực pháp lí, mang tính bắt buộc thực hiện. Vi phạm loại chuẩn mực này sẽ bị sự cưỡng chế thông qua bộ máy chuyên chính của Nhà nước.

Loại chuẩn mực đòi hỏi “nên làm” và “không nên làm” là chuẩn mực do dư luận xã hội và lương tâm điều chỉnh. Tức là, có sự thôi thúc từ bên trong - sự tự cưỡng chế tự nguyện, tự giác. “Nên làm”, được hiểu là “mong muốn làm”. “Không nên làm” được hiểu là “không mong muốn làm”. Đó là chuẩn mực đạo đức được thực hiện do nhu cầu, động cơ, tình cảm bên trong, do ý chí và lương tâm của con người.

Như vậy, tuy đạo đức và pháp luật đều là những quy phạm xã hội, nhưng pháp luật là đạo đức tối thiểu, các quy định của pháp luật là thể hiện ở mức tối thiểu nhất các yêu cầu đạo đức trong xã hội. Đạo đức là pháp luật tối đa, nó bao hàm các quy định của pháp luật. Thực hiện chuẩn mực đạo đức là một nhu cầu xã hội cao, đòi hỏi ở chủ thể tính tích cực, tự nguyện, không vụ lợi. Nếu không thực hiện, sẽ bị dư luận xã hội lên án, bị hổ thẹn và cắn rứt lương tâm. “Điều đáng sợ không phải là cái chết về thể xác, mà là cái chết về lương tâm khi thể xác còn sống...”. Đó chính là chức năng của toà án lương tâm trong mỗi con người. Trong xã hội ta hiện nay - xã hội công dân, thực hiện chuẩn mực pháp luật là một nghĩa vụ đạo đức lớn nhất của mỗi công dân với tinh thần : “Sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật”.

Trong Đạo đức học, quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức được coi là những thành tố cấu thành đạo đức xã hội.

Quan hệ đạo đức là một bộ phận hợp thành của những quan hệ xã hội, tạo thành một hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội. Nó xác định nội dung khách quan của những nhu cầu đạo đức.

Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc và chuẩn mực hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đang tồn tại. Trong đó xác định những ranh giới của hành vi con người và những giá trị đạo đức của nó. Trong ý thức đạo đức, ngoài những nội dung chuẩn mực còn bao hàm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức của con người.

Thực tiễn đạo đức là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức trong đời sống thực tiễn. Đó là sự hoạt động của con người trong các lĩnh vực xã hội khác nhau, những cộng đồng xã hội khác nhau dưới ảnh hưởng của những lí tưởng và niềm tin đạo đức.

1.2. Nguồn gốc, bản chất của đạo đức

Hoạt động 2. TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC,BẢN CHẤT CỦA ĐẠO ĐỨC Thời gian : 20 phút Nhiệm vụ

* Đọc thông tin cơ bản dưới đây và cùng trao đổi : Vì sao đạo đức là một phạm trù lịch sử ? Tìm ví dụ minh hoạ.

Thông tin cơ bản Đạo đức là một hiện tượng xã hội, xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu tiên khi xã hội loài người mới hình thành. Đạo đức ra đời, phát triển cùng quá trình biến đổi kinh tế - xã hội và sự tiến bộ về văn hoá vật chất, tinh thần của con người. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn gốc, bản chất của đạo đức. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có quan hệ với các hình thái ý thức xã hội khác, nảy sinh từ tồn tại xã hội, phát triển cùng sự biến đổi của tồn tại xã hội, của các điều kiện sinh hoạt vật chất, hoàn cảnh lịch sử - xã hội khác nhau. Nhưng, đạo đức khác với các hình thái ý thức xã hội khác ở chỗ nó điều chỉnh hoạt động của con người trong các mối quan hệ xã hội, giúp con người tự hoàn hiện nhân cách của mình.

Đạo đức là một phạm trù lịch sử. Khi điều kiện kinh tế - xã hội sinh ra nó thay đổi thì tất yếu các quan hệ xã hội và quan hệ đạo đức cũng thay đổi theo. Vừa với tư cách như một sự định hướng cho các quan hệ xã hội ; vừa với tư cách phản ánh quan hệ đạo đức của xã hội mới thì sớm hay muộn ý thức đạo đức cũng thay đổi. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Các giai cấp thống trị áp đặt hệ tư tưởng của mình, trong đó có ý thức đạo đức, nhằm bảo vệ địa vị, lợi ích của chúng. Những ý thức, tư tưởng đó luôn đối lập với ý chí, nguyện vọng, lẽ sống của giai cấp bị trị. Trong xã hội ta hiện nay, sự thống nhất giữa các chuẩn mực đạo đức và pháp luật là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.

Những quy tắc, chuẩn mực đạo đức được xã hội thừa nhận, đó là ý thức xã hội. Nó chi phối đời sống đạo đức của các cá nhân trong xã hội. Ý thức xã hội được cá nhân tiếp nhận chuyển hoá thành ý thức cá nhân, được cá thể hóa và thể hiện ra thông qua hành vi đạo đức, dưới những biểu hiện : xúc cảm, tình cảm, động cơ, ham muốn, niềm tin, hành động đạo đức,...

Đánh giá hoạt động 1, 2 Câu 1 : Điền vào ô � chữ Đ trước câu đúng, chữ S trước câu sai. � a) Đạo đức và tôn giáo là hai hiện tượng xã hội giống nhau về bản chất, vì đều nói

đến tính thiện và hướng thiện.

� b) Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực quy định nghĩa vụ của người này với người khác, với xã hội. � c) Đạo đức là sự lừa dối, bịa đặt vì bản chất của con người là cá nhân, con người sống vì cái tôi, chăm lo cho cái tôi của mình ; nhưng đạo đức lại đề cập tới bản chất xã hội, lợi ích xã hội và người khác. � d) Đạo đức là những quy ước có tính chủ quan của con người, là sự thoả hiệp đôi bên cùng có lợi, chẳng hạn : Có đi có lại mới toại lòng nhau. � đ) Đạo đức bắt nguồn từ tồn tại xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và biến đổi cùng sự phát triển của tồn tại xã hội. Do đó, không có hệ thống chuẩn mực đạo đức tuyệt đối cho mọi thời đại. � e) Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực được xã hội thừa nhận, nhờ đó con người nhận thức, kiểm tra và điều chỉnh được hành vi của mình.

Câu 2 : Bạn hãy vận dụng kiến thức trong thông tin trên và kinh nghiệm thực tiễn, giải thích, chứng minh luận điểm : “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.

Câu 3 : Có đồng nghiệp cho rằng : “Người tài tự khắc biết mình phải hành động như thế nào để trở thành người tốt”.

Xin cho biết quan điểm của bạn về ý kiến đó và giải thích tại sao.

1.3. Chức năng của đạo đức

Hoạt động 3. TÌM HIỂU CHỨC NĂNG CỦA ĐẠO ĐỨC Thời gian : 25 phút Nhiệm vụ

* Bạn hãy đọc và phân tích các chức năng trong thông tin cơ bản sau, mỗi chức năng cho một ví dụ.

* Phân biệt chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức và chức năng điều chỉnh hành vi của pháp luật.

Thông tin cơ bản Là một hình thái ý thức xã hội, hình thành và biến đổi trên cơ sở của sự phát triển tồn tại xã hội, đạo đức có các chức năng xã hội sau :

* Chức năng giáo dục : Con người muốn hành động theo lẽ phải, làm điều thiện, tránh điều ác thì phải hiểu biết, phải được tác động giáo dục về các quy tắc chuẩn mực đạo đức, giúp con người có cơ sở, có khả năng để lựa chọn, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi, qua đó việc thực hiện đúng chuẩn mực đạo đức. Mặt khác, những hành vi đúng chuẩn mực sẽ được xã hội ủng hộ tôn vinh. Điều đó có tác dụng giáo dục rất lớn với xã hội. Vì vậy, cổ nhân có câu : Rèn luyện đạo đức là cái thứ nhất, học văn hoá là cái thứ hai. Không làm được cái thứ nhất thì rất khó đạt được cái thứ hai.

* Chức năng điều chỉnh hành vi : Trên cơ sở các quy tắc, chuẩn mực đạo đức và sự tác động của dư luận xã hội, chủ thể đạo đức tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Thiếu sự điều chỉnh đó, con người không thể hoàn thiện nhân

cách, thậm chí phạm sai lầm, bị dư luận xã hội lên án. Yếu tố giúp con người tự điều chỉnh chính là sức mạnh của lương tâm. Con người khi không còn sự điều chỉnh của lương tâm sẽ trở thành ác thú hơn mọi ác thú.

* Chức năng kiểm tra đánh giá : Chủ thể đạo đức căn cứ vào quy tắc, chuẩn mực đạo đức đối chiếu việc thực hiện của bản thân với các quy tắc, chuẩn mực đó, tự đánh giá mức độ thực hiện của mình, qua đó tự điều chỉnh hành vi. Mặt khác, chuẩn mực đạo đức giúp mỗi người căn cứ vào đó nhận xét, đánh giá hành vi của người khác. Từ đó, biết cổ vũ, tôn vinh những hành vi hợp đạo đức ; lên án, loại trừ những hành vi trái đạo đức.

Đánh giá hoạt động 3 Câu 1 : Vì sao “con người khi không còn sự điều chỉnh của lương tâm sẽ trở thành ác thú hơn mọi ác thú” ?

Câu 2 : Khi gặp dư luận xã hội không ủng hộ cách ứng xử của mình, bạn sẽ làm gì? Vì sao ? Hãy đánh dấu x vào ô � trước cách ứng xử của bạn. � a) Bình tĩnh xem xét. � b) Tìm cách dập tắt. � c) Không quan tâm.

Thông tin phản hồi cho các hoạt động * Hoạt động 1

- Gợi ý phân tích tình huống đạo đức :

+ Em học sinh đó đã thực hiện một hành vi hợp đạo lí : “Kính trọng người già”.

+ Căn cứ vào chuẩn mực đạo đức được xã hội thừa nhận để khẳng định điều đó.

- Mối quan hệ giữa đạo đức và hành vi đạo đức :

+ Các quy tắc, chuẩn mực đạo đức là cơ sở cho nhận thức và rèn luyện hành vi đạo đức. Vì vậy, để hình thành ý thức và hành vi đạo đức, việc giáo dục đạo đức có vai trò rất quan trọng. Vì thế, Hồ Chủ tịch đã khẳng định :

“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

+ Hành vi đạo đức là quá trình biến ý thức đạo đức thành mục đích, động cơ, thái độ, hành vi đạo đức. Đó là kết quả của nhận thức đạo đức, là thực tiễn đạo đức. Thực tiễn đó là cơ sở cho sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển quy tắc, chuẩn mực đạo đức.

* Hoạt động 2 - Đạo đức là một phạm trù lịch sử vì :

+ Nó bắt nguồn từ tồn tại xã hội, bị quy định bởi tồn tại xã hội.

+ Xã hội không ngừng vận động, phát triển. Điều kiện kinh tế - xã hội không ngừng thay đổi. Do đó các quan niệm, quan điểm về đạo đức cũng không phải là cái gì nhất thành bất biến. Không có chuẩn mực đạo đức chung cho mọi thời đại lịch sử. Sự hình thành các giá trị đạo đức mang tính kế thừa và phát triển.

Ví dụ : Xã hội phong kiến đưa ra chuẩn mực đối với phụ nữ : “Tam tòng, tứ đức”.

Nghĩa vụ “tam tòng” không còn phù hợp với chuẩn mực đạo đức “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” của người phụ nữ mới và sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ hiện nay ; nhưng “tứ đức” được kế thừa, phát triển và là một tiêu chuẩn quan trọng của người phụ nữ mới.

- Gợi ý trả lời câu hỏi đánh giá

Câu 1

a. S b. Đ c. S d. S đ. Đ e. Đ

Câu 2

- Đức, tài là hai mặt cốt yếu trong một nhân cách toàn diện.

- Đức là cái gốc trong một con người, là tính thứ nhất. Nếu không có đức, một người có tài năng cũng có thể trở thành một kẻ phá hoại, không giúp ích gì cho bản thân, gia đình và xã hội.

- Có đức mà không có tài, sẽ tiến hành mọi công việc khó khăn, thậm chí luôn gặt hái thất bại.

Do đó, cần phải tu dưỡng đạo đức đi đôi với rèn luyện tài năng - một trong những yêu cầu cơ bản của rèn luyện nhân cách toàn diện hiện nay.

Câu 3

Phẩm chất đạo đức của con người không tự có, không do có tài mà thành, mà phải trải qua học tập, rèn luyện mới có - giống như “Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (Hồ Chí Minh).

* Hoạt động 3 - Đạo đức và pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh hành vi, hướng con người tới điều thiện, chính nghĩa và giá trị sống tốt đẹp. Nhưng biện pháp thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp luật khác nhau :

+ Đạo đức : điều chỉnh bằng sức mạnh của dư luận xã hội, phong tục tập quán, sự tự nguyện tự giác của chủ thể.

+ Pháp luật : Điều chỉnh bằng sức mạnh cưỡng chế của bộ máy chuyên chính, đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí. Nhà nước sẽ áp dụng hình phạt nếu vi phạm pháp luật.

- Sau khi phân tích, tìm ví dụ cho các chức năng của đạo đức, trao đổi kết quả thảo luận giữa các nhóm, sau đó thống nhất ý kiến.

- Gợi ý trả lời câu hỏi đánh giá

Câu 1

“Con người khi không còn sự điều chỉnh của lương tâm sẽ trở thành ác thú hơn mọi ác thú” vì :

+ Lương tâm là một phạm trù cơ bản của Đạo đức học. Toà án lương tâm là toà án đạo đức, toà án cao nhất, thể hiện lí trí của mỗi người. Nó làm chức năng

điều chỉnh hành vi của con người.

+ Khi lương tâm không còn điều chỉnh hành vi của con người, thì con người cũng hoàn toàn mất lí trí, hành động theo bản năng, không đủ sáng suốt để chế ngự hành động của mình, thậm chí phạm sai lầm nghiêm trọng, như tiêu diệt cả đồng loại của mình.

+ Triết lí trên đã chỉ ra cho chúng ta một điều quan trọng : Luôn phải giữ cho lương tâm mình trong sạch và dùng nó để đấu tranh với con người thứ hai, con người “đen tối” trong bản thân mình.

Câu 2 : Đáp án (a).

Nên chọn đáp án này, vì như vậy bạn sẽ biết được vì sao dư luận không ủng hộ cách ứng xử của mình và tự điều chỉnh hành vi nếu dư luận đó đúng.

2. Yêu cầu đạo đức trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay

Trong phần này, bạn sẽ được tìm hiểu yêu cầu đạo đức trong một số lĩnh vực : giao tiếp, quan hệ gia đình, lao động, học tập.

2.1. Một số yêu cầu đạo đức trong lĩnh vực giao tiếp. Hoạt động 1. TÌM HIỂU YÊU CẦU ĐẠO ĐỨCTRONG LĨNH VỰC GIAO TIẾP Thời gian : 30 phút Nhiệm vụ

* Đọc thông tin cơ bản của hoạt động này, sau đó trả lời câu hỏi : Bạn hiểu thế nào là giao tiếp ? Khi thực hiện hành vi giao tiếp cần chú ý đến những yêu cầu gì ? * Thảo luận nhóm xây dựng lời thoại, sau đó đóng vai để thể hiện hành vi giao tiếp trong các tình huống :

- Một cuộc trao đổi thông tin giữa giáo viên chủ nhiệm và Chi hội trưởng phụ huynh về tình hình của lớp mình.

- Một cuộc trao đổi công việc giữa giáo viên và hiệu trưởng. - Một cuộc trao đổi giữa giáo viên chủ nhiệm với lớp trưởng về tình hình của lớp.

* Cùng trao đổi, nhận xét về hành vi giao tiếp thông qua đóng vai trong các tình huống trên (tập trung vào cách ứng xử và phong cách giao tiếp).

* Qua hoạt động trên, cùng rút ra những yêu cầu đạo đức cơ bản trong giao tiếp để thực hiện hành vi giao tiếp văn minh và hiệu quả.

Thông tin cơ bản Giao tiếp là hoạt động có mục đích giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể nhằm trao đổi thông tin qua phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Hoạt động giao tiếp là nhu cầu khách quan, tất yếu của con người trong đời sống xã hội.

Giao tiếp có vai trò quan trọng : là phương tiện để thực hiện nhu cầu, mục đích trong các mối quan hệ xã hội. Thực tế đã chứng minh một lời nói, cử chỉ, có thể mang lại danh dự, tiền bạc, uy thế hoặc cũng có thể làm mất tất cả. Các nhà kinh doanh, ngoại giao... cho rằng kết quả giao dịch phụ thuộc một phần quan trọng vào kĩ năng giao tiếp, đặc biệt là phương pháp tiếp cận.

Nội dung giao tiếp được thể hiện qua hai khía cạnh :

- Ngôn ngữ giao tiếp : Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là phương tiện để biểu đạt nhu cầu, mong muốn và trao đổi thông tin. Vốn ngôn ngữ và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ được tích luỹ trong quá trình tự thân rèn luyện, học hỏi hằng ngày.

- Phong cách giao tiếp : Phong cách giao tiếp được bộc lộ qua ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, trang phục, thái độ,... Là sự tổng hoà các yếu tố đó, phong cách giao tiếp thể hiện trình độ văn hoá, học vấn, trí tuệ, bản lĩnh, kinh nghiệm sống của mỗi người. Khi giao tiếp, đầu tóc, trang phục luộm thuộm là thiếu tôn trọng người khác ; nét mặt, cử chỉ cau có sẽ làm người khác khó chịu ; ánh mắt, nét mặt thiếu đàng hoàng, sẽ làm cho người khác phải cảnh giác ; thái độ thiếu tự tin sẽ đứng trước nguy cơ bị đối phương coi thường, thậm chí có thể bị tấn công, uy hiếp làm cho việc thực hiện mục đích giao tiếp gặp khó khăn hoặc rơi vào thế bất lợi. Đặc biệt, trong giao tiếp sư phạm, nếu không tạo được sự giao hoà, cảm mến, niềm tin của học sinh thì giáo viên sẽ gặp nhiều khó khăn khi tiến hành hoạt động giáo dục và dạy học, thậm chí kết quả ngược lại mong muốn. Điều quan trọng trước hết trong giao tiếp sư phạm là phải tôn trọng nhân cách của học sinh và luôn giữ tác phong mô phạm.

Trong giao tiếp, để phù hợp với chuẩn mực đạo đức hiện nay, cần thực hiện các yêu cầu sau :

- Chủ động trong giao tiếp : Trước khi giao tiếp phải có sự chuẩn bị chu đáo về nội dung, cách đặt vấn đề, dự kiến các tình huống có thể xảy ra để thể hiện sự chu đáo, tự tin, tôn trọng đối tượng giao tiếp. Nếu gặp tình huống bất ngờ cần bình tĩnh và linh hoạt tìm cách ứng xử phù hợp.

- Động cơ giao tiếp phải trong sáng : Xuất phát từ lòng nhân ái, biết người biết mình, bình đẳng, công bằng, khách quan.

- Tôn trọng đối tượng giao tiếp và tự trọng đối với danh dự của mình.

- Tế nhị, có hành vi văn minh

+ Biết cảm ơn, xin lỗi và đáp từ khi đạt được mục đích giao tiếp một cách đúng lúc, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.

+ Luôn đặt mình vào vị trí của đối tượng giao tiếp để hiểu và cảm thông với họ.

+ Khiêm tốn, biết khen chê đúng mức.

+ Lời nói gãy gọn, rành mạch, rõ nghĩa và âm lượng đủ nghe.

+ Biết lắng nghe ý kiến của người khác. “Người ta chỉ mất có hai năm để học nói, nhưng phải mất sáu mươi năm để học cách im lặng”.

+ Biết làm cho người khác hài lòng một cách có văn hoá.

- Phong cách giao tiếp

+ Không bày tỏ thái độ quá thái.

+ Tư thế, tác phong đàng hoàng, tự tin.

+ Trang phục lịch sự. Đánh giá hoạt động 1

Câu 1

a) Vận dụng hiểu biết của mình, giải thích câu ca dao sau :

“Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

(Ca dao) b) Việc thực hiện lời khuyên của nhân gian đó đối với bạn cần thiết như thế nào ? Vì sao ? (Đánh dấu x vào ô � trước ý bạn tán thành) � Rất cần thiết. � Cần thiết. � Không cần thiết. Câu 2

Trong một giờ học ở một lớp tại trường tiểu học N, cả trường đang im phăng phắc, bỗng nghe tiếng quát của một giáo viên : “ Sao ngu thế, nói mãi mà vẫn làm sai !”

Bạn hãy cho biết suy nghĩ của mình trước hành vi trên (yêu cầu giải thích). Nếu biết đồng nghiệp của bạn có lần ứng xử như vậy trước học sinh, bạn sẽ làm gì ?

2.2. Một số yêu cầu đạo đức trong quan hệ gia đình Hoạt động 2. XÁC ĐỊNH MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẠO ĐỨC TRONG QUAN HỆ GIA ĐÌNH HIỆN NAY Thời gian : 30 phút Nhiệm vụ

* Đọc thông tin cơ bản của hoạt động 2, sau đó trao đổi nhóm :

- Chỉ ra các mối quan hệ trong gia đình.

- Trong các mối quan hệ gia đình, mỗi thành viên cần phải cư xử với nhau như thế nào cho hợp đạo lí ?

* Cùng tham gia : Mỗi người đưa ra một câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, danh ngôn,... về quan hệ gia đình. Sau đó chọn những câu có tính chất “ý đẹp, lời hay” và cùng giải thích ý nghĩa của các triết lí sống đó.

* Đóng vai : Thể hiện cách ứng xử của các thành viên trong gia đình khi ông bà, cha mẹ ốm mệt (gia đình có ba thế hệ), sau đó nhận xét cách ứng xử giữa các nhóm.

Thông tin cơ bản Gia đình là tế bào của xã hội, gồm tập hợp người cùng chung sống, được hình thành bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống. Các thành viên trong gia đình quan hệ với nhau bởi quyền và nghĩa vụ về tài sản, nhân thân, và sự cộng đồng về đạo đức.

Không có gia đình, không có xã hội. Bởi vậy, gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội :

- Gia đình là : Tổ chức xã hội đầu tiên của con người, mà ở đó con người sinh ra và lớn lên, đồng thời là môi trường giao tiếp đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách đối với mỗi người.

- Nơi bảo tồn, chuyển giao các giá trị văn hoá truyền thống, là thành trì chống lại các tệ nạn xã hội.

- Trường học đầu tiên và suốt đời của con người. “Ý nghĩa cơ bản và mục đích của cuộc sống gia đình - đó là giáo dục con cái”. “Gia đình cùng với những mối quan hệ giữa con cái và bố mẹ là trường học đầu tiên giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất. Bố và mẹ, các

anh chị, ông và bà là những người giáo dục đầu tiên của trẻ ở lứa tuổi trước khi đến trường và họ vẫn là những người tiếp tục giáo dục khi con cháu họ đã đi học” (V.A.Xu-khôm-lin- xki).

- Nơi gắn bó, liên kết các thành viên thường xuyên, lâu dài và bền vững ; là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho cá nhân. Chính bởi vậy, “tình yêu gia đình - đó là tình cảm phổ biến nhất và bền vững nhất,... với ý nghĩa là nhân tố có ảnh hưởng tới cuộc sống của con người, nó là tình cảm quan trọng nhất và tốt đẹp nhất trong tất cả tình cảm tốt đẹp của con người”. (H.G.Tréc-nư-sép-xki).

Với vai trò xã hội trên, gia đình có các chức năng cơ bản sau :

- Tái sản xuất con người, duy trì sự trường tồn của dòng họ và tái sản xuất sức lao động cho xã hội.

- Làm kinh tế và tổ chức tốt cuộc sống gia đình về mọi mặt.

- Giáo dục, nuôi dưỡng con người cho xã hội.

Như vậy, “gia đình là một sự nghiệp to lớn và đầy trách nhiệm, bố mẹ lãnh đạo sự nghiệp đó và chịu trách nhiệm về nó trước xã hội, trước hạnh phúc của mình và cuộc sống của con cái”. Gia đình là nền tảng của xã hội, muốn có một xã hội văn minh, hạnh phúc, trước hết phải làm cho mỗi gia đình hạnh phúc, văn minh.

Các mối quan hệ cơ bản trong gia đình là :

- Quan hệ vợ - chồng

- Quan hệ cha mẹ và con cái

- Quan hệ anh chị em

- Quan hệ dòng họ

Cách cư xử giữa các thành viên trong quan hệ gia đình cho hợp đạo lí làm người chính là yêu cầu đạo đức quan trọng, vì đó là tiền đề để duy trì sự tồn tại của gia đình ; giáo dục và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ ; góp phần giáo dục, phát triển nhân cách toàn diện cho con người .

- Trong quan hệ vợ chồng : Trên cơ sở hôn nhân tiến bộ, quan hệ vợ chồng là nền tảng quyết định các quan hệ khác trong đời sống gia đình. Do đó, trong quan hệ vợ chồng cần bảo đảm các yêu cầu sau :

+ Phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính, niềm tin và sự thuỷ chung từ cả hai phía. Sự thuỷ chung là điều kiện tiên quyết để làm cho gia đình trở thành thành trì chống lại sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội, của đại dịch HIV/AIDS.

+ Có quan hệ bình đẳng - hợp tác, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng lưu giữ, phát triển và chuyển giao truyền thống văn hoá của gia đình cho thế hệ sau.

+ Hoà thuận, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. “Thuận vợ thuận chồng, tát biển đông cũng cạn” (Tục ngữ), làm cho gia đình thực sự là nơi gắn bó, liên kết các thành viên thường xuyên, lâu dài và bền vững, thực sự là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho các thành viên.

+ Biết nhường nhịn nhau, tế nhị trong cư xử :

“Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi bớt lửa có đời nào khê” (Ca dao)

+ Thống nhất trong tổ chức, quản lí thực hiện các chức năng của gia đình và chi tiêu, sử dụng tài sản.

+ Thống nhất trong sự quan tâm, phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc, giáo dục con cái.

- Quan hệ cha mẹ và con cái

+ Cha mẹ phải rất mực thương yêu, chăm lo giáo dục các con trở thành công dân tốt cho xã hội. Yêu cầu này đòi hỏi các bậc cha mẹ :

l Phải là tấm gương đạo đức trước con cái.

l Biết giáo dục con theo khoa học và nghiêm khắc

“Uốn cây từ thuở còn non Dạy con từ thuở con còn bé thơ”.

(Ca dao) l Biết tôn trọng quyền và bổn phận của con cái.

l Đối xử công bằng giữa các con, giữa con trai và con gái.

l Nhân từ, độ lượng đối với con.

+ Ngược lại, con cái phải làm tròn bổn phận với cha mẹ

l Kính trọng, hiếu thảo với cha mẹ.

l Vâng lời cha mẹ.

l Ân cần quan tâm, chăm sóc cha mẹ.

l Biết giữ gìn nền nếp, gia phong.

l Không làm những điều trái đạo lí, pháp luật để cha mẹ đau lòng, phấn đấu trở thành niềm tự hào của ông bà, cha mẹ.

- Quan hệ anh chị em : Anh chị em “máu chảy ruột mềm”, phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Anh chị phải biết nhường nhịn, nêu gương tốt cho em. Làm em phải biết tôn trọng và vâng lời anh chị.

- Quan hệ dòng họ : Đoàn kết, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bảo ban nhau giữ gìn truyền thống của dòng họ. Không làm điều phi luân thường đạo lí, trái pháp luật để ảnh hưởng đến danh gia. Đoàn kết và hoà nhập cộng đồng - đó là truyền thống đạo đức quý báu của dân tộc ta đã bao đời nay.

Đánh giá hoạt động 2 Câu 1 : Hãy nối các câu tục ngữ, thành ngữ ca dao với các mối quan hệ gia đình cho phù hợp :

1. Quan hệ vợ chồng. a. Chị ngã em nâng. 2. Quan hệ cha mẹ, con cái. b. Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào. 3. Quan hệ anh, chị em. c. Giọt máu đào hơn ao nước lã. 4. Quan hệ dòng họ. d. Chồng em áo rách em thương

Chồng người áo gấm xông hương mặc người. e. Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Câu 2

Bằng hiểu biết của mình, bạn hãy giải thích và chứng minh câu nói của N.I.Nô-vi-cốp : “Không gì có thể tác động lên tâm hồn non nớt của trẻ mạnh hơn quyền lực của sự làm gương, còn giữa muôn vàn tấm gương thì không có gì sâu sắc và bền chặt bằng sự mẫu mực của bố mẹ”.

Câu 3

a) Theo bạn, điều gì sẽ xảy ra trong tình huống sau ?

Một người mẹ trẻ thường cho con tiền để con tự đi ăn sáng hằng ngày. Cậu bé đã không ăn sáng và dùng tiền đó để chơi điện tử nhưng mẹ nó không biết.

b) Giả sử đó là học sinh lớp bạn chủ nhiệm, bạn sẽ tác động đến phụ huynh học sinh như thế nào ?

2.3. Một số yêu cầu đạo đức trong lao động Hoạt động 3. XÁC ĐỊNH CÁC YÊU CẦU ĐẠO ĐỨC CƠ BẢNTRONG LAO ĐỘNG Thời gian : 30 phút Nhiệm vụ

* Thảo luận nhóm theo các câu hỏi sau :

- Kể lại một số tấm gương về tinh thần lao động mà bạn biết. Bạn học được điều gì trong câu chuyện đó ?

- Giải thích câu nói của Hồ Chủ tịch : “Lao động là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Từ đó, rút ra vai trò của lao động đối với cuộc sống của con người.

- Cần có thái độ, tinh thần lao động như thế nào để đạt hiệu quả cao trong lao động ?

- Hãy tìm một số câu danh ngôn về lao động và giải thích ý nghĩa của các câu danh ngôn đó.

* Đọc thông tin sau để thực hiện nhiệm vụ trên. Thông tin cơ bản

Lao động là hoạt động đặc trưng của con người, là nguồn gốc đầu tiên của các giá trị vật chất, tinh thần, của tiến bộ xã hội, là cơ sở làm nảy sinh các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ đạo đức.

- Lao động là cơ sở hình thành các mối quan hệ xã hội : Trước hết là quan hệ sản xuất, cùng với quan hệ sản xuất là các quan hệ chính trị, pháp luật, đạo đức, khoa học, nghệ thuật..., do đó hình thành quan hệ xã hội.

- Trong lao động và cùng với lao động, ngôn ngữ xuất hiện.

- Lao động là nhu cầu khách quan, là cơ sở tồn tại của xã hội.

- Lao động là cơ sở của phát triển và tiến bộ xã hội.

- Lao động là động lực của sáng tạo các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể.

Tóm lại, lao động là vinh quang. “Nếu nhân loại ngừng lao động sản xuất trong một tuần thôi, chứ chưa nói một tháng hay một năm, thì loài người sẽ chết đói” (V.I.Lê-nin). “Khi lao động trở thành điều kiện không thể thiếu được của cuộc đời, nó mau chóng biến thành danh dự và nền tảng đạo đức của xã hội”. Bởi vậy, Hồ Chủ tịch dạy : “Lao động là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”.

Với vai trò quan trọng trên, ngày nay, người lao động mới cần rèn luyện thái độ, đạo đức trong lao động theo các yêu cầu cơ bản :

- Cần cù, sáng tạo, có ý chí vượt khó trong lao động.

- Có tinh thần kỉ luật, tự giác, tích cực, sáng tạo trong lao động.

- Phấn đấu đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả, hiệu suất cao.

- Biết cạnh tranh lành mạnh để tạo động lực vươn lên.

(Cạnh tranh lành mạnh : Có biện pháp, giải pháp mang lại lợi ích cho mình một cách chính đáng theo pháp luật ; đồng thời, không làm phương hại đến danh dự, lợi ích của cá nhân, đơn vị kinh tế, tổ chức kinh doanh, cơ quan khác và bảo vệ môi trường tự nhiên, xã hội).

- Có tinh thần hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, tinh thần cộng đồng trách nhiệm. Biết đặt lợi ích của mình trong lợi ích chung của tập thể, xã hội.

- Coi trọng lao động trí óc và lao động chân tay, coi trọng mọi ngành nghề.

- Khiêm tốn học tập nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ và tiến bộ không ngừng.

- Quý trọng người lao động và thành quả lao động của xã hội.

- Có tinh thần tiết kiệm, thái độ kiên quyết chống thói trây lười, dựa dẫm, tệ tham ô, lãng phí, tư tưởng “nước chảy bèo trôi” trong lao động.

Đánh giá hoạt động 3 Câu 1 : Điền dấu x vào ô � trước ý kiến đề cao vai trò của lao động. � a) “Toàn bộ lịch sử không phải là cái gì khác, mà chính là sự hình thành con người

bằng lao động của con người” (C. Mác).

� b) Ai ơi chớ lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.

(Tục ngữ) � c) “Tiêu diệt những kẻ ăn bám và đề cao lao động, đó là xu hướng thường xuyên của lịch sử” (N. Đô-brô-lui-bốp).

� d) “Dấu hiệu đầu tiên của cuộc sống lành mạnh là lao động” (A. Bô-gô-mô-lét). � đ) Ăn thì ăn những miếng ngon Làm thì chọn việc cỏn con mà làm.

(Tục ngữ) � e) “Lao động bao giờ cũng là cơ sở cho cuộc sống con người và cho văn hoá”

(A.Ma-ca-ren-cô).

� g) “Ai lao động nhiều, người đó sẽ hạnh phúc” (L.D.Vanh-xi). Câu 2 : Cho biết ý kiến của bạn trước quan điểm : Không có nghề nào sang, hèn. Mọi công việc lao động đều vinh dự như nhau, đều có ích cho xã hội.

� a) Đồng ý. � b) Lưỡng lự. � c) Không đồng ý. Câu 3 : Giả sử trong tập thể sư phạm của mình, có đồng nghiệp của bạn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, “nước chảy bèo trôi”, bạn có thể nói gì với người đó để tập thể sẽ tốt hơn ?

2.4. Một số yêu cầu đạo đức trong học tập Hoạt động 4. XÁC ĐỊNH VÀ PHÂN TÍCH YÊU CẦU ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN TRONG HỌC TẬP Thời gian : 30 phút. Nhiệm vụ

* Bạn hãy đọc thông tin cơ bản dưới đây và trả lời câu hỏi :

- Việc học tập có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với cuộc sống hiện nay của mỗi chúng ta ?

- Thế nào là động cơ học tập đúng đắn và vì sao phải có động cơ học tập đúng đắn ?

* Làm việc trên phiếu học tập cá nhân : Điền dấu x vào ô � trước ý kiến bạn cho là đúng : Để học tập đạt kết quả tốt, cần có thái độ học tập :

� a) Có động cơ học tập đúng đắn. � b) Học đi đôi với hành. � c) Chỉ học những điều mình cần trước mắt. � d) Có tinh thần kiên trì, bền bỉ khắc phục khó khăn trong học tập. � đ) Có tình đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ. � e) Điều mình biết, không nên dạy cho người khác. � g) Khiêm tốn học hỏi lẫn nhau : “Học thầy không tày học bạn”. � h) Chỉ cần có tấm bằng là yên tâm hành nghề suốt đời. � i) Trung thực, có ý thức tự lực vươn lên trong học tập : “Người học trò mà không

định vượt thầy thì thật đáng thương” (Lê-ô-na). � k) Có tấm lòng “Tôn sư trọng đạo”, vì “Không thầy đố mày làm nên”. � l) Có đầu óc thiên tài, thì không cần phải học. � m) Có tinh thần say mê, sáng tạo trong học tập. Thực sự coi đó là nhu cầu hạnh phúc. � n) Có phương pháp học để tự học suốt đời : “Thật vô cùng may mắn cho ai học được

cách học” (Mê-an-đrơ). Thông tin cơ bản

Học tập là nhu cầu khách quan của xã hội và con người, đồng thời là yêu cầu của xã hội đối với mỗi người. Người xưa đã dạy : “Nhân bất học bất tri lí” (Người không học không biết đạo lí), “Hiếu nhân, bất hiếu học kỉ giả ngu” (Những người muốn làm điều

nhân đức, trí thiện nhưng không học sẽ bị cái ngu che lấp mất đi).

Hiếu học là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, có rất nhiều tấm gương tự học thành tài : Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Lương Thế Vinh, Hồ Chủ tịch,...

Thời đại hiện nay khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão. Xã hội của thế kỉ XXI sẽ là xã hội học tập. Nhân loại đang chuyển dần lên “nền kinh tế tri thức” : tri thức đã trở thành nhân tố quyết định nhất sức cạnh tranh của mỗi đơn vị, doanh nghiệp, quốc gia trên trường quốc tế. Để làm chủ tri thức và sáng tạo tri thức mới, duy nhất chỉ một con đường : Học tập liên tục, suốt đời. Vì vậy Hiến pháp nước ta ghi : “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân” (Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, điều 59).

Việc học tập có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bằng con đường học tập, con người có vốn tri thức và văn hoá để tồn tại, phát triển. Điều đó đã được khẳng định trong bốn trụ cột của giáo dục mà UNESCO đưa ra.

- Học để biết : Học tập vừa là phương tiện, vừa là mục đích :

+ Học tập là phương tiện mà nhờ đó con người hiểu được bản thân, môi trường sống, phát triển nghề nghiệp, kĩ năng giao tiếp,...

+ Học tập là mục đích để có kiến thức, khả năng, kĩ năng sáng tạo, vươn tới làm chủ tương lai.

- Học để làm : Gắn học với hành. Học để có nghề nghiệp, việc làm và khả năng thích ứng trong cuộc sống đầy biến động.

- Học để cùng chung sống trong thời đại hội nhập, phát triển và qua đó cùng học cách sống của nhau, tôn trọng nhau, biết hành động vì mục đích chung và chung sống hoà bình.

- Học để tự khẳng định mình : Học để có tri thức, phát triển cá nhân, tư duy độc lập, năng động, sáng tạo và thăng tiến. “Học vấn là cái kho, lao động là chìa khoá mở cái kho ấy” (P.Bu-a-xtơ).

Dựa trên các trụ cột đó, con người thường xuyên học tập suốt đời. Có như vậy mới phát triển, trở thành người có ích cho gia đình, xã hội. Bởi vậy, trong việc giáo dục “phải dành vị trí rộng lớn nhất cho quá trình tự bồi dưỡng... Chỉ có qua con đường tự học, loài người mới có thể phát triển mạnh mẽ lên được”. Còn trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo con người, “hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Muốn biến con người thành sức mạnh của quốc gia - nội lực quan trọng của xây dựng, phát triển đất nước, các nhà sư phạm cần dạy cho người học phương pháp tự học suốt đời. Cuộc sống là trường đại học tổng hợp, “học trong trường đời là điều bắt buộc, không một ai tránh khỏi “ (G.Vút-be- ri). Do đó “chừng nào còn sống thì anh hãy học đi. Đừng chờ tuổi già mang lại sự thông thái” (A. Xô-lông).

Chính vì vậy, để đạt kết quả học tập tốt, trước hết cần xác định động cơ học tập đúng đắn, vì động cơ học tập là sự định hướng thực hiện mục đích : Học cho ai, học để làm gì ? Chỉ có thể đạt kết quả học tập tốt khi có mục đích học tập rõ ràng, đúng đắn và hiểu được học tập là nhu cầu, là điều kiện để vươn tới làm chủ cuộc sống và hạnh phúc của chính bản thân mình, của gia đình mình và vươn tới xây dựng một xã hội tốt đẹp. Học tập là sự tự thân vận động suốt đời : “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” (Tục ngữ).

Động cơ học tập đúng đắn là xác định được học để có hiểu biết, để làm việc hữu ích cho mình và xã hội ; để có vị trí, có quyết tâm lập nghiệp cao ; biết làm giàu chính đáng cho mình, gia đình, xã hội ; biết cư xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật ; biết mang lại hạnh phúc cho bản thân, gia đình, cộng đồng.

Cùng với xác định động cơ học tập, để đạt kết quả học tập tốt, cần phải xác định thái độ học tập đúng, ý chí quyết tâm cao để thực hiện mục đích học tập.

Đánh giá hoạt động 4 Câu 1 : Bạn hãy giải thích câu nói : “Dạy tức là học hai lần” (G.Giu-be).

Câu 2 : Giả sử biết đồng nghiệp học cùng lớp với mình không làm được bài khó, nên đã chép bài của người khác, bạn sẽ làm gì ? (Đánh dấu x vào ô � trước ý bạn chọn) � a) Mặc kệ � b) Can ngăn � c) Giúp họ hiểu và tự làm

Thông tin phản hồi cho các hoạt động * Hoạt động 1

Câu 1

a) Sau khi trả lời câu hỏi, bạn hãy nhờ đồng nghiệp đánh giá, góp ý và tham khảo thêm ý kiến của đồng nghiệp.

Ngoài ra có thể tham khảo ý kiến sau :

Lời nói là phương tiện giao tiếp quan trọng, thể hiện trí tuệ, phong cách giao tiếp của mỗi người. Lời nói làm hài lòng người khác, sẽ tạo cho đối tượng giao tiếp tâm lí dễ chịu, nghiêm túc lắng nghe, sẵn sàng trao đổi thông tin, nhu cầu,... và ngược lại.

Câu ca dao đó giúp chúng ta hiểu bài học giao tiếp : Hãy biết sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp một cách có văn hoá, văn minh, lịch sự, làm hài lòng người khác, thể hiện đạo đức tôn trọng đối tượng giao tiếp. Nhất là đối với nhà giáo, lời nói là phương tiện dạy học quan trọng. Việc sử dụng ngôn ngữ trong sáng, điễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu cùng thái độ ân cần là một trong các kĩ năng sư phạm giúp cho giáo viên thu hút chú ý lắng nghe của học sinh.

b) Tuỳ năng lực và kinh nghiệm giao tiếp của bạn, có thể chọn đáp án a, hoặc b.

Câu 2

Đó là hành vi giao tiếp sư phạm giữa giáo viên và học sinh. Trong câu chuyện trên, giáo viên đã thiếu tôn trọng nhân cách của học sinh, vi phạm yêu cầu đạo đức trong giao tiếp với học sinh và nguyên tắc sư phạm. Sự vi phạm đó có thể làm cho học sinh bị bạn bè coi thường, mất lòng tin vào giáo viên, chán nản học tập,... Đó là điều tối kị trong dạy học.

Bởi vậy, nếu gặp trường hợp tương tự của đồng nghiệp, bạn nên khuyên nhủ, góp ý, giúp đỡ để đồng nghiệp sửa chữa. Hãy tôn trọng nhân cách của học sinh, coi học sinh như một người bạn nhỏ của mình.

* Hoạt động 2 Câu1

1. d 2. e 3. a 4. c

Câu 2

Câu nói đó khẳng định : Người lớn phải là tấm gương đạo đức cho trẻ em. Trong gia đình, cha mẹ có uy quyền đặc biệt trước con cháu. Điều quyết định uy quyền đó chính là sự gương mẫu của các bậc cha mẹ. Sự gương mẫu tạo nên niềm tin, là động lực thôi thúc, khích lệ con cháu phấn đấu noi theo để giữ gìn, phát huy, phát triển truyền thống của gia đình. Vì thế dân tộc ta có câu : “Cha nào con ấy”, “Tông nào giống ấy”.

Trong thời đại chúng ta, có rất nhiều gia đình văn hoá. Phải kể tới một gia đình trí thức, cha mẹ là tấm gương đoàn kết, yêu thương nhau, hiếu học, say mê nghiên cứu khoa học, tận tuỵ đào tạo nhân tài cho gia đình và đất nước : Gia đình giáo sư Nguyễn Lân.

Câu 3

a) Cùng trao đổi với các đồng nghiệp và tham khảo ý kiến.

* Gợi ý :

“Một người mẹ trẻ thường cho con tiền để con tự đi ăn sáng hằng ngày. Cậu bé đã không ăn sáng và dùng tiền để chơi điện tử nhưng mẹ nó không biết”. Đó là cách quản lí con thiếu trách nhiệm. Khi quá ham chơi (nghiện điện tử), đứa trẻ có thể bê trễ học hành, bỏ học, nói dối để xin tiền đi chơi,... thậm chí có trẻ đã ăn cắp tiền của gia đình và người khác.

b) Nếu trong lớp mình chủ nhiệm xảy ra trường hợp tương tự, bạn nên trực tiếp tới gặp phụ huynh học sinh để :

- Phản ánh tình hình học tập, rèn luyện của con em họ, trong đó có hiện tượng chơi điện tử, sa sút học hành.

- Tế nhị phân tích tác hại của việc phụ huynh cho con tiền ăn sáng nhưng không có biện pháp quản lí đúng.

- Giải thích để phụ huynh hiểu phương pháp quản lí giáo dục con.

* Hoạt động 3 Câu 1 : Đáp án a, c, d, e, g.

Câu 2 : Đáp án a.

Câu 3 : Bạn hãy trao đổi bài làm của mình với một số đồng nghiệp và tìm ra câu trả lời khách quan.

* Gợi ý : Tư tưởng trung bình chủ nghĩa, “nước chảy bèo trôi” khi sống, làm việc trong một tập thể, đó là tư tưởng trông chờ, dựa dẫm trong lao động, không có tinh thần tự giác, tích cực vươn lên vì danh dự, lợi ích chung, trong đó có cá nhân mình. Nếu gặp trường hợp như vậy, bạn nên khuyên nhủ đồng nghiệp của mình thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ lao động ; đồng thời lôi cuốn họ vào các hoạt động của tập thể mà sự nhiệt tình, tích cực của bạn chính là sức mạnh thực tế.

* Hoạt động 4 Các ý kiến đúng : a, b, d, đ, g, i, k, m, n. Đó chính là yêu cầu đạo đức trong học tập.

Câu 1

Sau khi làm bài có thể trao đổi với đồng nghiệp để bổ sung hiểu biết.

Gợi ý : “Dạy tức là học hai lần”, triết lí đó giúp chúng ta hiểu một điều hết sức giản dị, nhưng cũng rất đỗi lớn lao. Muốn dạy người khác (trở thành thầy của người khác) trước hết mình phải học và suốt đời không ngừng học tập để không bị tụt hậu. Khi dạy người khác cũng có nghĩa là được học ở người khác điều mình chưa biết. Mỗi lần dạy không chỉ ôn lại kiến thức đã biết, mà còn phải liên tục bổ sung thêm những kiến thức mới : “Ôn lại điều đã học để biết thêm điều mới, kẻ ấy có thể làm thầy thiên hạ” (Khổng Tử).

Câu 2 : Đáp án c.

3. Một số phẩm chất đạo đức cá nhân

3.1. Phẩm chất trung thực, khiêm tốn, dũng cảm, tính nguyên tắc và kỉ luật.

Hoạt động 1. TÌM HIỂU KHÁI NIỆM TRUNG THỰC, KHIÊM TỐN, DŨNG CẢM, TÍNH NGUYÊN TẮC VÀ KỈ LUẬT. Thời gian : 30 phút. Nhiệm vụ

* Giải thích bản chất của các khái niệm : trung thực, khiêm tốn, dũng cảm, tính nguyên tắc và kỉ luật.

* Mỗi khái niệm tìm một ví dụ minh hoạ.

Bạn hãy đọc thông tin cơ bản của hoạt động để thực hiện nhiệm vụ này.

Hoạt động 2. XÁC ĐỊNH YÊU CẦU ĐẠO ĐỨC KHI RÈN LUYỆN CÁC PHẨM CHẤT TRUNG THỰC, KHIÊM TỐN, DŨNG CẢM, TÍNH NGUYÊN TẮC VÀ KỈ LUẬT Thời gian : 45 phút Nhiệm vụ

* Đọc thông tin cơ bản của hoạt động và phân tích các yêu cầu đạo đức cần thực hiện khi hình thành các phẩm chất trung thực, khiêm tốn, lòng dũng cảm, tính nguyên tắc và kỉ luật.

* Theo bạn, nếu không rèn luyện cho mình các phẩm chất trên, sẽ gặp khó khăn gì trong cuộc sống ? Cho ví dụ.

Bạn có thể kết hợp thông tin cơ bản và trao đổi cùng đồng nghiệp để thực hiện nhiệm vụ này.

* Thảo luận nhóm

Giải thích các triết lí sau :

- “Người trung thực có thể bị truy nã, nhưng không thể bị mất danh dự” (F.Vôn-te).

- “Phẩm giá con người là những viên đá quý, viên đá đó còn lấp lánh đẹp đẽ hơn nếu được lồng vào cái giá khiêm tốn” (L.Vô-vơ-nác).

- “Lịch sự và khiêm tốn chứng tỏ con người có văn hoá thực sự” (Ô.Ban-dắc). Thông tin cơ bản (cho hoạt động 1,2)

Trung thực

Phẩm chất trung thực là phẩm chất đầu tiên cần được rèn luyện ở mỗi người, vì tính trung thực là cốt lõi để xây dựng mọi mối quan hệ xã hội, là cơ sở của niềm tin. Thiếu nó con người sẽ trở thành dối trá, có thể phản bội, đánh mất niềm tin với mọi người, thậm chí trở thành tội phạm.

Trung thực là tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải và chân lí trong mọi quan hệ, cư xử. Trung thực có một giá trị đạo đức lớn lao ở chỗ : Nó đòi hỏi chủ thể nhận thức, hành động vì sự thật mà vì vậy lợi ích của chính mình trong trường hợp nào đó có thể bị thiệt thòi, nhưng mang lại lợi ích cho người khác, bảo vệ lợi ích xã hội, chân lí, lẽ phải, thậm chí có khi phải hi sinh lợi ích cá nhân.

Sống trung thực là một đức tính quý báu. Nó không tự có, mà phải trải qua quá trình khổ luyện. Để trở thành người trung thực, cần phải :

- Rèn luyện lòng dũng cảm, có lí trí và tôn trọng danh dự để trong mọi quan hệ lời nói, hành động luôn phù hợp với sự thật, lẽ phải, chân lí nhằm bảo vệ công bằng xã hội.

- Có sự công tâm : Ngay thẳng, khách quan, không thiên vị, không vì vụ lợi hoặc quan hệ cá nhân, gia đình mà lời nói hoặc việc làm bị thiên lệch.

- Giàu lòng nhân ái và kiên định, thà chịu thiệt thòi, mất mát, hi sinh nhưng kiên quyết không phản bội lại chính mình hoặc người khác - điều đó cần đến sự mạnh mẽ của lương tâm, sự lựa chọn sáng suốt của trí tuệ.

Tuy nhiên, không phải mọi lời nói dối đều vô đạo đức. Đôi khi sự nói dối vì tế nhị, vô hại, làm cho người khác tin tưởng, lạc quan phấn đấu vươn lên là cần thiết. Chị Võ Thị Sáu khi bị địch bắt, dụ dỗ, đánh đập, tra khảo dã man, nhưng chị đã kiên quyết “không biết”, một mực không khai cơ sở cách mạng. Chị đã dũng cảm hi sinh khi mười bảy tuổi. Chị đã nêu tấm gương kiên cường, bất khuất trước kẻ thù.

Khiêm tốn

Khiêm tốn là một phẩm chất được đánh giá cao trong cuộc sống. Người có đức tính khiêm tốn được mọi người quý trọng, gần gũi, tin tưởng, sẵn lòng giúp đỡ.

Người khiêm tốn là người biết tôn trọng, biết học tập thành tích, công lao của người khác, biết coi thành công và ưu điểm của mình là một bộ phận của thành tích chung, trung thực và công bằng trong đánh giá mình và mọi người.

Trong cuộc sống thường nhật, khi người ta tự đánh giá mình hoặc đánh giá hành vi của người khác do thiếu khiêm tốn sẽ rơi vào các trường hợp :

- Hoặc là tự kiêu : Đánh giá quá cao về mình, coi thường người khác, dẫn tới :

+ Không công bằng.

+ Khoe khoang, khoác lác, do đó làm mất lòng tin với mọi người.

+ Chủ nghĩa cá nhân, ích kỉ, hẹp hòi, đố kị, làm cho mọi người phải cảnh giác khi tiếp xúc với mình.

+ Có khi hãnh tiến, ảo tưởng, vì vậy dẫn đến thất bại không đáng có.

- Hoặc là tự ti : Mặc cảm về sự thấp kém của mình so với người khác, e dè, nhút nhát, thiếu tự tin. Do vậy, dẫn đến hậu quả bất lợi.

+ Sống giấu mình, yếm thế, không dám thể hiện và tự khẳng định, làm cho mình trở nên hèn kém.

+ Không có nhiều cơ hội để giao tiếp, học hỏi và thành đạt.

Tuy nhiên, đề trở thành người khiêm tốn không phải dễ. Nó đòi hỏi mỗi người :

- Phải biết đánh giá và có thói quen đánh giá đúng về mình và người khác. Không tô hồng cho mình, không bôi đen cho người khác.

- Biết trân trọng những giá trị, thành tích, công lao của người khác và vui mừng trước sự thành đạt, sự tiến bộ của người khác, có ý thức cầu thị.

- Biết phát huy ưu điểm và khắc phục sai lầm khuyết điểm của bản thân để tự khẳng định và không ngừng vươn lên.

- Biết nghiêm khắc với bản thân mình, tế nhị góp ý với sai lầm khuyết điểm của người khác.

- Phải tự mình và giúp người khác chống lại :

+ Tính kiêu ngạo : Quá đề cao mình, hạ thấp người khác. Như vậy, sẽ dẫn đến hậu quả bất lợi trong giao tiếp : Hãnh tiến, ảo tưởng.

+ Tính tự ti : Mặc cảm về sự thấp kém của mình so với người khác, e dè, nhút nhát, thiếu tự tin ; hoặc sống giấu mình, yếm thế, không dám thể hiện và tự khẳng định, làm cho mình vì thế, trở nên lạc hậu.

+ Tính ích kỉ, hẹp hòi, níu áo, gây cản trở sự thăng tiến của người khác và tự hạ thấp hoặc làm mất danh dự, lòng tin của mọi người với mình.

Lòng dũng cảm Dũng cảm là sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại, khó khăn, hi sinh mất mát, dám đương đầu với hiểm nguy để bảo vệ và vươn tới cái thiện, chính nghĩa và chân lí.

Tinh thần dũng cảm là một phẩm chất cao quý của giá trị đạo đức, vì thiếu nó :

- Điều tốt đẹp của bản thân nếu có thì chỉ có trong ý thức mà không trở thành hiện thực.

- Cái ác và phi nghĩa trong xã hội dần gia tăng, trở thành một lực lượng chống lại con người.

- Con người không thể vượt qua khó khăn thử thách, không dám hi sinh để đạt đến bến bờ hạnh phúc.

Cũng như phẩm chất trung thực và khiêm tốn, lòng dũng cảm không sẵn có trong mỗi chúng ta. Trong thực tế, đã không ít người chùn bước trước khó khăn, hoặc sa ngã vì không đủ bản lĩnh và lí trí để vượt qua thói xấu của bản thân mình hoặc sự cám dỗ của những tiêu cực xã hội. Bởi vậy, việc rèn luyện tinh thần dũng cảm đòi hỏi mỗi người :

- Trước hết phải có bản lĩnh, lí trí sáng suốt khi suy nghĩ, hành động để chiến thắng bản thân mình và sự cám dỗ trước những tiêu cực xã hội.

- Có tài trí thông minh, ý chí kiên định, lập trường vững vàng để bảo vệ lẽ phải. - Dám hi sinh vì công lí, dẫu biết rằng phải mất mát, thiệt thòi.

- Biết yêu, biết ghét, biết vì mọi người, biết kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích của tập thể, cộng đồng, xã hội. Dũng cảm không có nghĩa là bất chấp tất cả để đạt được lợi ích cá nhân.

Đoàn kết, mưu trí, dũng cảm là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Nhờ phát huy truyền thống đó, dân tộc ta đã làm nên các cuộc kháng chiến giữ nước oanh liệt. Trong thời đại khoa học - Công nghệ hiện nay, thế hệ trẻ cần dũng cảm, dám nghĩ, dám làm, góp phần đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

Tính nguyên tắc và kỉ luật Nguyên tắc là những quan điểm, tư tưởng phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Nó chỉ đạo hành động, đảm bảo cho hành động của con người phù hợp đạo đức, luật pháp, giữ gìn được sự trong sáng của lương tâm. Người có tính nguyên tắc là người luôn vận dụng, thực hiện đúng các yêu cầu đạo đức, pháp luật, kỉ luật để hành động phù hợp chuẩn mực đạo đức, pháp luật, quy định của xã hội trong hoàn cảnh thực tế.

Kỉ luật : Phép tắc, luật lệ, quy định được gia đình, tổ chức, tập thể, xã hội đặt ra để mọi người tuân theo để đảm bảo sự thống nhất, sự phối hợp chặt chẽ trong tổ chức, tập thể đó. Tính kỉ luật : Sự chấp hành nghiêm chỉnh, tự giác các quy định của tập thể, của xã hội mọi lúc mọi nơi.

Tính nguyên tắc và kỉ luật là một trong những phẩm chất đạo đức cơ bản của cá nhân. Nó có vai trò định hướng hoạt động và ứng xử cho cá nhân nhằm xây dựng xã hội trật tự thống nhất, có văn hoá, mọi người tôn trọng nhau và tôn trọng trật tự chung.

Thực hiện tính nguyên tắc và kỉ luật là sự tổng hợp các phẩm chất trung thực, khiêm tốn, dũng cảm, biết giữ chữ tín, tự trọng và tôn trọng người khác, tôn trọng quy định của tập thể, xã hội. Nó đòi hỏi mỗi người :

- Có trí tuệ, tri thức, tình cảm, niềm tin và ý thức trách nhiệm trong quan hệ với người khác, tập thể, xã hội.

- Hành động phải phù hợp với lẽ phải, với chân lí, đạo lí và pháp lí, phải trung thực, đảm bảo tính khách quan và thật sự trong sáng. - Kiên quyết chống lại thói vô nguyên tắc, tuỳ tiện, bảo thủ và cơ hội.

- Nguyên tắc luôn đi đôi với kỉ luật : Giữ vững kỉ luật là một nguyên tắc sống quan trọng, là phương tiện để kiểm soát hành vi của con người và đạt đến tự do tất yếu của cá nhân. Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã từng dạy : “Người tự do nhất là người sống có kỉ luật nhất”. Người sống có nguyên tắc cũng chính là có ý thức tổ chức kỉ luật nghiêm minh. Điều đó phải được rèn luyện thường xuyên với ý chí mạnh mẽ, dũng cảm vượt qua chính bản thân mình, chống lại sự do dự, vô kỉ luật và lối sống tự do tuỳ tiện nhật thường.

Song, tính nguyên tắc không đồng nhất với sự cứng nhắc, máy móc. Trong thực tế cuộc sống, có khi phải biết cách thoả hiệp có nguyên tắc để giữ vững nguyên tắc cơ bản ; phải biết mềm dẻo, linh hoạt “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vì lợi ích của mình, của tập thể và xã hội. Chính sự nhân nhượng có nguyên tắc bằng việc vận dụng các đối sách mềm

dẻo với thù trong giặc ngoài của Hồ Chủ tịch sau Cách mạng Tháng Tám-1945 đã làm cho nước ta giữ vững được chính quyền cách mạng non trẻ trước bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chính sách đối ngoại cực kì linh hoạt : Đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi nhằm tạo thế và lực mới cho công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước tiến lên vì sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

3.2. Các đức tính cần, kiệm, giữ chữ tín Hoạt động 3. TÌM HIỂU NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN KHI RÈN LUYỆN CÁC ĐỨC TÍNH CẦN, KIỆM, BIẾT GIỮ CHỮ TÍN Thời gian : 30 phút Nhiệm vụ

* Đọc thông tin cơ bản và giải thích nội dung, yêu cầu của việc rèn luyện các đức tính cần, kiệm, giữ chữ tín.

* Cùng tham gia : Kể những tấm gương điển hình trong cuộc sống về các đức tính trên và nêu suy nghĩ của bạn về những tấm gương đạo đức đó.

Thông tin cơ bản Cần : Lao động, làm việc cần cù, siêng năng, tự lực cánh sinh, có kế hoạch, sáng tạo, năng xuất, hiệu suất cao. Đức tính này đối lập với thói trây lười, ỉ lại, dựa dẫm, gian dối trong lao động, học tập, sinh hoạt. Nó đòi hỏi mỗi người ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ học tập, lao động của mình trước gia đình, cộng đồng, xã hội và tự giác thực hiện nghĩa vụ đó với kết quả cao nhất. Đặc biệt, trong thời đại khoa học, công nghệ hiện nay, người lao động chỉ đạt được năng suất, chất lượng hiệu quả cao khi làm chủ khoa học, kĩ thuật và công nghệ. Điều đó đòi hỏi phải không ngừng học tập, nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kĩ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Nghĩa là, không chỉ chuyên cần trong lao động mà cả trong học tập, tự học, tự đào tạo mình trở thành người có trình độ văn hoá, khoa học, công nghệ theo tiêu chuẩn của người lao động mới. Dạy học là làm công việc tiếp nhận, chuyển giao tri thức từ thế hệ trước đến thế hệ sau. Trong thời đại hiện nay, trước sự bùng nổ thông tin, để không bị tụt hậu người giáo viên cần phải không ngừng tự học, tự đào tạo lại chính mình.

Kiệm : Tiết kiệm sức lao động, thời giờ, tiền bạc, của cải của dân, của nước, của bản thân. Tiết kiệm là biết tiêu dùng hợp lí, có kế hoạch. Nó đòi hỏi chúng ta phải biết xây dựng kế hoạch làm việc và chi tiêu phù hợp với điều kiện cá nhân, gia đình, tập thể, đơn vị và biết điều chỉnh kế hoạch đó phù hợp với hoàn cảnh thực tế ; không phô trương, xa xỉ, lãng phí. Tiết kiệm cũng không có nghĩa là hà tiện, bần tiện, khi cần chi tiêu phải chi tiêu đúng mức. Nếu hà tiện, có khi ảnh hưởng đến công việc của cá nhân và tập thể, đến sức khỏe, thậm chí bỏ lỡ cơ hội tốt trong cuộc sống.

Giữ chữ tín : Đứng đắn, trung thực, trong sáng, giữ lòng tin với mọi người vì “một lần bất tín, vạn sự không tin”.

Để rèn luyện những đức tính đó, đòi hỏi mỗi người phải trung thực, dũng cảm, có tri thức, ý chí, sống có nguyên tắc và kỉ luật, luôn nghiêm khắc với bản thân, lời nói phải đi đôi với việc làm, mọi sự phản ánh phải đúng sự thật.

Cùng với các phẩm chất trung thực, khiêm tốn, dũng cảm, tính nguyên tắc và kỉ luật,

cần, kiệm, giữ chữ tín là những đức tính được cha ông ta rất coi trọng trong tu dưỡng, rèn luyện nhân cách. Việc rèn luyện các đức tính trên sẽ giúp cho chúng ta hoàn thiện nhân cách của mình, trở thành người sống phù hợp với những giá trị đạo đức tốt đẹp. Đối với dân tộc Việt Nam đó là truyền thống đạo đức và bản sắc văn hoá quý báu. Thế hệ trước cần có trách nhiệm truyền lại cho thế hệ sau. Các nhà giáo dục, một mặt trên cơ sở đó phấn đấu tự hoàn thiện mình ; mặt khác cần quan tâm giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ thành lớp người “hồng thắm, chuyên sâu” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “ Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.

Đánh giá hoạt động 1, 2, 3 Câu 1 : Điền vào cột B những từ ngữ thể hiện các phẩm chất đạo đức phù hợp với nội dung câu nói ở cột A.

TT A B

1 Trang bị quý giá nhất của con người là khiêm tốn và giản dị. (F.Ăng-ghen)

2 Người nào đã tự giác tuyên bố rằng mình còn kém cỏi, người đó đã rất gần mức hoàn hảo. (G.Gớt)

3 Sự cao cả là ở chỗ không cảm thấy ghen tị khi nhìn những người khác đạt được thành công mà bản thân mình khao khát. (M. ép- en Ê-sen-bắc)

4 Không có gì hay bằng nói thẳng ra rằng : tôi trái đấy. (F.Phê-nô- lông)

5 Khó mà doạ nổi trái tim không có một vết nhơ. (W.Sếch-xpia)

6 Muốn người khác đối xử với mình như thế nào thì hãy đối xử với mọi người như thế. (C.Mác)

7 Tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân mình. (G.Gôn-xu-cóc- xi)

8 Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục. (Hồ Chí Minh)

9 Đánh mất niềm tin là mất tất cả.

Câu 2 : Có lần giáo viên A dạy sai kiến thức trong một tiết toán, khi giao bài tập về nhà, học sinh không làm được, vì thế A mới phát hiện ra, nhưng A đã lờ đi...

2.1. Hành vi của giáo viên A là :

� a) Thiếu khiêm tốn � b) Thiếu tự tin � c) Thiếu dũng cảm 2.2. Nếu đó là đồng nghiệp của bạn, bạn sẽ xử sự thế nào khi biết chuyện này ?

Thông tin phản hồi cho các hoạt động 1, 2, 3 Gợi ý giải thích các câu danh ngôn

- “Người trung thực có thể bị truy nã, nhưng không thể bị mất danh dự” (F.Vôn-te).

Người trung thực biết tự trọng, dám làm dám nhận, biết chấp nhận sự thật, dẫu đó là sự thật nghiệt ngã “bị truy nã”và dũng cảm sửa chữa, làm lại. Như vậy sẽ bảo toàn được danh dự. Nhưng nếu bằng mọi cách che giấu khuyết điểm, tội lỗi, sẽ mất lòng tin trước mọi người, sẽ vĩnh viễn mất danh dự.

- “Phẩm giá con người là những viên đá quý, viên đá đó còn lấp lánh đẹp đẽ hơn nếu được lồng vào cái giá khiêm tốn” (L.Vô-vơ-nác).

Khiêm tốn là một trong những phẩm chất cấu thành phẩm giá con người, người có phẩm giá và biết giữ gìn phẩm giá sẽ được người khác quý trọng. Nhưng người đó càng được người khác quý trọng hơn, tin yêu hơn nếu biết toả sáng mình không phải bằng sự khoe khoang, khoác loác, phô trương mà bằng sự đúng mực, để cho mọi người tự đánh giá mình, “hữu xạ tự nhiên hương”.

- “Lịch sự và khiêm tốn chứng tỏ con người có văn hoá thực sự” (Ô.Ban-dắc).

Ban-dắc đã khẳng định : Lịch sự và khiêm tốn là những nét đặc trưng của văn hoá ứng xử. Người sống có văn hoá thực sự, trước hết phải biết lịch sự, khiêm tốn và ngược lại. Tuy nhiên, không đồng nhất văn hoá giao tiếp với trình độ văn hoá, một khía cạnh khác của văn hoá, vì không phải ai có trình độ văn hoá cũng là người sống lịch sự, khiêm tốn.

Gợi ý trả lời câu hỏi đánh giá

Câu 1 TT A B

1 Trang bị quý giá nhất của con người là khiêm tốn và giản dị. (F.Ăng-ghen)

Khiêm tốn

2 Người nào đã tự giác tuyên bố rằng mình còn kém cỏi, người đó đã rất gần mức hoàn hảo. (G.Gớt)

Trung thực, Khiêm tốn

3 Sự cao cả là ở chỗ không cảm thấy ghen tị khi nhìn những người khác đạt được thành công mà bản thân mình khao khát. (M. ép- en Ê-sen-bắc)

Khiêm tốn, Dũng cảm

4 Không có gì hay bằng nói thẳng ra rằng : tôi trái đấy. (F.Phê-nô- lông)

Trung thực

5 Khó mà doạ nổi trái tim không có một vết nhơ. (W.Sếch-xpia) Tự tin

6 Muốn người khác đối xử với mình như thế nào thì hãy đối xử với mọi người như thế. (C.Mác)

Trung thực Tự trọng

7 Tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân mình. (G.Gôn-xu-cóc- xi)

Tự trọng

8 Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục. (Hồ Chí Minh)

Dũng cảm

9 Đánh mất niềm tin là mất tất cả. Giữ chữ tín

Câu 2

2.1. Đáp án c.

2.2. Gợi ý :

- Bạn hãy cùng trao đổi với đồng nghiệp để tham khảo kinh nghiệm.

- Hoặc tham khảo kinh nghiệm sau của một số nhà giáo dục : Khuyên đồng nghiệp dũng cảm đính chính với học sinh và xin lỗi do nhầm.

4. Giáo dục đạo đức

4.1. Khái niệm và vai trò của giáo dục đạo đức

Hoạt động 1. TÌM HIỂU KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC. Thời gian : 30 phút Nhiệm vụ

Sau khi nghiên cứu thông tin cơ bản, bạn hãy thực hiện nhiệm vụ.

* Thảo luận theo nhóm câu hỏi :

- Thế nào là giáo dục đạo đức ? Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học như thế nào ?

- Giáo dục đạo đức có vai trò quan trọng như thế nào đối với sự hình thành nhân cách của con người nói chung và học sinh tiểu học nói riêng ? Lấy ví dụ minh hoạ.

Thông tin cơ bản Giáo dục đạo đức là sự tác động có mục đích, có tổ chức từ nhiều phía, với những hình thức khác nhau nhằm hình thành cho con người hành vi phù hợp chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Vai trò, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức từ xưa đến nay đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều triết gia, nhiều học giả quan tâm và khẳng định. “Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa” (Hồ Chí Minh). Đạo đức là cái gốc trong nhân cách toàn diện của con người. Chính vì vậy, giáo dục đạo đức cho mọi người là việc làm có tầm quan trọng đặc biệt và rất cần thiết, vì đạo đức không tự có, nó chỉ được hình thành qua con đường giáo dục và tự giáo dục.

Nhờ giáo dục đạo đức, con người trau dồi được những phẩm chất tốt và không ngừng hoàn thiện bản thân mình. Thực tiễn đạo đức đã chứng minh người được rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt, có thể không thể thành nhân tài, nhưng nhất định sẽ hữu ích trong cuộc sống. Người có tài nhưng thiếu đức, chẳng những khó thành công trong cuộc sống mà có khi trở thành kẻ phá hoại. Xin nhắc lại một lần nữa lời dạy của Hồ Chủ tịch : “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm gì cũng khó”. Nhất là trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, nhiều giá trị đạo đức đang có nguy cơ bị mặt trái của cạnh tranh và cơ chế thị trường làm băng hoại thì giáo dục đạo đức cho mọi người nói chung, cho học sinh nói riêng không chỉ là vấn đề quốc gia, mà còn là vấn đề quốc tế.

Xin dẫn ra một số danh ngôn về vai trò của đạo đức và giáo dục đạo đức để các bạn cùng tham khảo.

(1) “Thiên nhiên đã trao vào tay con người một vũ khí - đó là sức mạnh trí tuệ và đạo đức, nhưng con người có thể sử dụng vũ khí đó theo những hướng ngược lại ; vì thế con người thiếu những nguyên tắc đạo đức sẽ là một con người bất lương và hoang dã, thấp hèn trong những bản năng”. (A-rít-xtốt)

(2) “Hiện tượng đạo đức là bài toán chủ yếu của giáo dục, nó quan trọng hơn nhiều so với việc phát triển trí tuệ nói chung, việc chứa đầy đầu những kiến thức”. (K.Đ.U-sin- xki)

(3) “Tất cả những ai muốn trở thành người công dân có ích, trước hết phải học cách làm người”. (K.Đ.U-sin-xki)

(4) “Tất cả mọi chiến thắng bắt đầu bằng sự chiến thắng bản thân”. (L.M.Lê-ô-nốp)

(5) “Hãy tốt bụng và nhạy cảm với mọi người. Hãy giúp đỡ bạn bè trong hoạn nạn. Hãy kính trọng bố mẹ : Họ đem lại cho anh cuộc sống, giáo dục anh, họ muốn anh trở thành một công dân trung thực,... một người có trái tim trong sạch, có trí óc sáng suốt, có tâm hồn nhân hậu và đôi tay vàng”. (V.A.Xu-khôm-lin-xki)

Những triết lí sâu sắc trên đã khẳng định tầm quan trọng của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và hoàn thiện nhân cách của con người.

Đánh giá hoạt động 1 Câu 1 : Giáo dục đạo đức có vai trò như thế nào trong đời sống của con người ? Vì sao?

Câu 2 : Có ý kiến cho rằng : Nhà trường cần tập trung vào giáo dục trí lực cho học sinh thật tốt, còn giáo dục đạo đức tự học sinh sẽ tích luỹ được trong cuộc sống sau này”.

Bạn hãy cho biết thái độ của bạn trước ý kiến đó và giải thích vì sao.

� a) Đồng tình � b) Lưỡng lự � c) Phản đối Câu 3 : Bạn có trách nhiệm gì khi trong lớp mình chủ nhiệm có học sinh lười học ?

Bạn hãy điền dấu x vào ô � thích hợp. � a) Giao cho đội thiếu niên giải quyết. � b) Phối hợp với gia đình cùng tìm biện pháp giúp đỡ học sinh đó. � c) Thông báo cho gia đình học sinh tự giải quyết. � d) Không quan tâm.

4.2. Sự cần thiết và nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học Hoạt động 2. GIẢI THÍCH VÌ SAO PHẢI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC. CHỈ RA NHỮNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ CỦA NÓ Thời gian : 30 phút Nhiệm vụ

* Bạn hãy đọc thông tin cơ bản và trả lời các câu hỏi :

- Vì sao phải giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học ?

- Hãy liệt kê các nhiệm vụ giáo dục toàn diện của nhà trường tiểu học. Nhiệm vụ nào là quan trọng hàng đầu ?

- Điền dấu x vào ô � trước những ý kiến nói về nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

� a) Làm cho học sinh có hiểu biết toàn diện về cuộc sống. � b) Giúp học sinh hiểu biết về một số nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức ở mức sơ giản,

cụ thể, gần gũi với đời sống của học sinh, từ đó nhận thức đúng về sự phù hợp giữa hành vi ứng xử của mình với lợi ích xã hội.

� c) Giúp học sinh hiểu biết các phạm trù đạo đức. � d) Bồi dưỡng xúc cảm, tình cảm đạo đức tích cực, bền vững để đảm bảo cho hành vi

đạo đức luôn nhất quán với yêu cầu đạo đức. Hình thành niềm tin đạo đức.

� đ) Tạo tiền đề để học tốt các môn học trong chương trình tiểu học. � e) Rèn thói quen hành vi đúng chuẩn mực, biết hành động phù hợp với yêu cầu đạo

đức của xã hội, kế thừa và phát triển truyền thống đạo đức của dân tộc trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

� g) Giáo dục văn hoá ứng xử, hành vi văn minh trong giao tiếp. Thông tin cơ bản

Trong xu thế hội nhập toàn cầu không gì cưỡng lại hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá, vấn đề giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng đang là mối quan tâm của các quốc gia. Trong sự phát triển nền giáo dục của mỗi nước, đồng thời với việc cập nhật thông tin khoa học, công nghệ vào nhà trường, còn cần phải quan tâm đến định hướng giáo dục giá trị đạo đức và nhân văn cho thế hệ trẻ.

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Đó là sự khẳng định vai trò, vị trí của trẻ em : Công dân - chủ nhân tương lai của đất nước - lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, các em phải được quan tâm giáo dục toàn diện và được hưởng một nền giáo dục đầy đủ, với điều kiện tốt nhất hiện có. “Vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề của một đất nước, mà là vấn đề mang tính toàn cầu của thời đại, là điều kiện quan trọng để bảo vệ sự sống còn và tương lai của loài người”. (Ô-rơ-lô Pơ-xây - Một trăm trang viết về tương lai - suy nghĩ của Chủ tịch Câu lạc bộ Rô-ma - Pa-ri, 1981).

Vì sao như vậy ? Xin tham khảo lời phát biểu của Ê-ly-xê - Pa-ri (18-11-1989) :

“Ta hãy thú nhận với nhau : Về phương diện đạo đức xã hội chúng ta đang còn mò mẫm tiến lên. Các vấn đề ưu tiên của chúng ta hình như không được định hướng. Chúng ta quan tâm đến các vấn đề vũ trụ nhiều hơn việc tìm kiếm đạo đức hay việc tìm kiếm nền đạo đức. Con người đã đi lên mặt trăng nhưng không bước lại gần đồng loại hơn. Con người thăm dò đáy biển và giới hạn của vũ trụ trong khi người láng giềng liền cửa với mình là kẻ xa lạ. Chúng ta sống đến tuổi già, nhưng tuổi già lại trở thành gánh nặng và một điều nguyền rủa”. Đó là hậu quả của sự xa rời nhiệm vụ giáo dục đạo đức.

Sinh thời, Hồ Chủ tịch rất mực yêu thương, quan tâm đến việc rèn luyện, giáo dục thế hệ trẻ, Người đã dạy : Bây giờ phải học, học để yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức. Trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện hiện nay, giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của mỗi nhà trường.

Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là quá trình tác động từ nhiều con đường khác nhau làm cho nhân cách của học sinh phát triển đúng về mặt đạo đức, tạo cơ sở để các em có hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức trong mối quan hệ của các cá nhân với bản thân, với người khác và xã hội. Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức là học sinh có được các phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bền vững, có hiểu biết để ứng xử đúng trong các mối quan hệ cụ thể.

Giáo dục đạo đức cho học sinh có vai trò rất quan trọng, nó góp phần hình thành, phát triển nhân cách toàn diện cho các em, giúp trẻ em rèn luyện ý thức, trách nhiệm, hành vi công dân ngay từ khi còn nhỏ, biết sống hợp đạo lí và tuân thủ pháp luật. Không thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ xã hội này, sẽ làm cho nhân cách của học sinh phát triển méo mó, nhất là hiện nay, nhiều tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức, thái độ, trách nhiệm, hành vi sống của trẻ em. Một nhà giáo dục học đã tổng kết : Làm hỏng một đồ bằng vàng có thể làm lại, làm hỏng một viên ngọc quý có thể bỏ đi, nhưng làm hỏng một con người là một tội lỗi.

Với tầm quan trọng của đạo đức và giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành nhân cách học sinh ; trước nguy cơ tấn công và xâm nhập của tiêu cực và tệ nạn xã hội vào nhà trường ; trước yêu cầu cấp bách của việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật Giáo dục 2005 đã xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trong đó, mục tiêu của giáo dục tiểu học là : “Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” (Điều 27). Được giáo dục và phát triển toàn diện là quyền và bổn phận của trẻ em đã được quy định trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, năm 1991.

Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là vấn đề cần thiết, trước hết vì vị trí của trẻ em trong tương lai nước nhà, làm cho các em trở thành những công dân tốt, đủ phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ gánh vác vận mệnh của dân tộc. Đó là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng.

Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, cung cấp, rèn luyện, hình thành cho học sinh những kĩ năng cơ bản như : giao tiếp, đọc, viết, tính toán,... Giáo dục đạo đức là một trong các con đường quan trọng để hình thành kĩ năng giao tiếp có văn hoá, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh.

Mặt khác, thực tiễn đạo đức đầy biến động, những yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen đang từng ngày từng giờ tác động vào học đường. Do đó, giáo dục đạo đức là một nội dung giáo dục hết sức cần thiết và quan trọng nhằm trang bị cho học sinh kiến thức, kinh nghiệm, thái độ đúng mực trong lựa chọn hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Từ sự cần thiết trên, nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là :

Giáo dục ý thức đạo đức : Cung cấp tri thức, giúp học sinh hình thành hiểu biết về một

số nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức ở mức sơ giản, cụ thể, gần gũi với đời sống của học sinh, từ đó nhận thức đúng về sự phù hợp giữa hành vi ứng xử của mình với lợi ích xã hội, tích luỹ kinh nghiệm đạo đức ứng xử đúng.

Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức : Bồi dưỡng, giúp học sinh hình thành xúc cảm, tình cảm đạo đức tích cực, bền vững để đảm bảo cho hành vi đạo đức luôn nhất quán với yêu cầu đạo đức, hình thành niềm tin đạo đức, từ đó tạo ra động cơ đạo đức trong sáng trong việc thực hiện bổn phận, trách nhiệm đạo đức của mình.

Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức : Giúp học sinh rèn luyện thói quen hành vi đúng chuẩn mực, biết hành động phù hợp với yêu cầu đạo đức của xã hội, kế thừa và phát triển truyền thống đạo đức của dân tộc trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá ; góp phần giáo dục văn hoá ứng xử, hành vi văn minh trong giao tiếp, thực hiện “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.

Ba nhiệm vụ trên quan hệ mật thiết với nhau. Để thực hiện các nhiệm vụ đó đòi hỏi nhà giáo dục phải tổ chức tốt các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường để học sinh thường xuyên được vận dụng, thực hành trong các mối quan hệ của các em theo đúng chuẩn mực đạo đức.

Đánh giá hoạt động 2 Câu 1 : Vì sao phải giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học ?

Câu 2 : Bạn hãy điền dấu x vào ô � trước ý kiến đúng về nhiệm vụ giáo dục đạo đức. � a) Nhiệm vụ của nhà trường bây giờ là dạy chữ đi đôi với dạy người, dạy cách học

gắn liền với dạy cách sống.

� b) Dạy chữ là nhiệm vụ số một của trường tiểu học. � c) Nếu không làm cho học sinh trở thành những công dân tốt, thì rất khó làm cho họ

trở thành những người lao động giỏi.

� d) Nếu bạn không giáo dục trẻ em biết “uống nước nhớ nguồn” thì sau này chính chúng sẽ phá vỡ thành quả lao động của bạn.

Câu 3 : Theo bạn, cần quan tâm đến những vấn đề gì khi thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh ?

4.3. Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học Hoạt động 3. TÌM HIỂU NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Thời gian : 60 phút Nhiệm vụ

* Nghiên cứu trước sách đạo đức của học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 theo chương trình tiểu học mới, sau đó lập bảng thống kê các chủ đề đạo đức theo mẫu sau:

Quan hệ đạo đức của học sinh Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 Lớp 4 Lớp 5

Quan hệ cá nhân - tập thể, xã hội

Quan hệ cá nhân - lao động

Quan hệ cá nhân - người khác

Quan hệ cá nhân - môi trường tự nhiên

Quan hệ với bản thân

* Đọc thông tin cơ bản dưới đây, phân tích nội dung của giáo dục đạo đức ở tiểu học.

* Thảo luận theo câu hỏi :

- Các nội dung dạy học môn Đạo đức ở tiểu học nhằm hình thành cho học sinh những phẩm chất đạo đức gì ?

- Hãy điền dấu x vào ô trống trong bảng sau cho thích hợp.

Phẩm chất cần giáo dục, rèn luyện cho HS qua dạy học

môn Đạo đức Phẩm chất đạo đức

Cần thiết

Không cần thiết

Lớp

- Trung thành với lí tưởng XHCN

- Yêu nước

- Hiểu biết về các nước khác, tôn trọng các dân tộc khác

- Yêu hoà bình

- Tự hào dân tộc

- Sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc

- Biết ơn các bậc tiên liệt đã có công dựng và giữ nước

- Yêu lao động

- Có ý thức trách nhiệm trong lao động

- Cần cù

- Tiết kiệm

- Lao động có kỉ luật

- Lao động có kĩ thuật

- Say mê khoa học - kĩ thuật

- Quý trọng người lao động

- Bảo vệ thành quả lao động và di sản văn hoá

- Yêu thương con người

- Thông cảm, chia sẻ

- Hợp tác, tương trợ lẫn nhau

- Quan tâm, chăm sóc người khác

- Tôn trọng lợi ích của người khác

- Tôn trọng tài sản, danh dự của người khác

- Lịch sự, lễ phép

- Bảo vệ môi trường

- Tự trọng

- Thật thà

- Giản dị

- Kiên trì

- Khiêm tốn

- Thăng tiến

- Vượt khó

- Dũng cảm

- Lạc quan yêu đời

- Giữ chữ tín

- Có trách nhiệm với lời nói, việc làm của bản thân

- Sắp xếp các phẩm chất đã chọn trên theo các quan hệ cụ thể của học sinh :

+ Quan hệ cá nhân với xã hội.

+ Quan hệ cá nhân với lao động.

+ Quan hệ cá nhân với người khác.

+ Quan hệ với môi trường tự nhiên.

+ Quan hệ với bản thân.

- Qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, rút ra mối quan hệ giữa nội dung của môn Đạo đức với nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

Thông tin cơ bản Ở tiểu học, quá trình giáo dục đạo đức nhằm vào việc hình thành các chuẩn mực hành vi, các nét đạo đức vững chắc. Vì vậy, quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình thực hiện ba nhiệm vụ : Giáo dục ý thức đạo đức ; giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức ; giáo dục hành vi thói quen đạo đức cho học sinh. Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học được thể hiện qua nội dung cụ thể của việc thực hiện các nhiệm vụ đó.

1. Giáo dục ý thức đạo đức Giáo dục ý thức đạo đức nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức cơ bản, sơ đẳng về các chuẩn mực hành vi, trên cơ sở đó bước đầu hình thành niềm tin đạo đức cho học sinh. Các chuẩn mực hành vi này được xây dựng từ các phẩm chất đạo đức : lòng yêu nước, lòng nhân ái, thái độ mới đối với lao động, tinh thần tập thể, tính kỉ luật. Chúng phản ánh các mối quan hệ hằng ngày của các em, đó là :

- Quan hệ của cá nhân đối với xã hội : Tôn kính Quốc kì, Quốc ca, kính yêu Bác Hồ, tự hào về đất nước, con người Việt Nam, biết ơn những thương binh liệt sĩ, các chiến sĩ

quân đội, công an, yêu quê hương, làng xóm, phố phường, yêu mến và tự hào về trường, lớp, giữ gìn môi trường sống xung quanh, bảo vệ các di tích lịch sử, văn hoá do cha ông để lại,...

- Quan hệ cá nhân đối với công việc, lao động : Trước hết là biết chăm chỉ, kiên trì vượt khó trong học tập, có phương pháp học tập tốt, tích cực tham gia các công việc lao động khác nhau (lao động tự phục vụ, lao động sản xuất, lao động công ích cho xã hội,...).

- Quan hệ cá nhân đối với những người xung quanh : Đầu tiên là lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, quan tâm giúp đỡ anh chị em trong gia đình, kính trọng và biết ơn thầy cô giáo, tôn trọng, giúp đỡ, đoàn kết với bạn bè, tôn trọng và giúp đỡ hàng xóm láng giềng, phụ nữ, cụ già, em nhỏ, người tàn tật,... theo khả năng của mình.

- Quan hệ cá nhân đối với tài sản xã hội, tài sản của người khác : Tôn trọng, bảo vệ tài sản của nhà trường (trường lớp, bàn ghế, dụng cụ lao động, sách vở đồ dùng học tập, dụng cụ thí nghiệm,...), của nhà nước (nhà cửa, máy móc, hàng hoá, các di tích lịch sử – văn hoá, những nơi công cộng,...), của người khác (đồ đạc, thư từ,...).

- Quan hệ cá nhân đối với thiên nhiên : Bảo vệ môi trường tự nhiên xung quanh nơi ở, nơi học, nơi chơi, nơi qua lại ; bảo vệ cây trồng, cây xanh có ích, động vật nuôi, động vật có ích, diệt trừ động vật có hại (chuột, muỗi, gián,...), làm vệ sinh môi trường...

- Quan hệ đối với bản thân : Khiêm tốn, thật thà, bạo dạn, giữ vệ sinh, có trách nhiệm với lời nói và việc làm của mình,...

Khi thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh, đối với từng chuẩn mực hành vi đạo đức cần giúp học sinh hiểu :

- Yêu cầu của chuẩn mực : Chuẩn mực yêu cầu học sinh thực hiện điều gì ? Làm gì ?

- Ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực hành vi : Việc thực hiện mang lại lợi ích, tác dụng gì ? Nếu không thực hiện mà làm trái lại thì có tác hại gì ?

- Cách thực hiện chuẩn mực đó : Để thực hiện chuẩn mực cần làm những công việc gì ? Làm như thế nào ?

Những tri thức đạo đức này giúp học sinh biết được cái đúng - cái sai, cái tốt - cái xấu, cái thiện - cái ác,... Từ đó các em sẽ làm theo cái đúng, ủng hộ cái tốt, tán thành cái thiện và đấu tranh, phê phán, tránh cái sai, cái xấu, cái ác,... Ý thức đạo đức đúng đắn sẽ có tác dụng định hướng cho thái độ, tình cảm, hành vi đạo đức.

2. Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức cho học sinh là thức tỉnh trong học sinh những rung động, cảm xúc đối với hiện thực xung quanh, làm cho các em biết yêu, biết ghét rõ ràng, qua đó có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong đời sống tập thể và xã hội,... Thái độ thờ ơ, lãnh đạm là sản phẩm không mong muốn của giáo dục tình cảm.

Đối với học sinh tiểu học, cần giáo dục những thái độ, tình cảm :

- Kính yêu Bác Hồ, tôn trọng Quốc kì, Quốc ca ; biết ơn các thương binh liệt sĩ ; yêu

mến trường, lớp, quê hương làng xóm,...

- Kính yêu, biết ơn ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em ; kính trọng, lễ phép, biết ơn thầy cô giáo, tôn trọng và yêu mến bạn bè ; tôn trọng những người xung quanh : hàng xóm, phụ nữ, cụ già, em nhỏ,...

- Yêu lao động, chăm học, chăm làm việc trường, việc lớp.

- Có lòng tự trọng, khiêm tốn học hỏi, trung thực.

- Có thái độ ủng hộ, đồng tình, tán thành với những tấm gương, việc làm tốt, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức và ngược lại, có thái độ lên án, phê phán những người có hành động xấu, làm hại người khác, xã hội, cộng đồng,...

- Yêu thiên nhiên, có thái độ giữ gìn môi trường sống xung quanh.

Tình cảm đạo đức được hình thành dựa vào ý thức đạo đức đúng đắn và được củng cố, khẳng định qua hành vi ; ngược lại, nó có tác dụng thúc đẩy, tạo động cơ cho việc nhận thức chuẩn mực, thực hiện hành vi đạo đức.

3. Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức Xét đến cùng, việc giáo dục một chuẩn mực, một phẩm chất đạo đức nào đó cho học sinh phải dẫn đến kết quả cuối cùng là học sinh thực hiện được những hành vi tương ứng trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt, biết cách ứng xử trong các mối quan hệ hằng ngày. Hành vi đó chỉ được hình thành thông qua luyện tập và rèn luyện hằng ngày, trở thành thói quen của học sinh và được thể hiện như một nét tính cách bền vững.

Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức là tổ chức cho học sinh lặp đi, lặp lại nhiều lần những thao tác, hành động đạo đức trong học tập, sinh hoạt, cuộc sống, nhằm có được hành vi đạo đức đúng đắn, từ đó có thói quen đạo đức bền vững. Ở tiểu học, cần hình thành cho học sinh các hành vi, thói quen đạo đức như :

- Giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình bằng những việc làm vừa sức.

- Lễ phép với người lớn, đặc biệt là với ông bà, cha mẹ, anh chị, thầy cô giáo.

- Làm được những việc vừa sức để giúp đỡ thầy cô giáo, hàng xóm, láng giềng, phụ nữ, cụ già, em nhỏ, người tàn tật.

- Có những việc làm nhân đạo vừa sức đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ những người gặp thiên tai, khó khăn, các bạn khuyết tật, thiệt thòi,...

- Có hành động, việc làm phù hợp bảo vệ trường lớp, tài sản công cộng, môi trường thiên nhiên, đồ đạc của người khác.

Cần giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ em ngay từ nhỏ, tức là hình thành cho trẻ em hành vi không những đúng về đạo đức, mà còn đẹp về thẩm mĩ.

Đánh giá hoạt động 3 Câu 1 : Những nội dung giáo dục đạo đức nào sau đây giúp cho học sinh hình thành phẩm chất trung thực ?

� a) Đi học đều và đúng giờ. � b) Đi đến nơi, về đến chốn.

� c) Giữ trật tự khi ra, vào lớp và nghe giảng. � d) Biết nhận và sửa lỗi. � đ) Bảo vệ loài vật có ích. � e) Khi gặp bài khó, nhờ bạn giảng. � g) Quan tâm giúp đỡ hàng xóm, láng giềng. � h) Giữ lời hứa. Câu 2 : Có giáo viên tiểu học hiện nay chỉ quan tâm đến giáo dục đạo đức cho học sinh ở một số nội dung họ tâm đắc nhất. Bạn hãy cho biết thái độ của bạn trước tình hình đó.

Câu 3 : Vận dụng nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học đã nghiên cứu ở trên, xác định nhiệm vụ và nội dung tương ứng của giáo dục chuẩn mực hành vi “đoàn kết với bạn”.

4.4. Các con đường cơ bản của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học Hoạt động 4. XÁC ĐỊNH CON ĐưỜNG CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Thời gian : 60 phút Nhiệm vụ

* Nghiên cứu thông tin cơ bản của hoạt động 4.

- Điền dấu x vào ô trống tương ứng với các môn học có thể tích hợp được nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh. Nội dung tích hợp là gì ?

TT Môn học Có Nội dung tích hợp

1 Toán

2 Tiếng Việt

3 Tự nhiên - Xã hội

4 Hát nhạc

5 Mĩ thuật

6 Thể dục

7 Giáo dục sức khoẻ

8 Lao động kĩ thuật

9 Tiếng Anh

10 Tin học

- Trong các môn học đó, môn nào có khả năng chuyển tải nội dung giáo dục đạo đức nhiều nhất ? Vì sao ?

* Đọc tài liệu hướng dẫn học theo băng hình 1a dưới đây, sau đó xem trích đoạn băng hình.

* Thực hiện các yêu cầu mục 2 của tài liệu hướng dẫn học theo băng hình.

HƯỚNG DẪN HỌC TẬP THEO BĂNG HÌNH 1A

a) Hoạt động trước khi xem băng

- Nghiên cứu kĩ mục 3, phần thông tin cơ bản của hoạt động 4.

- Nghiên cứu và nắm được mục đích của đoạn băng hình.

b) Hoạt động trong khi xem băng

- Tổ chức học tập trung (hoặc cá nhân nếu có thể).

- Quan sát, ghi chép nội dung đoạn băng hình theo mẫu sau :

TT Trình tự hoạt động Nội dung hoạt động Người thực hiện

1

2

3

4

.... c) Hoạt động sau khi xem băng

Thảo luận nhóm theo các câu hỏi :

- Nội dung “Diễn đàn đội viên” trong đoạn băng hình có liên quan đến những nội dung nào của giáo dục và dạy học môn Đạo đức ở tiểu học ?

- Ý nghĩa, tác dụng của hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh nói riêng và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nói chung đối với giáo dục và dạy học môn Đạo đức ở tiểu học.

* Sau khi thực hiện các nhiệm vụ trên, các bạn hãy cùng động não :

- Kể tên các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp khác ở trường tiểu học.

- Các hoạt động đó có vai trò gì trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ?

- Hai con đường giáo dục đạo đức trên có mối quan hệ như thế nào ? Thông tin cơ bản

Giáo dục đạo đức là một trong các mặt giáo dục toàn diện của nhà trường nói chung, của trường tiểu học nói riêng. Xét đến cùng, giáo dục đạo đức là hình thành kĩ năng hành vi, thói quen đúng chuẩn mực đạo đức cho học sinh. Để thực hiện yêu cầu đó, phải tiến hành hoạt động giáo dục thường xuyên, liên tục, kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội. Đó là công việc của nhiều lực lượng giáo dục trong, ngoài nhà trường và phải được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau :

- Bằng con đường dạy học trên lớp.

- Thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Sự kết hợp các con đường giáo dục đó phải được tiến hành đồng thời, kết hợp chặt chẽ với những phương pháp, hình thức sinh động, hấp dẫn để thu hút học sinh vào rèn luyện hành vi đạo đức một cách tự nhiên, tự nguyện, tự giác và hứng thú.

Giáo dục đạo đức bằng con đường dạy học trên lớp

Thông qua con đường dạy học các môn : Đạo đức, Tiếng Việt, Tự nhiên - Xã hội, Sức khoẻ, Hát nhạc, Lao động kĩ thuật, Mĩ thuật. Mỗi môn học có vai trò khác nhau trong việc thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh. Trong đó, đặc biệt là môn Đạo đức có vai trò rất quan trọng :

- Cung cấp kiến thức đạo đức (chuẩn mực đạo đức) một cách khoa học, cập nhật.

- Giúp học sinh hiểu được ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức, từ đó có thái độ tiếp nhận, lựa chọn cách ứng xử phù hợp, rèn luyện hành vi đúng chuẩn mực.

- Giúp học sinh luyện tập kĩ năng, thói quen hành vi đúng chuẩn mực.

Các môn học khác có thể tích hợp nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh. Việc tích hợp này có vai trò quan trọng :

- Cùng với môn Đạo đức thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh.

- Bổ sung kiến thức cho môn Đạo đức.

- Giúp vận dụng, củng cố kiến thức của môn Đạo đức.

Do đó, khi dạy học phải chú ý đến yêu cầu đảm bảo kiến thức liên môn và dạy đủ các môn theo chương trình Pháp lệnh của Nhà nước.

Những vấn đề cụ thể về dạy học môn Đạo đức, mời các bạn nghiên cứu ở Tiểu môđun 2.

Giáo dục đạo đức thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Hoạt động tập thể theo chủ đề, chủ điểm, các hoạt động chính trị - xã hội của học sinh (hoạt động từ thiện, nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, tham quan thực tế, các sinh hoạt văn hoá của địa phương,...), hoạt động Đội - Sao nhi đồng theo chương trình rèn luyện đội viên,...

Các hoạt động đó có tác dụng thiết thực, trực tiếp đến giáo dục đạo đức :

- Đó là các hoạt động đa dạng, sinh động, dễ cuốn hút học sinh vào hoạt động.

- Giáo dục tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng, đoàn kết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

- Giúp học sinh vận dụng củng cố, mở rộng kiến thức đạo đức - học đi đôi với hành.

- Tạo cơ hội để học sinh giao lưu, hợp tác, tự khẳng định và tích luỹ kinh nghiệm, làm phong phú vốn sống. Qua đó, tự điều chỉnh hành vi ứng xử.

- Có điều kiện thường xuyên luyện tập để hình thành thói quen hành vi đúng chuẩn mực.

- Tích hợp giáo dục các kĩ năng sống cơ bản ở mức phù hợp với lứa tuổi tiểu học : giao tiếp, tự nhận thức, giải quyết vấn đề, kiên định, ra quyết định.

- Thông qua việc trực tiếp tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ, học sinh bộc lộ ý thức đạo đức của mình, từ đó giáo viên phát hiện, giúp học sinh phát huy những đức tính tốt, kịp thời uốn nắn, sửa chữa những tính xấu.

Do đó, để đạt kết quả tốt trong giáo dục đạo đức cho học sinh, còn phải tổ chức tốt các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Với tầm quan trọng đó, xin gợi ý hình thức tổ chức một số hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

1. Hoạt động giáo dục theo chủ điểm Các chủ điểm giáo dục ở tiểu học có liên quan đến những ngày lễ lớn, ngày kỉ niệm lớn của đất nước, dân tộc, được tổ chức cho học sinh nhằm giáo dục cho các em truyền thống của dân tộc, niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, đạo lí “uống nước nhớ nguồn” và trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn, phát huy các truyền thống đó. Hình thức giáo dục theo chủ điểm có tác dụng : Tạo cơ hội để học sinh hoà nhập với cộng đồng, thực hiện quyền tham gia của trẻ em, tham gia giáo dục và tự giáo dục đạo đức. Qua nhiều hoạt động như hưởng ứng các phong trào thi đua, các hoạt động chào mừng, các cuộc mít tinh, phỏng vấn của báo chí, truyền hình, tạo nên môi trường giáo dục thống nhất giữa nhà trường và xã hội, thống nhất giữa ý thức - thái độ - hành động ở trẻ em và tạo điều kiện phối hợp giáo dục giữa gia đình - nhà trường - xã hội.

1.1. Nội dung của các hoạt động giáo dục theo chủ điểm Nội dung của các hoạt động theo chủ điểm rất phong phú, đa dạng. Trước hết, nó tuỳ thuộc vào tính chất của bản thân chủ điểm và được thể hiện trong các hoạt động được tổ chức cho học sinh.

- Tháng 9 : Chủ điểm truyền thống nhà trường, chào mừng năm học mới.

- Tháng 10 - 11 : Tôn sư trọng đạo, hướng về Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11.

- Tháng 12 : Uống nước nhớ nguồn, tưởng nhớ, biết ơn các thương binh liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, những người có công với nước, kỉ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12.

- Tháng 1 - 2 : Mừng Đảng, mừng xuân, chào mừng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2.

- Tháng 3 - 4 : Hoà bình và hữu nghị, kỉ niệm ngày 30-4, ngày thống nhất đất nước.

- Tháng 5 : Bác Hồ kính yêu, kỉ niệm ngày sinh của Bác Hồ 19-5...

Mỗi chủ điểm có nhiều chủ đề giáo dục khác nhau. Sau đây là một số nội dung cơ bản, cần khai thác trong mỗi chủ điểm :

- Xuất xứ của ngày lễ, ngày kỉ niệm, ý nghĩa của nó, những người cần được tưởng nhớ, chào mừng, kỉ niệm theo ngày lễ đó,ví dụ : Bác Hồ - chủ điểm 19-5 ; thầy cô giáo - chủ điểm 20-11 ; bộ đội, thương binh, liệt sĩ - chủ điểm 22-12...

- Công lao, tình cảm của những người đó đối với Tổ quốc, đối với các em học sinh, những chiến công, truyền thống, tấm gương tiêu biểu của họ với những khó khăn, vất vả và vinh quang của đời sống, công việc hằng ngày,...

- Tình cảm, trách nhiệm của học sinh trong học tập, rèn luyện để đền đáp công ơn đối với Đảng, Bác Hồ, những người có công với nước,...

- Những hành vi, việc làm của học sinh qua các mối liên hệ liên quan đến chủ điểm giáo dục.

Việc lựa chọn chủ đề cho từng chủ điểm cần mềm dẻo, linh hoạt, kết hợp nhiều yếu tố : tính chất của chủ điểm, mức độ yêu cầu về nội dung giáo dục, khả năng tiếp thu, hứng thú của học sinh, điều kiện cơ sở vật chất của trường, lớp, địa điểm tổ chức,...

1.2. Quy trình tổ chức các hoạt động theo chủ điểm

* Bước chuẩn bị

Lập kế hoạch : Nếu tổ chức theo phạm vi trường, thì Ban giám hiệu phối hợp với Tổng phụ trách Đội và tổ chủ nhiệm lập kế hoạch. Nếu tổ chức theo phạm vi lớp, thì giáo viên chủ nhiệm chủ động lập kế hoạch và tham mưu, đề xuất với Ban giám hiệu. Nội dung của kế hoạch gồm :

- Chủ điểm giáo dục

- Thời gian tổ chức

- Mục đích của hoạt động (về giáo dục ý thức thái độ, kĩ năng hành vi đạo đức)

- Địa điểm

- Phương pháp, hình thức tổ chức

- Cơ sở vật chất

- Người thực hiện các công việc

* Bước tổ chức thực hiện

- Nêu kế hoạch, phát động phong trào thi đua nếu cần. Cần nêu rõ yêu cầu, nội dung công việc, phạm vi tổ chức, thời gian thực hiện, nơi tiến hành hoạt động.

- Phân công chỉ đạo, thực hiện : Những người được phân công cần động viên, khích lệ tính tích cực, tự giác của học sinh, sâu sát phát hiện, uốn nắn kịp thời những biểu hiện thiếu tích cực hoặc sai lệch so với kế hoạch.

* Bước tổng kết, rút kinh nghiệm cần đánh giá :

- Tính hợp lí của kế hoạch.

- Sự điều hành của người chỉ đạo.

- Những công việc đã làm tốt, nguyên nhân.

- Những việc làm chưa tốt hoặc không thực hiện được, nguyên nhân.

- Những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc tổ chức chủ điểm.

- Kết luận : Đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch. 2. Tiết chào cờ đầu tuần

Tiết chào cờ có vị trí xác định trong thời khoá biểu hàng tuần, là hành động bắt buộc, nhằm giáo dục hành vi nghiêm trang chào lá Quốc kì, hát Quốc ca, tình yêu Tổ quốc ; rèn luyện ý thức, thói quen tự quản ; mở rộng phạm vi giao tiếp cho học sinh.

Tiết chào cờ là hình thức tập hợp học sinh toàn trường để đánh giá, tổng kết thi đua hàng tuần, khích lệ ganh đua lành mạnh tạo động lực tiến bộ chung ; phổ biến, triển khai kế hoạch tuần tới ; tổ chức các hoạt động chung của toàn trường ; thực hiện các nhiệm vụ giáo dục cập nhật như giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội,...

Người giáo viên chủ nhiệm cần giáo dục học sinh hiểu rõ ý nghĩa quan trọng của tiết chào cờ, thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ trực nhật, trực tuần, tích cực tham gia hoạt động Sao đỏ để xây dựng và thực hiện nền nếp chung của nhà trường.

Quy trình tổ chức và nội dung tiết chào cờ

* Bước chuẩn bị : Do Ban giam hiệu chuẩn bị, dự kiến những công việc cụ thể sau :

- Nội dung

- Biện pháp thực hiện : Trình tự thực hiện các nội dung.

- Người thực hiện : Phân công công việc cho những người có trách nhiệm chuẩn bị lễ đài, cơ sở vật chất, nội dung. Riêng lớp trực tuần thường làm các việc : Điều khiển tiết chào cờ, kéo cờ, nhận xét thi đua.

- Thời gian cho các nội dung.

* Bước tiến hành chào cờ : Lần lượt tiến hành các nội dung trong kế hoạch đã dự kiến.

- Nghi thức : Chào cờ, hát Quốc ca, Đội ca (theo nghi thức Đội). Mọi giáo viên, học sinh có mặt trong lễ chào cờ đều hát . Tránh hiện tượng chỉ có lớp trực tuần hát hoặc dùng máy ghi âm thay cho hát. Chào cờ và hát phải nghiêm trang, thể hiện tình cảm, thái độ tôn trọng Quốc kì, Quốc ca.

- Phổ biến nhiệm vụ của tuần, tháng,...

- Sơ kết, đánh giá các phong trào thi đua, việc tổ chức các hoạt động theo chủ điểm của trường, các lớp,...

- Tổng kết các cuộc thi, các hoạt động theo chủ điểm, phát động thi đua,...

- Những nội dung mang tính chất nghi lễ : tổng kết học kì, năm học, mít tinh kỉ niệm các ngày lễ,...

- Những nội dung giáo dục cập nhật : an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn, hoạt động từ thiện, nhân đạo, thông tin thời sự,...

- Văn nghệ xen kẽ các nội dung.

- Nhận xét tiết chào cờ : công tác chuẩn bị, ý thức tham gia của học sinh,... (do Ban giám hiệu thực hiện).

3. Tiết hoạt động tập thể Là tiết chính khoá, có vị trí xác định trong thời khoá biểu, vào cuối tuần, dành cho sinh hoạt lớp, Sao nhi đồng, Đội thiếu niên. Nó có tác dụng đánh giá các hoạt động, công việc của lớp, Sao nhi đồng, Đội thiếu niên ; định hướng tổ chức các hoạt động tiếp theo ; rèn luyện ý thức, năng lực tự quản và tinh thần tập thể cho học sinh. Tiết sinh hoạt tập thể được tổ chức theo quy mô lớp, Chi đội nên vai trò của giáo viên chủ nhiệm rất quan trọng - người lãnh đạo sư phạm về nội dung và phương thức tổ chức cho Ban cán sự lớp và Ban chỉ huy Chi đội, phụ trách Sao nhi đồng.

Nội dung và quy trình tổ chức tiết hoạt động tập thể

* Bước chuẩn bị : Do giáo viên và học sinh các lớp, Chi đội, Sao nhi đồng chuẩn bị gồm : nội dung của tiết sinh hoạt tập thể, biện pháp thực hiện, người phụ trách , người thực hiện, phương tiện vật chất, thời gian, địa điểm. Trong khâu này, giáo viên chủ nhiệm cần bảo đảm vai trò lãnh đạo sư phạm của mình. Thời gian đầu cần bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh các kĩ năng chuẩn bị. Về sau, khi học sinh đã quen việc, đã có kinh nghiệm, chỉ cần vạch phương hướng để học sinh chuẩn bị rồi báo cáo lại để giáo viên kiểm tra.

* Bước tiến hành sinh hoạt : Lần lượt tiến hành các nội dung trong kế hoạch đã dự kiến. - Sơ kết, tổng kết thi đua của lớp, Chi đội, phát động hưởng ứng phong trào thi đua của nhà trường,... - Phổ biến, bàn kế hoạch tuần tới, tháng tới. - Lập kế hoạch tổ chức các hoạt động theo chủ điểm của lớp, Chi đội. - Tổng kết rút kinh nghiệm tổ chức các hoạt động theo chủ điểm. - Các sinh hoạt văn hoá tinh thần : văn nghệ, vui chơi, diễn đàn học sinh, đội viên, câu lạc bộ, một số hình thức thi kể chuyện đạo đức, đọc thơ, hái hoa dân chủ,... - Các nội dung giáo dục cần cập nhật khác. Chú ý : Khi chọn hình thức sinh hoạt nên chú ý đến số đông, tạo cơ hội để mọi đối tượng đều được tham gia, phát huy vai trò làm chủ, khả năng tự quản của học sinh. * Bước nhận xét tiết sinh hoạt tập thể : Nhận xét công tác chuẩn bị, chất lượng tiết sinh hoạt, ý thức tham gia của học sinh, nhi đồng, đội viên. Nên để học sinh tự nhận xét. Kết luận của giáo viên chủ yếu là khuyến khích để gây tâm lí tự tin, hứng thú và tích cực tham gia.

4. Các hoạt động chính trị - xã hội Đó là các hoạt động như đền ơn đáp nghĩa, từ thiện, nhân đạo, lễ hội văn hoá, thi đấu văn nghệ, thể thao, hưởng ứng ngày dân số thế giới, tuần lễ gia đình, môi trường, tháng an toàn giao thông,... Các hoạt động này có tác dụng giáo dục rất lớn đối với học sinh, giúp học sinh hoà nhập cộng đồng, mở rộng phạm vi giao tiếp, tích luỹ kinh nghiệm ứng xử ; đặc biệt là được vận dụng, củng cố kiến thức đạo đức vào thực tế cuộc sống, gắn giáo dục của nhà trường với xã hội.

5. Một số hình thức khác Ngoại khoá : Mời nói chuyện nhân những ngày kỉ niệm, ngày lễ lớn, nói chuyện về phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường, về các tấm gương đạo đức trong cuộc sống, tổ chức ngoại khoá, tham quan,... Trong điều kiện có thể của nhà trường, địa phương. Với phương thức nhà trường và nhân dân cùng làm, nếu tổ chức được theo các hình thức này sẽ có tác dụng giáo dục truyền thống, hình thành niềm tin đạo đức trong học sinh. Các hoạt động giáo dục ngoài giờ phong phú, đa dạng. Do đó, cần tổ chức linh hoạt theo điều kiện của lớp, trường, địa phương mình. Trong thực tế, giáo viên chủ nhiệm vừa là người trực tiếp tổ chức các hoạt động giáo dục, vừa dạy môn Đạo đức. Để tổ chức có hiệu quả các hoạt động giáo dục, giáo viên chủ nhiệm cần có các kĩ năng : - Kĩ năng xác định mục tiêu. - Kĩ năng thiết kế chương trình, kế hoạch tổ chức hoạt động. - Kĩ năng triển khai hoạt động. - Kĩ năng tiếp cận và huy động quần chúng, nhất là phối kết hợp với Đội thiếu niên, Hội cha mẹ học sinh. - Kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục, điều chỉnh kế hoạch, mục tiêu hoạt động.

Đánh giá hoạt động 4

Câu 1 : Phương án nào trong các phương án sau giúp cho việc giáo dục đạo đức cho học sinh đạt kết quả tốt nhất ?

c a) Dạy thật tốt các tiết học trên lớp. c b) Dạy tốt môn Đạo đức. c c) Tổ chức tốt việc dạy học trên lớp và hoạt động giáo dục khác. c d) Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục khác. Câu 2 : Theo bạn, người giáo viên tiểu học có trách nhiệm gì trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh ?

Câu 3 : Bạn hãy xây dựng kế hoạch tổ chức tiết sinh hoạt lớp theo chủ điểm 20-11. 4.5. Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học Hoạt động 5. TÌM HIỂU CÁC NHÓM PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Thời gian : 10 phút Nhiệm vụ

Bằng hiểu biết và kinh nghiệm của mình, bạn hãy chỉ ra các phương pháp giáo dục thường được vận dụng vào giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện nay bằng cách điền dấu x vào ô trống trong bảng sau cho thích hợp :

Tần số sử dụng Tên phương pháp/ nhóm các phương pháp Thường

xuyên Thỉnh thoảng

Không

a) Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội, tích luỹ kinh nghiệm ứng xử

- Phương pháp nêu yêu cầu sư phạm

- Phương pháp tạo dư luận xã hội

- Phương pháp tập luyện

- Phương pháp rèn luyện

- Phương pháp giao công việc

- Phương pháp tạo tình huống giáo dục

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp diễn đàn

b) Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân

- Kể chuyện

- Đàm thoại

- Phương pháp đối thoại

- Giảng giải

- Nêu gương

c) Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động, điều chỉnh hành vi ứng xử của học sinh

- Khuyến khích

- Khen thưởng

- Trách phạt

d) Nhóm các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức

- Quan sát

- Thực nghiệm tự nhiên

- Vấn đáp/ phỏng vấn

- Ankét

Hoạt động 6. TÌM HIỂU NHÓM CÁC PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH Ý THỨC CÁ NHÂNTRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Thời gian : 30 phút Nhiệm vụ

Bạn hãy đọc thông tin cơ bản dưới đây, sau đó thực hiện các yêu cầu :

- Giải thích khái niệm về các phương pháp đàm thoại, kể chuyện, giảng giải, nêu gương trong giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

- Tóm tắt các bước tiến hành các phương pháp trên. Thông tin cơ bản

Phương pháp giáo dục đạo đức là cách thức hoạt động, giao lưu giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức. Có thể xếp các phương pháp giáo dục đạo đức ở Tiểu học theo 4 nhóm phương pháp như sau.

4.5.1. Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân Chức năng của nhóm phương pháp này là cung cấp cho học sinh những tri thức về đạo đức theo các chuẩn mực xã hội. Trên cơ sở đó hình thành niềm tin đạo đức cho học sinh. Ý thức đó (tổng hoà của tri thức, niềm tin đạo đức) có tác dụng định hướng, điều chỉnh cho thái độ tình cảm, hành vi, việc làm của học sinh. Nói cách khác, ý thức được hình thành đúng đắn giúp cho học sinh biết cách cư xử phù hợp với nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mà xã hội đòi hỏi ở từng thành viên trong các mối quan hệ với bản thân, với những người xung quanh, với công việc, với môi trường... Các phương pháp cụ thể ở đây là : kể chuyện, đàm thoại, giảng giải, nêu gương.

a) Phương pháp đàm thoại

Là phương pháp tổ chức trò chuyện, chủ yếu là giữa giáo viên và học sinh, về các chủ đề đạo đức - thẩm mỹ dựa trên một hệ thống câu hỏi nhất định.

Ở tiểu học, khi sử dụng phương pháp đàm thoại, giáo viên đưa ra các hành vi, sự kiện cụ thể để học sinh vận dụng kinh nghiệm bản thân, phân tích, đối chiếu, đánh giá và từ

đó các em đi đến kết luận khái quát về chuẩn mực cần thực hiện. Khi phân tích hành vi, việc làm cụ thể nào đó, các em thấy được lợi ích, những điều tốt đẹp hay tác hại, những hậu quả xấu xảy ra từ các hành vi, việc làm đó. Trên cơ sở cân nhắc “cái lợi” hay “cái hại”, kết hợp với kinh nghiệm bản thân, các em sẽ rút ra bài học cho mình - cần làm gì trong tình huống tương tự.

Tuỳ thuộc vào tính chất của chuẩn mực, vào khả năng và kinh nghiệm sống của học sinh, tay nghề sư phạm của giáo viên mà bài học được học sinh rút ra có mức độ khác nhau. Kết luận này có thể phản ánh ba nội dung :

- Yêu cầu của chuẩn mực hành vi.

- Ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực hành vi.

- Cách thức thực hiện chuẩn mực này.

Trong đàm thoại, vai trò của giáo viên là định hướng, giúp các em phân tích, đánh giá hành vi, sự kiện, qua trả lời hệ thống câu hỏi. Vì vậy, giáo viên cần gợi ý, hướng dẫn cho các em tự giải quyết vấn đề, tự đi đến kết luận về chuẩn mực hành vi.

Có thể tiến hành phương pháp đàm thoại theo 3 bước sau :

* Bước chuẩn bị

Trong quá trình chuẩn bị, giáo viên cần giải quyết các công việc cụ thể là :

- Xác định chủ đề đàm thoại : Căn cứ vào nhiệm vụ, yêu cầu giáo dục đối với học sinh do thực tiễn đòi hỏi (ví dụ, vì sao phải bảo vệ môi trường...) ; căn cứ vào thực tiễn đời sống của học sinh, mức độ được giáo dục của chúng,... mà xác định chủ đề đàm thoại cho phù hợp. Nó phải được đặt ra như là một đòi hỏi tất yếu khách quan của quá trình giáo dục vào thời điểm đó. Ngược lại, việc đặt ra vấn đề trên một cách gượng ép, theo chủ quan của giáo viên thì sẽ ít có tác dụng giáo dục.

- Chuẩn bị tư liệu đàm thoại : Công việc này có ý nghĩa to lớn bởi lẽ, tư liệu đàm thoại ở đây phản ánh các hành vi ứng xử, các sự kiện, hiện tượng,... mà trên cơ sở đó nó phải mang tính chất điển hình, hành vi ở đó phải “đắt”, kết quả hay hậu quả của nó phải rõ ràng để rút ra kết luận mang tính thuyết phục cao. Tốt nhất là nên khai thác những sự kiện, việc làm, hành vi có thực xung quanh các em và gây được ấn tượng nhất định đối với chúng.

- Xây dựng hệ thống câu hỏi : Các câu hỏi này cần đi từ việc phân tích hành vi, việc làm cụ thể và trên cơ sở đó rút ra kết luận chung cần thực hiện. Chúng cần được xây dựng thành một hệ thống, phù hợp với khả năng, kinh nghiệm của học sinh. Thông thường hệ thống câu hỏi của giáo dục đạo đức nên xoáy vào tìm hiểu ý nghĩa và cách thực hiện hành vi.

- Để phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh tiểu học, đàm thoại hiệu quả, cần kết hợp với trình bày trực quan - dùng phương tiện trực quan để minh hoạ cho chuẩn mực hành vi ; cần thông báo trước cho học sinh về chủ đề đàm thoại để các em có thể trao đổi, tìm hiểu trước vấn đề, giao nhiệm vụ sưu tầm, chuẩn bị tranh ảnh, hiện vật,... cho học sinh ; dự kiến khả năng và câu trả lời của học sinh.

* Bước đàm thoại

- Giới thiệu chủ đề mục đích của buổi đàm thoại : Giáo viên nêu bật “tính thời sự” của vấn đề đàm thoại, từ đó giúp các em hiểu sự cần thiết của việc nắm vững tri thức, có ý thức đúng đắn về vấn đề đó, hiểu được ý nghĩa của nó đối với bản thân, tập thể, cộng đồng,...

- Giới thiệu tư liệu đàm thoại : Bằng cách kể chuyện, trình bày trực quan, giáo viên giới thiệu tư liệu đàm thoại (đã được lựa chọn ở bước chuẩn bị).

- Giáo viên nêu câu hỏi, học sinh trả lời : Giáo viên lần lượt nêu các câu hỏi cho học sinh trả lời. Giáo viên chỉ nên hỏi, không trả lời thay cho học sinh, không nên nói nhiều. Khi các em gặp câu hỏi khó trả lời thì giáo viên khéo léo gợi ý bằng những câu hỏi gợi mở đơn giản hơn. Nếu học sinh trả lời không đầy đủ thì yêu cầu các em khác bổ sung ý kiến. Nhờ đó, các em sẽ tự đi đến kết luận cần thiết.

Trong thực tiễn, giáo viên có thể đàm thoại với cả lớp, với một nhóm học sinh hoặc từng em riêng biệt. Ở tiểu học, nên tiến hành đàm thoại theo con đường quy nạp, tức là đi từ hành vi, sự kiện cụ thể đến chuẩn mực, quy tắc hành vi chung.

* Tổng kết đàm thoại

- Giáo viên, hay tốt hơn là học sinh đàm thoại như là bài học cần thực hiện, trong đó cần nêu rõ ý nghĩa, tác dụng và cách thực hiện hành vi.

- Sẽ rất tốt nếu đề ra được chương trình hành động cụ thể về thực hiện các công việc, hành vi để củng cố chuẩn mực vừa kết luận. Các biện pháp giáo dục được vận dụng ở đây là tổ chức thi đua, khuyến khích thực hiện.

b) Phương pháp kể chuyện

Kể chuyện là phương pháp giáo viên dùng lời của mình thuật lại một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục.

Trong câu chuyện do giáo viên nêu ra, các nhân vật thực hiện các hành vi đạo đức nhất định trong những tình huống nào đó. Những hành vi này có thể là tốt hay xấu và chúng gây ra, dẫn đến những kết quả, hậu quả nhất định. Nhờ có những kết quả, hậu quả này, cùng với kinh nghiệm cuộc sống của bản thân, học sinh sẽ rút ra cho mình bài học đạo đức cần thiết.

Học sinh tiểu học rất ham thích nghe kể chuyện. Các em nghe kể chuyện với hứng thú rất cao. Những câu chuyện hấp dẫn có thể gây ra ở học sinh những ấn tượng mạnh mẽ, những xúc cảm sâu sắc, tác động mạnh đến hành vi của các em và có khi, các em ghi nhớ nó suốt đời.

Kể chuyện là phương pháp vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Tính khoa học đòi hỏi phải trung thực với nội dung cốt truyện, nhằm cung cấp cho học sinh biểu tượng hành vi đạo đức, từ đó giáo dục mẫu hành vi cho các em. Tính nghệ thuật đòi hỏi phải hình thành xúc cảm đạo đức trong học sinh, lời kể phải diễn cảm, kết hợp lời kể với các yếu tố phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, thái độ.

Trong một số năm qua, cuộc thi kể chuyện đạo đức đựợc tổ chức sâu rộng từ cấp trường đến cấp Quốc gia hằng năm. Đó chính là một nghệ thuật của khoa học giáo dục đạo đức,

có tác dụng giáo dục rất lớn. Bởi vậy nên khuyến khích, hướng dẫn học sinh sưu tầm và tự kể.

Có thể thực hiện việc kể chuyện theo các bước sau :

* Chuẩn bị

- Lựa chọn truyện kể : Căn cứ vào chủ đề đạo đức, nguồn tư liệu có thể, đặc điểm tâm sinh lí, hứng thú, khả năng tiếp thu của học sinh,... giáo viên lựa chọn câu chuyện phù hợp để kể cho các em. Đó có thể là truyện lấy từ thực tiễn cuộc sống, học tập của học sinh, từ thực tế xung quanh, hoặc từ sách báo, nội dung phát thanh, truyền hình.

- Tập dượt kể chuyện : Công việc này có tác dụng giúp cho giáo viên có khả năng kể một cách lưu loát, tự tin trước học sinh. Trong đó, giáo viên cần xác định rõ tư tưởng nổi bật, các tình tiết cơ bản và các tình huống đạo đức,... của truyện kể để thể hiện đúng tính chất hành vi của nhân vật trong truyện.

- Ngoài ra, giáo viên còn dự kiến những câu hỏi để giúp học sinh phân tích truyện kể, những phương tiện trực quan minh hoạ (nếu cần).

* Các bước kể chuyện

- Giới thiệu khái quát về nội dung câu chuyện : Giáo viên có thể bắt đầu việc kể chuyện bằng lời đánh giá chung câu chuyện - đó là một câu chuyện về hành vi, việc làm này tốt hay xấu,... Điều này giúp cho các em định hướng tốt hơn ý nghĩa của câu chuyện.

- Nêu một vài câu hỏi khái quát về câu chuyện : Trước khi kể, giáo viên nêu một vài câu hỏi nhằm giúp các em nắm vững hơn diễn biến câu chuyện và giúp chúng phân tích, đánh giá câu chuyện sau khi kể xong. Ví dụ “các em hãy nghe cô kể chuyện và sau đó cho biết, các em có tán thành với việc làm của bạn B trong truyện này hay không, vì sao?”

- Trình bày nội dung câu chuyện : Khi kể chuyện, giáo viên có thể sử dụng lời nói trực tiếp hoặc gián tiếp. Bằng ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, giàu cảm xúc, với điệu bộ tự nhiên, cử chỉ, vẻ mặt phù hợp, giáo viên thuật lại nội dung câu chuyện. Đồng thời, còn tạo ra sự chú ý tiếp thu câu chuyện từ phía học sinh một cách tích cực, giúp chúng hoà nhập vào nội dung câu chuyện để có hiệu quả giáo dục cao hơn.

Khi kể chuyện, giáo viên có thể sử dụng các phương tiện trực quan, song giữa lời nói và việc trình bày trực quan phải thống nhất, phù hợp với nhau.

* Đánh giá câu chuyện

Sau khi kể xong câu chuyện, giáo viên nêu lại câu hỏi đã đặt ra trước khi kể chuyện để học sinh phân tích, đánh giá nội dung câu chuyện và rút ra kết luận cần thiết cho mình - cần noi theo, học tập tấm gương trong truyện hay cần tránh.

c) Phương pháp giảng giải

Giảng giải là phương pháp giáo viên dùng lời của mình để trình bày, giải thích, chứng minh cho chuẩn mực đạo đức nào đó.

Phương pháp này có tác dụng giúp học sinh nhận thức đầy đủ, chính xác về mẫu hành vi đạo đức, hiểu sâu về chuẩn mực hành vi, nhận thức đúng, sai. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp giảng giải là nếu lạm dụng nó thì có thể dẫn đến sự thuyết giáo khô khan, kém hấp dẫn, làm hạn chế hứng thú nhận thức và tính tích cực, độc lập của học sinh.

Có thể tiến hành giảng giải theo các bước sau :

* Chuẩn bị

- Chuẩn bị nội dung giảng giải : Căn cứ vào chủ đề đạo đức, đặc điểm tâm sinh lí, khả năng nhận thức của học sinh,... giáo viên cần xác định nội dung giảng giải phù hợp. Đối với từng chuẩn mực, thông thường cần giảng giải hai vấn đề :

+ Ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực.

+ Cách thực hiện chuẩn mực đó.

Khi chuẩn bị những nội dung này, giáo viên cần xác định hết sức chi tiết cho từng nội dung. Ví dụ, khi dự kiến nội dung liên quan đến tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực thì cần làm rõ - việc thực hiện đó mang lại lợi ích, tác dụng gì cho người khác, cho bản thân và ngược lại, nếu làm trái ngược thì có tác hại gì,...

- Ngoài ra giáo viên cần lựa chọn ví dụ, dẫn chứng minh hoạ, phương tiện trực quan cho những điều giảng giải. Tốt nhất là lấy dẫn chứng có thực trong cuộc sống mà các em biết rõ.

* Giảng giải

- Trước hết giáo viên cần nêu lên một số hiện tượng có thực trong thực tế để trên cơ sở đó dẫn dắt vấn đề cần giảng giải. Bằng cách đó, giáo viên giúp các em thấy được “tính thời sự” của vấn đề cần giảng giải và tạo nên sự “háo hức” chờ đợi, muốn biết rõ bản chất của vấn đề mà mình chưa hiểu biết hay chưa thật sâu sắc.

- Khi giảng giải những nội dung như đã chuẩn bị, để thu hút sự chú ý của học sinh, giáo viên có thể kết hợp với đàm thoại, trình bày trực quan, nêu gương,... Ở đây, cần chú ý rằng, tư duy trực quan - cụ thể của học sinh tiểu học còn chiếm ưu thế, do đó, mức độ khái quát của những điều giảng giải phải vừa sức với khả năng nhận thức của chúng, tránh dùng khái niệm trừu tượng, diễn đạt phải ngắn gọn, dễ hiểu, song cũng tránh dùng từ thô thiển.

* Tổng kết

Sau giảng giải, giáo viên cần kết luận ngắn gọn về chuẩn mực hành vi cần thực hiện để các em dễ nhớ, dễ vận dụng. Bên cạnh đó, giáo viên liên hệ với thực tế đời sống của lớp, của học sinh và khuyến khích các em thực hiện theo chuẩn mực vừa được giảng giải.

d) Phương pháp nêu gương

Nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương mẫu mực, cụ thể, sống động trong đời sống để kích thích học sinh bắt chước.

Trong giáo dục, tấm gương được sử dụng như phương tiện giáo dục. Nó làm cho chuẩn mực đạo đức trở nên trực quan hơn, cụ thể hơn, có sức thuyết phục hơn. Lời nói sẽ giảm

giá trị, giảm ảnh hưởng nếu nó không có các tấm gương thực tế sinh động, cụ thể của người khác chứng minh.

Phương pháp nêu gương dựa vào tính bắt chước, tính ưu thế của tư duy trực quan - cụ thể ở học sinh tiểu học. Nêu một tấm gương tốt là để học sinh soi mình vào mà bắt chước, cố gắng thực hiện được những hành động, hành vi, việc làm cụ thể như tấm gương đó. Những mẫu mực cụ thể sẽ làm cơ sở, chỗ dựa quan trọng cho học sinh khi ý thức đạo đức của các em chưa được hình thành đầy đủ. Bởi vậy nêu gương thường được sử dụng kết hợp với phương pháp khuyến khích, đàm thoại, kể chuyện.

Có thể tiến hành phương pháp nêu gương theo các bước sau :

* Chuẩn bị

- Lựa chọn tấm gương : Căn cứ vào nhiệm vụ, nội dung giáo dục, đặc điểm tâm sinh lí, đặc điểm đời sống, khả năng, kinh nghiệm của học sinh,... mà giáo viên lựa chọn tấm gương phù hợp để nêu gương. Đó có thể là tấm gương lấy từ bạn học sinh trong lớp, trong trường, từ các cá nhân trong cộng đồng, từ các phương tiện truyền thông,... Song, tấm gương ở đây cần mang tính chất tiêu biểu, mẫu mực, gần gũi với cuộc sống của học sinh.

- Ngoài ra, giáo viên có thể chuẩn bị các bức ảnh, tranh liên quan đến tấm gương để minh hoạ.

* Nêu gương

Bằng biện pháp kể chuyện, đàm thoại, giải thích, trình bày trực quan,... giáo viên giúp học sinh ý thức được tấm gương đó là tốt và vì sao là tốt. Trên cơ sở đó, các em sẽ rút ra kết luận phù hợp - cần bắt chước hay tránh tấm gương vừa nêu. Điều đặc biệt quan trọng ở đây là, việc nêu gương phải gây được ở các em ấn tượng, cảm xúc làm cho các em ghi nhớ tấm gương lâu hơn và điều đó luôn nhắc nhở các em.

* Tổng kết

Sau nêu gương, cần kích thích, khuyến khích động viên học sinh thực hiện theo tấm gương đã học.

4.5.2. Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội, tích luỹ kinh nghiệm ứng xử cho học sinh Hoạt động 7. TÌM HIỂU NHÓM CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI, TÍCH LUỸ KINH NGHIỆM ỨNG XỬ TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Thời gian : 30 phút Nhiệm vụ

Bạn hãy đọc thông tin cơ bản đưới đây, sau đó thực hiện các yêu cầu :

- Giải thích khái niệm về các phương pháp nêu yêu cầu sư phạm, tập luyện, rèn luyện, trong giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

- Tóm tắt các bước tiến hành các phương pháp trên.

Thông tin cơ bản Những phương pháp này giúp cho học sinh thực hiện các hành vi ứng xử trong cuộc sống

sinh hoạt hàng ngày, tiến hành các hoạt động khác nhau của mình sao cho có hiệu quả. Qua đó phải hình thành cho học sinh các thao tác, các hành động, hành vi và thói quen đúng đắn ; tập luyện, rèn luyện cho các em các kĩ năng, kĩ xảo thực hiện các hoạt động. Hành vi ứng xử, kinh nghiệm thực hiện công việc là thước đo nhân cách quan trọng. Có thể nói, chỉ khi nào học sinh có thói quen đạo đức, có kĩ năng, kĩ xảo về hành vi tốt, đúng chuẩn mực đạo đức, thì các em mới được coi là bước đầu chiếm lĩnh được kinh nghiệm lịch sử - xã hội. Nhóm này có các phương pháp : nêu yêu cầu sư phạm, tập luyện, rèn luyện.

a) Phương pháp nêu yêu cầu sư phạm Nêu yêu cầu sư phạm là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hiện nội quy, quy chế dành cho chúng hay yêu cầu chúng thực hiện hành vi công việc cụ thể phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, quy định tập thể.

Trở thành thành viên của tập thể lớp, Sao nhi đồng, Đội thiếu niên, trẻ em phải được vũ trang những chuẩn mực hành vi, những quy tắc, nội quy của đời sống tập thể - cái gì có thể, cái gì phải thực hiện, cái gì được khuyến khích, cái gì bị phạt, bị lên án,... Ngay từ đầu, nhà giáo dục nên nêu ra các yêu cầu đối với trẻ và tổ chức cho chúng thực hiện các yêu cầu.

Trong thực tiễn giáo dục, yêu cầu sư phạm thường được nêu ra như một nhiệm vụ, một quy định cụ thể mà tập thể lớp đề ra cho các thành viên của mình - học sinh phải đi học đúng giờ, phải làm bài tập về nhà đầy đủ... Yêu cầu sư phạm cũng có thể được sử dụng để chấn chỉnh hành vi của trẻ, nhất là trong những trường hợp học sinh vi phạm kỉ luật, nội quy, cần đề ra những yêu cầu buộc trẻ thay đổi hành vi cho phù hợp.

Có thể thực hiện phương pháp nêu yêu cầu sư phạm theo các bước như sau :

* Chuẩn bị

- Giáo viên xác định nội dung yêu cầu sư phạm : Căn cứ vào nội quy, quy chế dành cho học sinh, điều lệ Sao nhi đồng, Đội thiếu niên, nhiệm vụ mà học sinh đang thực hiện, giai đoạn, mức độ phát triển của tập thể trẻ em, khả năng thực hiện và kinh nghiệm đời sống tập thể của học sinh,... mà xác định nội dung yêu cầu sư phạm cho phù hợp. Khi đó, cần xác định rõ những hành vi, công việc học sinh cần thực hiện và cả ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện yêu cầu sư phạm. Yêu cầu sư phạm được nêu ra phải công bằng, phải mang tính hiện thực. Tuy nhiên, ở đây không nên cùng một lúc nêu ra quá nhiều yêu cầu hay nội dung của yêu cầu không vừa sức với các em, đặc biệt là yêu cầu quá cao.

- Dự kiến cách thực hiện yêu cầu : Điều này có tác dụng ở chỗ, giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách thực hiện yêu cầu sư phạm sao cho có hiệu quả. Việc dự kiến các cách thực hiện này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh thực tế khách quan, nội dung của yêu cầu sư phạm, khả năng và kinh nghiệm của học sinh,...

- Dự kiến các biện pháp hỗ trợ việc thực hiện yêu cầu : Trong nhiều trường hợp, để giúp học sinh thực hiện tốt yêu cầu sư phạm, nhất là vào giai đoạn đầu, cần có các biện pháp hỗ trợ các em từ phía gia đình, xã hội, bạn bè,...

- Dự kiến các biện pháp kiểm tra, đánh giá việc thực hiện : Các biện pháp này giúp cho

giáo viên có thể kiểm soát, điều chỉnh, thúc đẩy việc thực hiện yêu cầu của học sinh. Tuỳ tính chất của yêu cầu sư phạm, khả năng phối hợp các lực lượng giáo dục mà giáo viên có thể trực tiếp kiểm tra hoặc thông qua đội ngũ tự quản của học sinh, thông qua gia đình, tổ chức Đội thiếu niên, Sao nhi đồng.

Cần dùng các biện pháp đánh giá khuyến khích (biểu thị sự đồng tình, ủng hộ, khen ngợi đối với những học sinh thực hiện tốt yêu cầu sư phạm và có nhiều cố gắng) và trách phạt (biểu thị sự phản đối, chê trách đối với những hành vi không phù hợp yêu cầu đặt ra).

- Ngoài ra giáo viên có thể dự kiến khả năng thực hiện yêu cầu sư phạm của học sinh để tác động giúp đỡ, hỗ trợ (những học sinh sẽ thực hiện tốt ngay từ đầu, những học sinh “cá biệt”...), chuẩn bị phương tiện trực quan minh hoạ cho cách thực hiện yêu cầu.

* Bước nêu yêu cầu

Trước hết giáo viên nêu rõ sự cần thiết phải thực hiện yêu cầu sư phạm, tác dụng của nó đối với tập thể và đối với từng cá nhân. Sau đó, giáo viên giúp học sinh nắm vững :

- Yêu cầu sư phạm có những nội dung gì ?

- Các em cần thực hiện yêu cầu sư phạm như thế nào ?

* Tổ chức việc thực hiện yêu cầu

Đây là bước rất quan trọng, bởi nhờ bước này mà tri thức biến thành hành vi, việc làm cụ thể và qua việc thực hiện thường xuyên, ở các em sẽ hình thành được những thói quen tích cực.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, giáo viên cần kiểm tra, đánh giá kịp thời, cần tổ chức thi đua sôi nổi, lành mạnh giữa các cá nhân trong tổ, nhóm và giữa các tổ, nhóm trong lớp với nhau. Điều quan trọng là yêu cầu đã nêu ra phải được thực hiện đến cùng. Bên cạnh đó, cần đề cao vai trò của đội ngũ tự quản, của tổ chức Đội, Sao trong việc tổ chức thực hiện.

b) Phương pháp tập luyện Tập luyện là phương pháp tổ chức cho học sinh lặp đi lặp lại một cách thường xuyên, có hệ thống các thao tác, các hành động nhất định nhằm biến chúng thành kĩ năng, kĩ xảo, thói quen cần thiết.

Việc tập luyện được thực hiện trong các tình huống, điều kiện khác nhau với tần số cao thì việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo, thói quen càng có hiệu quả. Ngược lại nếu tính thường xuyên và tính hệ thống bị vi phạm thì khó có thể giúp các em có được kĩ năng, kĩ xảo, thói quen tích cực.

Kĩ năng, kĩ xảo giúp cho học sinh hình thành thói quen thực hiện các công việc trong hoạt động, đời sống một cách có chất lượng và hiệu quả. Thói quen tốt có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành các nét phẩm chất nhân cách con người. Đặc biệt là ở học sinh tiểu học, khi hành vi của chúng chưa thực sự bền vững, các em chưa có nhiều kinh nghiệm ứng xử trong các mối quan hệ thì việc hình thành các thói quen tốt bền vững ngay từ nhỏ cho chúng lại càng quan trọng.

Có thể tổ chức việc tập luyện cho học sinh theo các bước sau :

* Chuẩn bị

- Giáo viên xác định nội dung của mẫu hành vi hay các thao tác cơ bản : Căn cứ vào nhiệm vụ giáo dục của học sinh mà giáo viên xác định nội dung chi tiết của mẫu hành vi. Trong đó cần làm rõ mẫu hành vi này bao gồm những thao tác cụ thể nào, những thao tác nào đã được học sinh thực hiện tốt, những thao thác nào chưa được tốt.

- Chuẩn bị phương tiện trực quan : Những phương tiện trực quan này có tác dụng minh hoạ cho mẫu hành vi. Đó có thể là tranh vẽ, ảnh, phim đèn chiếu, hoặc động tác mẫu,... Bên cạnh đó, giáo viên có thể huấn luyện trước một số học sinh để làm mẫu cho cả lớp.

* Huấn luyện

- Củng cố ý thức học sinh về mẫu hành vi : Bằng đàm thoại hay giảng giải, giúp học sinh nắm vững :

+ Mẫu hành vi có những thao tác nào ?

+ Cách thực hiện ra sao ?

+ Tại sao phải thực hiện như vậy ?

- Trình bày trực quan về mẫu hành vi : Với phương tiện trực quan đã chuẩn bị, giáo viên tổ chức cho học sinh quan sát mẫu hành vi. Khi đó, giáo viên cũng đưa ra cả những “mẫu” sai mà học sinh thường mắc phải để tự phát hiện ra cái sai và tự đề xuất cách sửa.

- Tổ chức cho học sinh làm thử : Tổ chức cho cả lớp tập làm theo các thao tác của mẫu hành vi vừa quan sát. Ở đây, điều quan trọng là mọi học sinh đều được làm thử và bước đầu nên quan tâm đến việc thực hiện đúng mẫu mà chưa yêu cầu thực hiện nhanh.

* Tiến hành hằng ngày

Hằng ngày, học sinh thực hiện hành vi đạo đức theo mẫu của chuẩn mực được học ở mọi lúc, mọi nơi trong các mối quan hệ, trong các điều kiện, tình huống khác nhau. Nhờ việc tập luyện thường xuyên như vậy, hành vi của học sinh sẽ trở thành kĩ xảo, thói quen bền vững.

Trong quá trình này, giáo viên phối hợp với gia đình và các tổ chức xã hội, đặc biệt là Đội thiếu niên, Sao nhi đồng, đội ngũ tự quản của học sinh, để kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hành vi của các em.

Khi tập luyện hành vi cho học sinh, giáo viên có thể sử dụng biện pháp tạo tình huống giáo dục. Tức là, giáo viên chủ động tạo ra các tình huống đạo đức một cách tự nhiên, đặt cho học sinh một cách “tình cờ” trước tình huống đó để các em tự lựa chọn cách ứng xử cho mình. Khi đó, việc thực hiện hành vi của trẻ không phải là do thầy cô, cha mẹ, bạn bè ép buộc mà hoàn toàn theo ý thức, thái độ tự giác của các em. Từ đó học sinh biết lựa chọn hành vi sao cho phù hợp chuẩn mực, những hành vi “thiện”, không mang lại điều “ác” cho người khác, cho xã hội. “Một hành vi thực sự đạo đức là hành vi vì người khác được thực hiện khi không có ai nhìn thấy” (A.X.Ma-ka-ren-kô).

Một trong những phương tiện quan trọng để tập thói quen hành vi là chế độ giờ giấc. Việc tuân thủ chế độ giờ giấc có vai trò quan trọng đặc biệt đối với học sinh tiểu học vì ở chúng, ý chí chưa được hình thành đầy đủ. Chế độ giờ giấc nghiêm ngặt, chặt chẽ giúp trẻ củng cố các hành động tích cực, điều khiển ước muốn của mình, tạo ra các thói quen tích cực.

c) Phương pháp rèn luyện

Rèn luyện là phương pháp tổ chức các hoạt động và cuộc sống đa dạng, phong phú cho học sinh, tạo cho các em điều kiện ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội, có các kĩ năng tổ chức các hoạt động của mình.

Ngoài học tập, học sinh tiểu học còn tham gia các hoạt động khác nhau (vui chơi, lao động, công tác xã hội) dưới các hình thức cụ thể như văn nghệ, báo tường, hái hoa dân chủ, tham quan,... Một quy luật quan trọng của giáo dục học là : hoạt động càng phong phú, đa dạng thì quá trình giáo dục diễn ra càng có hiệu quả. Phương pháp này giúp cho giáo viên tổ chức các hoạt động, sau đó là cuộc sống của trẻ một cách có hiệu quả hơn. Nhờ đó, ở trẻ hình thành được kinh nghiệm thực tiễn về tổ chức và thực hiện hoạt động, về các mối quan hệ tập thể, các mối quan hệ xã hội và các nét phẩm chất nhân cách.

Trong thực tiễn nhà trường tiểu học, phương pháp này thường được vận dụng để tổ chức các hoạt động theo chủ điểm, các sinh hoạt tập thể.

Có thể tiến hành việc rèn luyện theo các bước sau :

* Chuẩn bị

- Giáo viên xác định nhiệm vụ giáo dục : Đối với chủ điểm cụ thể căn cứ vào đặc điểm, tính chất của chủ điểm, cũng như mức độ được giáo dục của học sinh để xác định các nhiệm vụ giáo dục phù hợp (về 3 mặt : ý thức, thái độ và kĩ năng hành vi).

- Dự kiến các công việc, hoạt động sẽ tổ chức : Để giải quyết các nhiệm vụ đã được xác định, cần dự kiến các công việc, hoạt động khác nhau trên cơ sở tính đến khả năng và hứng thú của học sinh, quỹ thời gian cho phép, điều kiện về cơ sở vật chất,... Điều quan trọng là các công việc đó phải vừa sức, mang tính khả thi, có như vậy mới có hiệu quả giáo dục cao.

- Dự kiến người thực hiện : Căn cứ vào nội dung và tính chất công việc, khả năng và hứng thú của học sinh, giáo viên dự kiến những học sinh thực hiện các công việc, hoạt động.

- Dự kiến thời gian thực hiện : Cần dự kiến thời gian cho cả chủ điểm và cho từng công việc cụ thể.

- Dự kiến cơ sở vật chất : Đối với một số công việc cụ thể, cần đến những phương tiện vật chất nhất định thì cần dự kiến : để tiến hành công việc đó cần những vật liệu, dụng cụ, phương tiện, thiết bị gì ?

- Dự kiến địa điểm tiến hành : Những công việc, hoạt động được tổ chức theo chủ điểm không những tiến hành ở lớp, ở trường mà còn có thể ở ngoài trường (tham quan, lao động, thăm doanh trại bộ đội, gia đình thương binh liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhà bảo tàng,...)

* Lập kế hoạch của học sinh

Sự chuẩn bị trên của giáo viên đóng vai trò định hướng, gợi ý cho việc lập kế hoạch, tổ chức các công việc theo chủ điểm. Để phát huy vai trò tích cực, tự giác, tính chủ động, sáng tạo của học sinh, cần tạo điều kiện cho học sinh lập kế hoạch công việc của mình mà không cần có sự áp đặt của giáo viên. Tuy nhiên, không phải bất kì tập thể lớp nào

cũng có khả năng tự lập kế hoạch. Để học sinh có những kĩ năng tự quản đó, cần phải có một quá trình, trong đó, vai trò dẫn dắt, gợi mở cùng với những nỗ lực sư phạm to lớn của người giáo viên đóng vai trò cực kì quan trọng.

Khi lập kế hoạch, học sinh sẽ trao đổi, bàn bạc và quyết định :

- Lớp sẽ tổ chức những công việc gì ?

- Ai sẽ tham gia từng công việc đó ?

- Khi nào thì tiến hành công việc đó ?

Như vậy, sau khi lập kế hoạch, từng học sinh sẽ nắm được bản thân mình tham gia công việc gì, cùng với ai, khi nào thì tiến hành, ở đâu ?

Ngoài ra, lớp còn cần bầu ra ban chỉ huy với nhiệm vụ tổ chức, theo dõi, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của các nhóm, cá nhân.

* Thực hiện kế hoạch của học sinh

Theo kế hoạch, với nhiệm vụ được giao, các nhóm, từng cá nhân học sinh thực hiện công việc của mình. Trong quá trình thực hiện, các nhóm, cá nhân báo cáo với ban chỉ huy về tiến độ, mức thực hiện các đề xuất... theo định kì. Ban chỉ huy cần theo dõi sát sao công việc của các nhóm, cá nhân và từ đó, có sự giúp đỡ khi cần thiết.

Khi các công việc thực hiện xong, cần trưng bày sản phẩm, biểu diễn, báo cáo kết quả... trước lớp để cả tập thể cùng học tập, thưởng thức, cùng chia sẻ.

* Học sinh tổng kết, đánh giá

Sau khi kết thúc việc tổ chức các công việc, học sinh tập hợp lại để tổng kết, đánh giá những công việc mình làm - những việc làm tốt và những việc làm chưa tốt theo kế hoạch, nguyên nhân ; cần khen ngợi hay phê bình những ai ; có thể rút kinh nghiệm gì cho những lần tổ chức các chủ điểm tới và gợi ý cho học sinh về việc tổ chức chủ điểm tiếp theo.

4.5.3. Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của học sinh Hoạt động 8. TÌM HIỂU NHÓM CÁC PHưƠNG PHÁP KÍCH THÍCH HOẠT ĐỘNG VÀ ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI ỨNG XỬ TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Thời gian : 15 phút Nhiệm vụ

Bạn hãy đọc thông tin cơ bản đưới đây, sau đó thực hiện các yêu cầu :

- Giải thích khái niệm về các phương pháp khuyến khích, trách phạt trong giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

- Cùng trao đổi để rút ra một số điều cần lưu ý khi vận dụng các phương pháp đó. Thông tin cơ bản

Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử trong giáo dục đạo đức cho học sinh thực hiện chức năng kích thích, điều chỉnh hành vi hoạt động

của học sinh, tức là củng cố, khích lệ, động viên, đồng tình... (đối với những hành vi và việc làm tốt) hay ngược lại - chê trách, nhắc nhở, cấm đoán, trách phạt... (đối với các hành vi, việc làm chưa tốt). Nhờ đó, giáo viên có thể phát huy được những mặt tốt, tích cực và hạn chế được những yếu tố chưa tốt, tiêu cực ở học sinh. Ngoài ra, qua đây giáo viên còn có thể hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn đối với bản thân, đối với người và công việc khác. Các phương pháp cụ thể của nhóm này là khuyến khích, trách phạt.

a) Phương pháp khuyến khích Khuyến khích là một phương pháp giáo viên biểu thị sự đánh giá tích cực đối với hoạt động và hành vi ứng xử của cá nhân học sinh hay của nhóm tập thể học sinh. Khuyến khích là cách tạo dư luận xã hội tích cực, đồng tình, khích lệ, ủng hộ hành vi đúng đắn.

Tác dụng của khuyến khích là ở chỗ, khi đánh giá tích cực, các em có được cảm giác hài lòng, phấn khởi, tự tin vào năng lực của mình và từ đó, mong muốn cố gắng tiếp tục thực hiện tốt hoạt động, hành vi đó.

Đối với học sinh tiểu học, phương pháp này rất có hiệu quả vì các em nhạy cảm đối với các đánh giá của giáo viên - qua lời khen, động viên của thầy cô giáo, học sinh hiểu được rằng những việc làm tương tự là tốt, là đáng khen và đánh giá đó sẽ trở thành chỗ dựa để các em thực hiện những hành động tương tự. Hơn nữa, cũng như các lứa tuổi khác, học sinh tiểu học rất thích được khen, đặc biệt là từ phía người lớn.

Các hình thức biểu thị phương pháp khuyến khích là : đồng tình, ủng hộ, khen ngợi, biểu dương, khen thưởng,...

Khi sử dụng phương pháp khuyến khích đối với học sinh, giáo viên cần bảo đảm các yêu cầu sau :

- Cần khuyến khích không chỉ đạt được kết quả mà cả động cơ, thái độ, sự cố gắng vượt khó, sự sáng tạo trong công việc, trong thực hiện hành vi.

- Việc đánh giá phải công minh, đúng lúc, kịp thời, tránh hiện tượng thiên vị hay chỉ dành liên tục cho một số em nào đó.

- Cần đặc biệt khuyến khích những em nhút nhát, rụt rè, những em chậm tiến.

- Không nên quá lạm dụng việc khuyến khích.

Một trong những biện pháp quan trọng của khuyến khích là tạo dư luận tập thể lành mạnh, khi các em biết ủng hộ, tán thành, khen ngợi việc làm tốt, hành vi tích cực của các bạn.

b) Phương pháp trách phạt Trách phạt là phương pháp giáo viên biểu thị sự đánh giá tiêu cực những hành động, hành vi sai trái của học sinh không phù hợp các chuẩn mực hành vi xã hội, quy tắc tập thể. Trách phạt là cách tạo dư luận xã hội không đồng tình, ủng hộ việc làm, hành vi sai trái.

Tác dụng giáo dục của trách phạt là ở chỗ, nhờ có đánh giá của giáo viên mà học sinh thấy sai trái, lỗi lầm của mình và từ đó, các em sẽ thay đổi hành vi,

cách thực hiện sao cho phù hợp.

Việc trách phạt cần đi kèm với việc phân tích nguyên nhân và tính đến điều kiện nảy sinh hành vi đó cũng như mức độ phổ biến của hành vi. Việc phân tích như vậy giúp đánh giá việc vi phạm lỗi của trẻ khách quan hơn và có tác động hợp lí giúp chúng từ bỏ hành vi ấy. Trong những trường hợp vi phạm nội quy, kỉ luật không cố ý thì giáo viên chỉ cần nhắc nhở nhẹ nhàng hay trao đổi trực tiếp với học sinh là đủ.

Các hình thức biểu thị trách phạt là : nhắc nhở, chê, trách, phê bình, trừng phạt,...

Khi sử dụng phương pháp trách phạt, cần chú ý :

- Tránh việc trách phạt tập thể, tránh trách phạt trong những trường hợp nghi vấn (chưa có chứng cứ rõ ràng), vì dễ tạo nên sự chống đối. Khi một nhóm có lỗi, nên phạt em chịu trách nhiệm chính.

- Việc trách phạt phải chính xác, khách quan, công bằng, được tập thể học sinh ủng hộ.

- Tôn trọng nhân cách của học sinh, không được gây ra ở trẻ sự đau khổ về thể xác và tinh thần.

- Không nên trách phạt quá nhiều, quá “liều” (vượt quá giới hạn quyền hạn cho phép theo điều lệ của nhà trường tiểu học)..

Khi trách phạt, có thể sử dụng dư luận tập thể để các em nhắc nhở phê bình bạn và giúp bạn sửa chữa. Tuy nhiên không nên tổ chức riêng cho buổi sinh hoạt tập thể để phê bình một em nào đó.

4.5.4. Nhóm các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức Hoạt động 9. TÌM HIỂU NHÓM CÁC PHưƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Thời gian : 20 phút Nhiệm vụ

Bạn hãy đọc thông tin cơ bản đưới đây, sau đó thực hiện các yêu cầu :

- Giải thích khái niệm về các phương pháp quan sát, thực nghiệm tự nhiên, đàm thoại, an-két trong giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

- Cùng trao đổi, rút ra kết luận sư phạm về việc vận dụng các phương pháp giáo dục đạo đức đã nghiên cứu ở trên.

Thông tin cơ bản Việc hoàn thiện quá trình giáo dục đòi hỏi phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá khách quan quá trình giáo dục nói chung và kết quả của nó nói riêng để làm rõ chất lượng, hiệu quả giáo dục, để nắm vững ưu điểm và những hạn chế của nó. Trên cơ sở đó, nhà giáo dục lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp. Nhóm này có các phương pháp như : quan sát, thực nghiệm tự nhiên, đàm thoại, an-két .

Việc kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục là nhân tố quan trọng nhằm xác định công tác giáo dục có đạt mục đích hay không. Ở đây, đòi hỏi việc đánh giá phải toàn diện (cả ý thức, thái độ, động cơ, hành vi,...) đánh giá mọi lúc, mọi nơi (ở trường, ở nhà, ngoài xã

hội), qua các hoạt động khác nhau (học tập, vui chơi, lao động, công tác xã hội,...). Thước đo cơ bản của đánh giá là việc làm, hành vi của các em, sự tham gia của chúng vào các hoạt động xã hội chứ không phải lời nói, lời hứa.

Khi đánh giá, cần dựa vào nội quy dành cho học sinh, điều lệ Sao nhi đồng, Đội thiếu niên, yêu cầu của tập thể, các chuẩn mực đạo đức xã hội và tuân thủ nguyên tắc : chính xác, khách quan, công bằng, tôn trọng nhân cách của học sinh.

a) Phương pháp quan sát Nhân cách con người thể hiện trước hết ở sự tham gia vào các công việc, các hoạt động và các mối quan hệ khác nhau. Vì vậy cần quan sát học sinh khi chúng hoạt động, giao tiếp với người khác. Nhờ quan sát, có thể phát hiện kĩ năng, hành vi, thái độ,... của các em. Hoạt động càng tích cực, giao tiếp càng đa dạng thì mức độ đạt được giáo dục của trẻ càng thể hiện rõ nét.

b) Phương pháp thực nghiệm tự nhiên Phương pháp này cho phép nghiên cứu học sinh trong những điều kiện được tổ chức đặc biệt - học sinh được đưa vào các hoạt động và các mối quan hệ nào đó. Trong điều kiện đó, học sinh bộc lộ thái độ, kĩ năng, hành vi của bản thân một cách tự nhiên. Dựa vào mức độ tham gia, kết quả đạt được mà giáo viên có thể ghi nhận kết quả giáo dục của học sinh.

c) Phương pháp đàm thoại Qua trò chuyện, trao đổi với cha mẹ học sinh, bạn bè của chúng, trực tiếp với các em, giáo viên có thể biết được ý thức, thái độ, động cơ, hành vi, thói quen của chúng không chỉ ở trường, ở nhà mà cả ngoài xã hội. Đặc biệt cha mẹ là người hiểu rõ con mình hơn ai hết, cho nên việc trao đổi một cách chân tình, tin cậy lẫn nhau giữa giáo viên và cha mẹ học sinh về mọi mặt đời sống, học tập, rèn luyện của trẻ mang lại cho giáo viên nhiều thông tin chính xác về học sinh.

d) Phương pháp an-két Nhờ phương pháp an-két, qua việc học sinh trả lời hàng loạt các câu hỏi, giáo viên có thể nắm bắt được ở trẻ các khái niệm, biểu tượng đạo đức, thẩm mĩ, thái độ, hứng thú hay xu hướng hành vi của các em.

Ngoài các phương pháp trên, có thể vận dụng các phương pháp khác như : nghiên cứu kết quả hoạt động của học sinh, nghiên cứu các điều kiện sống và giáo dục của trẻ em, khái quát các thông tin về trẻ em,...

Ngoài ra, có thể sử dụng phương pháp vấn đáp - trắc nghiệm để đánh giá.

Mỗi phương pháp trong hệ thống phương pháp giáo dục đạo đức đều góp phần thúc đẩy hoạt động tự giáo dục của học sinh. Không có phương pháp nào vạn năng, nên khi vận dụng các phương pháp cần chú ý :

- Bảo đảm sự thống nhất giữa ý thức đạo đức với hành động đạo đức, giữa mục đích, thái độ, động cơ và phương tiện ; giữa lí trí và tình cảm.

- Kích thích tính tích cực chủ động nhận thức, tu dưỡng, rèn luyện thói quen đúng chuẩn mực.

- Tạo cơ hội để học sinh tự thể hiện, khẳng định và học tập lẫn nhau.

- Phát triển tính độc lập, khả năng tự quản (thông qua hoạt động Đội thiếu niên, Sao nhi đồng ) và lôi cuốn học sinh vào hoạt động thực tiễn.

- Vận dụng phương pháp phù hợp điều kiện thực tế. 4.5.5. Thực hành vận dụng các phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học Hoạt động 10. VẬN DỤNG CÁC PHưƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC ĐỂ NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT MỘT SỐ TÌNH HUỐNG TRONG THỰC TIỄN GIÁO DỤC HIỆN NAY Thời gian : 45 phút. Nhiệm vụ

* Thảo luận, nhận xét về việc sử dụng phương pháp giáo dục trong các tình huống sau : - Giáo viên H đã bắt học sinh ngồi dưới đất để ghi bài, vì em học sinh đó quên vở bài tập ở nhà. - Giáo viên N đã đề nghị khen thưởng một học sinh cá biệt, có cố gắng, tiến bộ. - Học sinh X (lớp 5) có bố nghiện ma tuý. Một số học sinh khác trong lớp biết chuyện xì xào và xa lánh X. Giáo viên chủ nhiệm thấy vậy, đã gợi ý với mẹ X nên chuyển trường cho X về quê ngoại . * Bạn hãy đưa ra phương pháp và biện pháp giáo dục học sinh cá biệt trong hai trường hợp sau : a) Thiếu tự giác trong học tập (không thuộc bài, không làm đủ bài). b) Hay đánh nhau với bạn. Để giải quyết tình huống này bạn cần tham khảo thêm quyền được bảo vệ, quyền được tham gia của trẻ em theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam.

Đánh giá hoạt động 5, 6, 7, 8, 9, 10 Câu 1 : Bằng hiểu biết của mình, bạn hãy giải thích quan điểm : “Giáo dục đạo đức là một quá trình tác động biện chứng giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục”. Câu 2 : Triển khai kế hoạch giáo dục theo chủ điểm 22-12, với chủ đề “Đền ơn dáp nghĩa”. Trong tiết Đạo đức đầu tuần, giáo viên chủ nhiệm lớp 4A đã phân công ba em học sinh bị phạt vì đi học muộn đến giúp đỡ gia đình một chú thương binh nặng. Bạn hãy nhận xét việc làm của giáo viên chủ nhiệm lớp 4A.

Thông tin phản hồi cho các hoạt động Hoạt động 1

Câu 1 : Vai trò của giáo dục đạo đức : Đạo đức là cái gốc trong nhân cách của con người , được hình thành bằng con đường giáo dục và tự giáo dục. Nhờ giáo dục đạo đức con người biết cư xử đúng chuẩn mực, hợp đạo lí trong các mối quan hệ xã hội, trau dồi được các phẩm chất tốt đẹp, không ngừng hoàn thiện bản thân mình. Câu 2 : Đáp án c. Đó là ý kiến phiến diện. Cần khẳng định : Giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của các nhà trường nói chung, trường tiểu học vói riêng. Giáo dục đạo đức là một mặt quan trọng trong giáo dục toàn diện của nhà trường, giúp học sinh

hình thành thói quen, kĩ năng hành vi phù hợp với yêu cầu đạo đức của xã hội, góp phần giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh. Câu 3 : Đáp án b.

Hoạt động 2 Câu 1 : Phải giáo dục đạo đức cho học sinh vì : - Ý thức, tình cảm, kĩ năng đạo đức không tự có, nó được hình thành trong và bằng con đường giáo dục, tự giáo dục.

- Thông qua giáo dục đạo đức, hình thành cho học sinh cơ sở ban đầu về đạo đức : có hiểu biết sơ đẳng, đơn giản ; có xúc cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức ; có kĩ năng và thói quen hành vi đúng chuẩn mực để nhận thức đúng, sai, học tập và làm theo cái đúng, cái tốt.

- Đặt nền móng cho học sinh học tiếp môn Giáo dục công dân ở trường trung học cơ sở.

- Giúp học sinh rèn luyện bản lĩnh đạo đức, chống lại sự xâm nhập của các tiêu cực và tệ nạn xã hội.

Câu 2 : Đáp án a, c, d.

Câu 3 : Theo ý kiến của nhiều nhà giáo dục hiện nay, khi thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh cần quan tâm đến các vấn đề :

- Trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, sơ giản phù hợp với đặc điểm sinh - tâm lí lứa tuổi của các em.

- Đảm bảo học đi đôi với hành.

- Giúp học sinh hiểu rõ quyền, lợi ích của mình để từ đó thực hiện tốt bổn phận của mình.

- Thuyết phục, hình thành niềm tin đạo đức bằng tấm gương đạo đức có trong thực tiễn và bản thân giáo viên.

- Tế nhị trong việc phê phán để thể hiện tôn trọng học sinh. Hoạt động 3

Dạy học môn Đạo đức là một trong các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh và là con đường cơ bản, quan trọng. Nó góp phần hình thành cho hoc sinh các phẩm chất đạo đức sau :

- Trong quan hệ cá nhân - xã hội : Yêu nước, tự hào, dân tộc, yêu hoà bình, biết ơn các bậc tiên liệt có công với nước, tôn trọng các dân tộc khác.

- Quan hệ cá nhân - lao động : Yêu lao động, cần cù, tiết kiệm, quý trọng người lao động, bảo vệ thành quả lao động và di sản văn hoá.

- Quan hệ cá nhân với người khác : Yêu thương con người, hợp tác tương trợ lẫn nhau, lịch sự, tôn trọng người khác (danh dự, tài sản) ; quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ người khác (ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè, thày cô giáo, hàng xóm láng giềng...), lễ phép với người lớn, nhường nhịn em nhỏ.

- Quan hệ cá nhân - môi trường tự nhiên : Bảo vệ môi trường (nguồn nước, vật nuôi, cây trồng).

- Quan hệ cá nhân - bản thân : Thật thà, giản dị, kiên trì, vượt khó, khiêm tốn, dũng

cảm, có trách nhiệm với lời nói và việc làm của bản thân.

Thực hiện tốt nội dung, chương trình, nâng cao chất lượng dạy học môn Đạo đức là góp phần tích cực vào giáo dục đạo đức cho học sinh.

Câu 1 : Đáp án a, d, e, h.

Câu 2

- Trong thực tế, có giáo viên chỉ thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh ở những nội dung họ tâm đắc nhất. Như vậy chưa đúng, không thể đồng tình với việc làm này. Thực hiện đúng nhiệm vụ, đủ nội dung giáo dục ; trong đó có giáo dục đạo đức cho học sinh là trách nhiệm của giáo viên đã được ghi trong Luật Giáo dục.

- Tự liên hệ bản thân, cần khắc phục ngay nếu chưa thực hiện đúng yêu cầu, nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh.

Câu 3

Đoàn kết với bạn là chuẩn mực hành vi phản ánh mối quan hệ cá nhân đối với người xung quanh. Để giáo dục chuẩn mực hành vi này, cần thực hiện ba nhiệm vụ :

- Giáo dục ý thức đạo đức : Giúp học sinh hiểu :

+ Yêu cầu của chuẩn mực “đoàn kết với bạn” : Để đoàn kết với bạn cần thực hiện điều gì ? Làm gì ?

+ Ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực hành vi đoàn kết với bạn ?

+ Cách thực hiện chuẩn mực đó : Thực hiện như thế nào ?

- Giáo dục thái độ, tình cảm : Giúp học sinh hình thành thái độ ủng hộ, đồng tình, tán thành với những tấm gương, việc làm tốt về đoàn kết với bạn ; không đồng tình, không tán thành lên án, phê phán những ai gây mất đoàn kết với bạn.

- Giáo dục kĩ năng, thói quen hành vi : Hình thành cho học sinh hệ thống kĩ năng và thói quen :

+ Cùng học, cùng chơi với bạn.

+ Nhường nhịn, giúp đỡ bạn.

+ Nói năng lịch sự với bạn.

+ Không gây gổ đánh nhau với bạn, không nói xấu bạn. Hoạt động 4

Câu 1 : Đáp án c.

Câu 2 : Người giáo viên tiểu học cần có trách nhiệm :

- Vận dụng kết hợp giáo dục đạo đức cho học sinh một cách mềm dẻo, linh hoạt qua 2 con đường trên.

- Tích cực xây dựng một bầu không khí lành mạnh và tạo cơ hội để học sinh hoạt động, tự khẳng định.

- Mạnh dạn tổ chức cho học sinh học trong cuộc sống và học tập lẫn nhau.

- Hiểu, cảm thông, chia sẻ và là niềm tin yêu của học sinh. Không ngừng phấn đấu trở

thành tấm gương sống động trước các em.

Câu 3 : Trao đổi bài làm cho đồng nghiệp nhận xét, góp ý. Hoạt động 5, 6, 7, 8, 9, 10

* Gợi ý thực hiện nhiệm vụ của hoạt động 5 : Trong đổi mới giáo dục hiện nay, các phương pháp giáo dục đạo đức sau được nhiều giáo viên khẳng định có tần số sử dụng cao : - Tạo dư luận xã hội. - Rèn luyện thói quen. - Luyện tập. - Nêu gương - Khen thưởng * Gợi ý thực hiện nhiệm vụ của hoạt động 10 Trong các trường hợp đã nêu, có thể sử dụng các phương pháp giáo dục sau : a) Đối với học sinh thiếu tự giác trong học tập : Phương pháp kiểm tra đánh giá, trách phạt ở mức phê bình để tạo dư luận không ủng hộ hiện tượng này trong học sinh ; kết hợp với phương pháp nêu yêu cầu sư phạm, phương pháp nêu gương để khích lệ cố gắng vươn lên của học sinh. b) Đối với học sinh hay đánh nhau với bạn : Phương pháp trách phạt, nêu yêu cầu sư phạm để tạo dư luận xã hội và kích thích ý thức tự trọng, đàm thoại, giảng giải giúp học sinh nhận thức được tác hại của hành vi do mình gây ra. Chú ý : Sử dụng các phương pháp giáo dục trên cần kết hợp với các biện pháp giáo dục sau : - Giúp đỡ riêng - Phối hợp với gia đình, cha mẹ học sinh. - Tác động của người có uy tín với học sinh đó. - Tạo dư luận xã hội tích cực (định hướng tình cảm và hành vi). * Gợi ý trả lời câu hỏi đánh giá Câu 1

Giáo dục đạo đức là một quá trình tác động biện chứng giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục. Đó là bản chất của giáo dục đạo đức. Trong đó, nhà giáo dục là người lãnh đạo sư phạm : Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá, tổ chức rút kinh nghiệm, rút ra những bài học sư phạm. Đối tượng giáo dục là chủ thể của quá trình giáo dục, tự giáo dục : Một mặt thực hiện yêu cầu của nhà giáo dục, qua đó bộc lộ khả năng tiếp thu giáo dục để nhà giáo dục điều chỉnh mục tiêu, kế hoạch, phương pháp, hình thức giáo dục để đạt hiệu quả. Mặt khác, chính họ cũng mang đến cho nhà giáo dục tri thức mới, kinh nghiệm sống mới họ học được trong giao tiếp xã hội. Giáo dục cũng như dạy, tức là học hai lần.

Câu 2 Cách triển khai thực hiện kế hoạch nhà trưòng của giáo viên chủ nhiệm lớp 4A đã vi phạm cùng môt lúc nhiều nguyên tắc sư phạm : - Lạm dụng giờ dạy môn Đạo đức để triển khai kế hoạch của nhà trường, lẽ ra phải triển khai trong tiết sinh hoạt tập thể cuối tuần.

- Thiếu dân chủ, áp đặt học sinh cách thực hiện. - Phân công học sinh bị phạt, làm giảm đi ý nghĩa thiêng liêng của hoạt động đền ơn đáp nghĩa, một truyền thống quý báu của dân tộc ta : “Ăn quả nhớ người trồng cây”. - Sử dụng phương pháp trách phạt một cách tuỳ tiện, sai yêu cầu sư phạm của phương pháp này.

CHỦ ĐỀ 2 (1 tiết) NHỮNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

Mục tiêu Học xong phần này, học viên có khả năng :

Về kiến thức Xác định được :

- Các giá trị đạo đức cơ bản của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH - HĐH).

- Mức độ tích hợp các giá trị đạo đức đó vào giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học. Về kĩ năng

Tích hợp được một số giá trị đạo đức vào giáo dục và dạy học môn Đạo đức một cách phù hợp với học sinh tiểu học, góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của CNH - HĐH.

Về thái độ Có tinh thần trách nhiệm, thái độ nghiêm túc trong việc tự rèn luyện bản thân và giáo dục học sinh rèn luyện theo những phẩm chất của người lao động trong thời đại CNH - HĐH.

Nội dung Trong chủ đề này bạn sẽ được cập nhật một số giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Hoạt động. TÌM HIỂU CÁC GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM THỜI KÌ CNH - HĐH HIỆN NAY Thời gian : 45 phút Nhiệm vụ

* Đọc thông tin cơ bản dưới đây.

* Thảo luận nhóm theo câu hỏi :

- Theo bạn, con người Việt Nam hiện nay cần phải có những giá trị cơ bản gì để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kì CNH - HĐH ?

- Cần cập nhật những giá trị cơ bản nào vào nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện nay ?

Thông tin cơ bản 1. Những vấn đề đặt ra đối với con người trong thế kỉ mới

Nhân loại bước vào thế kỉ XXI, một thế kỉ phát triển mới với các đặc điểm cơ bản : - Sự bùng nổ thông tin, sự phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực nhờ công nghệ mới, vật liệu mới và sự hợp tác rộng rãi trong khu vực, giữa các khu vực.

- Kinh tế và sản xuất, lao động dịch vụ nổi trội hơn lao động sản xuất. - Thế giới đang biến đổi cực kì nhanh, với sự phát triển như vũ bão về khoa học - kĩ thuật - công nghệ.

- Các quốc gia, khu vực ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. - Xã hội đang tiến dần đến “xã hội học tập”.

- Con người là mục tiêu, động lực của phát triển kinh tế - xã hội. Điều đó đòi hỏi con người phải là :

- Con người nhân văn - nhân bản - nhân ái.

- Con người công dân có bản sắc riêng, có cá tính.

- Con người có trình độ khoa học và công nghệ, có năng lực nghề nghiệp, tay nghề cao.

- Con người cá nhân, có tính độc lập tự chủ, tự giác, năng động, khả năng thích ứng cao, biết giữ chữ tín và thăng tiến.

2. Hệ giá trị có tính phổ quát hiện nay - Trong lĩnh vực chính trị xã hội :

+ Duy trì hoà bình

+ Bình đẳng xã hội

+ An ninh quốc gia

+ Yêu thương, chăm sóc, tôn trọng, bảo vệ quyền con người

+ Hợp tác và phát triển

+ Tôn trọng các dân tộc và quốc gia khác

- Trong lĩnh vực nhận thức, trí tuệ

+ Học vấn cao

+ Hiểu biết rộng

+ Sống có mục đích

+ Sự hài hoà giữa con người và thiên nhiên

+ Sự sáng tạo, khôn ngoan, biết kế thừa, hợp tác,... trong hành động

- Trong lĩnh vực kinh tế

+ Việc làm

+ Sự giàu sang

+ An toàn trong sản xuất, lưu thông, tiêu dùng

+ Bảo vệ môi trường sinh thái

+ Sự hợp tác - cân bằng lợi ích - phát triển.

- Trong lĩnh vực văn hoá :

+ Bảo vệ di sản văn hoá nhân loại

+ Tôn trọng sở thích, đam mê ... của người khác

+ Chăm sóc sức khoẻ

+ Kế thừa cái đẹp truyền thống và tiếp nhận cái đẹp hiện đại

- Trong giao tiếp :

+ Niềm tin vào con người

+ Khoan dung (thấu hiểu, thông cảm, chia sẻ, nhường nhịn)

+ Thừa nhận

+ Chân thành, khiêm tốn, trung thực

+ Thân mật (niềm nở, vui vẻ, cởi mở) 3. Những yêu cầu cơ bản của con người Việt Nam thế kỉ XXI và thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ tám chỉ rõ : “Đến năm 2020, về cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp”.

Để thực hiện mục tiêu đó, tất yếu phải tiến hành HĐH - CNH đất nước. Do đó, giáo dục cùng với khoa học - công nghệ có vai trò quốc sách hàng đầu. Công nghiệp hoá là con đường tất yếu để xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

Con người là nguồn vốn quốc gia quan trọng nhất. Trong công cuộc CNH - HĐH đất nước, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Sự nghiệp CNH - HĐH đòi hỏi phải phát triển con người toàn diện, hài hoà, cân đối trí lực và thể lực, đức và tài, phát triển cá tính và sự phong phú của con người, phát triển một cách tự do, đầy đủ, làm chủ và thích ứng với sự di động chức năng xã hội của con người.

Những giá trị cơ bản mà con người cần được giáo dục, đạt tới đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH đã sớm được đặt ra trong nhiều nghị quyết của Đảng : “Hướng vào bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt Nam và không ngừng gia tăng tính tự giác, năng động, tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân, kết hợp sức mạnh của cả cộng đồng. Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội...” (Nghị quyết TƯ 4 - Khoá VII, 1993) ; “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ; CNH - HĐH đất nước ; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại ; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại ; có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỉ luật ; có sức khỏe ; là những người thừa kế và xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên” (Nghị quyết TƯ 2 - Khoá VIII, 1997). Đó chính là mô hình nhân cách của con người Việt Nam hiện nay.

Đánh giá hoạt động Câu 1 : Việc nghiên cứu chủ đề này có ý nghĩa, tác dụng như thế nào đối với giáo viên tiểu học ?

Câu 2 : Chỉ ra những giá trị cơ bản cần tiếp cận vào nội dung giáo dục và dạy học môn Đạo đức ở tiểu học hiện nay.

CHỦ ĐỀ 3 (1 tiết) NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HIỆN NAY Mục tiêu

Học xong phần này, học viên có khả năng : Về kiến thức

Trình bày và phân tích được những đặc trưng cơ bản của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

Về kĩ năng Vận dụng được các đặc trưng cơ bản đó vào giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện nay.

Về thái độ Có tinh thần trách nhiệm và thái độ nghiêm túc trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh.

Nội dung Trong chủ đề này, các bạn sẽ cùng tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện nay.

Hoạt động. TÌM HIỂU CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HIỆN NAY Thời gian : 45 phút. Nhiệm vụ

Thảo luận nhóm theo câu hỏi :

- Theo các bạn, việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện nay có những thuận lợi và khó khăn cơ bản gì ?

- Để làm tốt công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học trong đặc điểm vừa thuận lợi vừa khó khăn trên, cần phải thực hiện những yêu cầu gì ?

Thông tin cơ bản Mục tiêu của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học : Giúp HS có hiểu biết ban đầu về kiến thức và kinh nghiệm đạo đức để vận dụng vào ứng xử trong giao tiếp hằng ngày ; hình thành cho học sinh các phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bền vững để ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ đạo đức ; bồi dưỡng niềm tin, thái độ ủng hộ, làm theo cái đúng, cái tốt, không ủng hộ, không làm theo cái xấu, cái sai.

Việc thực hiện mục tiêu trên hiện nay được tiến hành trong điều kiện mới, thuận lợi và khó khăn đan xen nhau.

- Giáo dục đạo đức cho học sinh diễn ra trong điều kiện kinh tế thị trường : Kinh tế thị trường, một mặt tạo ra những chuyển biến mới về cơ cấu lao động, sản phẩm, dịch vụ, thúc đẩy cải tiến kĩ thuật, quản lí sản xuất, tăng năng suất lao động, cải thiện đời sống. Mặt khác, xuất hiện những mặt trái, làm ảnh hưởng đến giá trị, truyền thống đạo đức gây tác động ngược chiều, khó khăn cho giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng :

+ Không ít bậc phụ huynh bận làm ăn, sao nhãng hoặc khoán trắng con cho giáo viên nhà trường ; hoặc quá nuông chiều con,...

+ Những tiêu cực và tệ nạn xã hội phát sinh, phát triển trong cơ chế thị trường đã tác động đến tâm hồn trẻ thơ, gây khó khăn cho công tác giáo dục : nghiện hút, mại dâm, lừa đảo, lối sống đồng tiền, thực dụng, bạo lực trong gia đình,...

Thực tế đó đòi hỏi việc giáo dục đạo đức hiện nay phải quan tâm đến trẻ em mọi lúc mọi nơi, phải làm cho nhà trường cùng với gia đình thực sự là một thành trì vững chắc chống lại các tiêu cực, tệ nạn xã hội, làm cho trẻ em đến trường là niềm vui, nhà trường cùng với gia đình phải trở thành chỗ dựa tinh thần của trẻ em. Muốn vậy phải xây dựng nhà trường trở thành môi trường lành mạnh, trong sạch hơn nữa, mà ở đó mỗi giáo viên là tấm gương sáng về đạo đức trước học sinh.

- Hội nhập khu vực và toàn cầu đã mở ra thời cơ cho các nước chậm phát triển về nhiều mặt. Trong sự mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, nhiều tinh hoa văn hoá của nhân loại được cập nhật, nâng cao dân trí. Song cũng khó tránh khỏi sự du nhập của văn hoá phẩm không lành mạnh, lối sống hưởng thụ,... làm băng hoại các giá trị đạo đức tốt đẹp, và gây ảnh hưởng xấu đến trẻ em. Do đó, trong công tác giáo dục phải quan tâm đặc biệt tới đời sống tinh thần của học sinh : giáo dục giá trị thẩm mĩ, lối sống lành mạnh, truyền thống của quê hương, đất nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, giá trị nhân văn, tinh thần nhân đạo, ý thức cộng đồng, tinh thần hợp tác và phát triển, ý thức bảo vệ môi trường sống, tiết kiệm tài nguyên,...

- Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền. Xã hội Việt Nam hiện nay, cùng với việc phấn đấu thực hiện mục tiêu : “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, còn phải làm cho xã hội Việt Nam trở thành một xã hội công dân, mọi người hiểu biết và tôn trọng pháp luât. Do đó, giáo dục đạo đức được tiến hành đồng thời với giáo dục pháp luật. Thực hiện : “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” là nghĩa vụ đạo đức lớn nhất của mỗi công dân trong xã hội. Trong nội dung giáo dục đạo đức, cần giáo dục cho học sinh ý thức thực hiện tốt quyền và trách nhiệm công dân - đó là một trong các tiêu chí của tiến bộ xã hội.

- Giáo dục đạo đức tạo tiền đề cho sự phát triển nhân cách toàn diện của con người Việt Nam thời kì CNH - HĐH. Đặc điểm này đòi hỏi, khi thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh phải bám sát đặc trưng nhân cách của con người hiện nay : con người yêu nước, yêu CNXH, có ý chí quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN ; năng động, sáng tạo ; con người công dân, “sống và làm việc theo Hiến pháp pháp luật” ; con người khoa học, có tác phong công nghiệp, hiểu biết, có kĩ năng ứng dụng công nghệ hiện đại vào cuộc sống ; con người có ý thức tự trọng, tôn trọng người khác, trung thực và thăng tiến.

- Sự phát triển của công nghệ thông tin và các phương tiện thông tin đại chúng làm cho trẻ em có điều kiện tiếp xúc với văn hoá của toàn nhân loại, mở rộng hiểu biết, thông minh hơn. Nhiều chương trình giải trí đã thực sự là trường học thứ hai, là sân chơi trí tuệ bổ ích và lí thú của trẻ em. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các quán Game, với những trò chơi điện tử mới lạ sẽ hấp dẫn số đông trẻ em hơn những bài học Đạo đức ở trên lớp. Nhiều điều các em nhận được từ công nghệ thông tin gây hứng thú hơn từ các bài giảng ở nhà trường. Các hình ảnh trên thông tin đại chúng luôn kích thích tính hiếu kì của trẻ hơn những lời nói của thầy cô giáo.

Các nhà giáo dục không thể chống lại được xu thế tất yếu của thời đại. Nhưng, với bản chất của khoa học giáo dục, các nhà giáo dục phải tạo ra sức hút mạnh hơn đối với trẻ em từ phương thức giáo dục của mình thay cho những lời kêu gọi, những sự cấm đoán. Điều này đòi hỏi việc giáo dục đạo đức phải thường xuyên được đổi mới cả nội dung, phương pháp và hình thức sinh động, phù hợp với nhu cầu, sinh - tâm lí của trẻ em.

- Xu hướng đổi mới mạnh mẽ giáo dục và sự cạnh tranh chất xám đang đặt ra cho nhà sư phạm những yêu cầu có tính cách mạng : dạy chữ đi đôi với dạy người, dạy cách học gắn liền với dạy cách sống ; không ngừng tự đào tạo lại, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là cái tâm đối với nghề. Giáo dục đạo đức là hoạt động góp phần quan trọng lớn lao vào việc dạy người, nó đòi hỏi nhà giáo dục luôn phải tiến hành hoạt động giáo dục kép : giáo dục học sinh và tự giáo dục chính mình.

Đánh giá hoạt động Câu 1 : Điền dấu x vào ô � trước những ý kiến bạn cho là phù hợp.

Khi đưa ra nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học, cần phải quan tâm đến các đặc điểm nào sau đây : � a) Dựa trên cơ sở vốn sống về đạo đức của học sinh. � b) Chủ yếu là nội dung. Câu 2 : Khi thực hiện một kế hoạch giáo dục đạo đức của nhà trường, phát hiện thấy thiếu tính khả thi, bạn sẽ làm gì ?

� a) Cứ thực hiện. � b) Tự điều chỉnh rồi báo cáo cấp trên. � c) Báo cáo cấp trên, xin điều chỉnh cho phù hợp.

Thông tin phản hồi cho các hoạt động Chủ đề 2

Gợi ý tham khảo các giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kì CNH - HĐH - Giá trị đạo đức + Phẩm chất chính trị : Trung thành với lí tưởng XHCN, công cuộc CNH - HĐH ; tự cường, tự hào dân tộc ; yêu quê hương, đất nước. + Tự hoàn thiện bản thân : Tự trọng, tự tin, tự lập, trung thực, giản dị, tiết kiệm, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối hận. + Với mọi người và dân tộc khác : Nhân nghĩa, yêu thương, chăm sóc, khoan dung, vị tha, bảo vệ quyền con người, hợp tác, lễ độ, bình đẳng, lịch sự, tế nhị, tôn trọng mọi người, thuỷ chung, giữ chữ tín. + Với công việc : Trách nhiệm cao, có lương tâm, tôn trọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết. + Với môi trường (tự nhiên, văn hoá, xã hội) : Bảo vệ môi trường, sử dụng thông minh và tiết kiệm tài nguyên, dân chủ, công bằng, hoà bình, bảo vệ và phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc và nhân loại. - Giá trị trí tuệ + Tư duy, sáng tạo

+ Năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề + Tiếp thu nhanh, vận dụng linh hoạt + Hợp tác + Trí nhớ tốt + Hiểu biết rộng + Quyết đoán + Tác phong công nghiệp + Quản lí bằng công nghệ thông tin + Làm chủ phương tiện thông tin đa năng. - Thẩm mỹ + Vươn tới chân - thiện - mỹ + Tôn trọng, hướng tới cái đẹp + Sáng tạo cái đẹp - Thể chất + Bền bỉ, dẻo dai + Có khả năng thích ứng cao trước các biến động của xã hội và môi trường. Câu 1 : Việc nghiên cứu các giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kì CNH - HĐH có ý nghĩa tác dụng đối với giáo viên tiểu học : + Định hướng cho việc tu dưỡng, rèn luyện bản thân trước yêu cầu đổi mới đất nước nói chung và đổi mới giáo dục nói riêng. + Bổ sung, giúp giáo viên cập nhật tri thức cần thiết để giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học. Câu 2 Các giá trị đạo đức - nhân văn cần cập nhật vào nội dung giáo dục, dạy học môn Đạo đức ở tiểu học hiện nay : + Bình đẳng xã hội + Yêu thương, chăm sóc, tôn trọng, bảo vệ quyền con người + Hợp tác, phát triển + Tôn trọng cái đẹp + Bảo vệ môi trường, sinh thái + Bảo vệ di sản văn hoá + Nhân ái + Khoan dung + Thừa nhận + Chân thành, khiêm tốn, trung thực + Niềm tin vào con người. Ngoài ra còn một số giá trị khác phù hợp với điều kiện Việt Nam : tự trọng, kiên trì vượt khó, đoàn kết tương trợ, tự tin,...

Chủ đề 3 * Yêu cầu cơ bản của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học hiện nay

- Phải phù hợp với đặc điểm sinh, tâm lí của học sinh : + Nội dung giáo dục cần đơn giản, cụ thể, thiết thực, vì khả năng ghi nhớ, giải thích của học sinh tiểu học còn hạn chế. + Tư duy của học sinh tiểu học là tư duy cảm xúc, trực giác, nên phương pháp, hình thức giáo dục phải sinh động, hấp dẫn. Cần kết hợp giáo dục bằng lời với những tấm gương đạo đức và hình ảnh sống động trong thực tế gần gũi với học sinh để tạo xúc cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức, tăng tính thuyết phục, kích thích nhu cầu, mong muốn học tập và làm theo. + Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học nhanh nhớ, nhanh quên, nên cần tăng cường các hình thức vận dụng, thực hành phong phú, đa dạng, phù hợp để thành lập thói quen hành vi đúng chuẩn mực. - Có sự vận dụng nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục năng động, sáng tạo phù hợp với điều kiện địa phương, kế thừa, phát triển vốn sống của học sinh. - Kết hợp với giáo dục kĩ năng sống, hình thành cho học sinh những năng lực phù hợp lứa tuổi tiểu học : nhận thức, giao tiếp, tư duy,... - Kết hợp giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật. Kết hợp giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em. Yêu cầu này đòi hỏi giáo viên phải nắm chắc nội dung các văn bản pháp luật có liên quan đến quyền trẻ em : Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam ; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam ; Luật Giáo dục ; Luật Phổ cập giáo dục tiểu học,... Gợi ý trả lời câu hỏi đánh giá Câu 1 : Đáp án a, c, d, e. Câu 2 : Tuỳ hoàn cảnh cụ thể, có thể chọn đáp án b hoặc c.

CHỦ ĐỀ 4 (2 tiết) PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG VÀ NGOÀI NHÀ TRƯỜNG NHẰM THỰC HIỆN VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Mục tiêu

Sau khi hoàn thành chủ đề này, học viên cần đạt được các yêu cầu : Về kiến thức

- Nêu và giải thích được tầm quan trọng, nhiệm vụ của việc phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.

- Xác định được biện pháp phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh.

Về kĩ năng Vận dụng được các biện pháp thu hút các lực lượng trong và ngoài nhà truờng để giáo dục đạo đức cho học sinh đạt kết quả tốt.

Về thái độ Xác định rõ trách nhiệm của bản thân trong việc thực hiện nhiệm vụ, biện pháp phối kết hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia vào giáo dục đạo đức cho học sinh.

Nội dung Nghiên cứu chủ đề này sẽ giúp các bạn nhận thức rõ hơn các mối quan hệ trong thực hiện xã hội hoá giáo dục hiện nay. Đồng thời, giúp các bạn hiểu rõ hơn giáo dục trẻ em là chức năng xã hội đặc biệt của nhà trường ; song không phải duy nhất nhà trường là lực lượng giáo dục, dạy dỗ trẻ em. Nhà trường chỉ thực hiện tốt chức năng này khi có sự ủng hộ, hỗ trợ, tạo điều kiện, cùng tham gia sự nghiệp giáo dục của toàn xã hội.

1. Phối hợp các lực lượng trong nhà trường

Giáo viên chủ nhiệm - người nhận trách nhiệm trước nhà trường trực tiếp quản lí học sinh của một lớp, đồng thời là người trực tiếp dạy học và giáo dục học sinh. Với tư cách là giáo viên chủ nhiệm, bạn hãy tiến hành hoạt động sau :

Hoạt động 1. TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ PHỐI KẾT HỢP GIỮA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM VÀ CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC TRONG TRƯỜNG ĐỂ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Thời gian : 45 phút Nhiệm vụ

* Đọc thông tin cơ bản dưới đây.

* Kể tên các tổ chức trong trường tiểu học và mối quan hệ giữa các tổ chức đó theo cơ cấu tổ chức của trường tiểu học.

* Thảo luận nhóm : Chỉ ra nội dung của sự phối kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và các lực lượng giáo dục trong nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh.

* Điền thông tin cần thiết vào bảng sau :

TT Lực lượng cần phối hợp

Vai trò của các lực lượng trong nhà trường với nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học

sinh

1

2

3

4

...

Thông tin cơ bản * Luật Giáo dục, 1998 : Điều 81 : Trách nhiệm của nhà trường. * Điều lệ trường tiểu học : Cơ cấu tổ chức của trường tiểu học. * Chức năng của giáo viên chủ nhiệm : - Là người thay mặt Hiệu trưởng quản lí giáo dục toàn diện học sinh một lớp học : Quản lí, dự báo xu hướng phát triển nhân cách học sinh để có phương hướng tổ chức hoạt động giáo dục phù hợp. - Tổ chức cho tập thể học sinh hoạt động tự quản nhằm phát huy mọi tiềm năng tích cực của học sinh. + Cố vấn hoạt động cho học sinh. + Trọng tài cho các hoạt động.

+ Dự báo chính xác khả năng của học sinh. + Xây dựng kế hoạch hoạt động khả thi.

+ Khêu gợi, phát huy tiềm năng sáng tạo của học sinh. - Là cầu nối giữa tập thể học sinh với các tổ chức trong và ngoài nhà trường, là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh.

- Đại diện cho quyền lợi chính đáng của học sinh. - Chủ động xây dựng kế hoạch, nội dung phối hợp các lực lượng trong, ngoài nhà trường nhằm giáo dục học sinh. - Tuyên truyền các biện pháp giáo dục, huy động có hiệu quả tiềm năng của xã hội (Gia đình - Nhà trường - Các tổ chức xã hội) tham gia hoạt động giáo dục.

Đánh giá hoạt động 1 Câu 1 : Bạn có trách nhiệm như thế nào trong thực hiện việc kết hợp với các lực lượng giáo dục trong trường mình để giáo dục đạo đức cho học sinh ?

c a) Chủ động xây dựng, thực hiện tốt kế hoạch giáo dục. c b) Chỉ thực hiện khi có điều kiện. c c) Không cần thiết thực hiện. Câu 2 : Theo bạn để làm tốt công tác phối kết hợp các lực lượng trong nhà trường khi thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh, cần phải có những kĩ năng gì ?

2. Phối kết hợp với các lực lượng xã hội ngoài nhà trường

Bằng kinh nghiệm thực tế của cuộc vận động xã hội hoá giáo dục, bạn hãy thực hiện hoạt động sau :

Hoạt động 2. TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ PHỐI KẾT HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI NGOÀI NHÀ TRƯỜNG ĐỂ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Thời gian : 45 phút Nhiệm vụ

* Đọc thông tin cơ bản và các tài liệu sau :

- Luật Giáo dục, 1998 :

+ Điều 82 : Trách nhiệm của gia đình

+ Điều 84 : Trách nhiệm của xã hội

- Điều lệ trường tiểu học : Cơ cấu tổ chức của trường tiểu học.

Sau đó, điền thông tin cần thiết vào bảng sau :

TT Các lực lượng XH cần phối kết hợp để giáo dục đạo đức cho học sinh

Vai trò của các tổ chức, cá nhân đó

1

2

3

4

5

...

* Thảo luận nhóm, chỉ ra nội dung cụ thể của từng mối quan hệ với các lực lượng xã hội nhà trường tiểu học cần phối kết hợp để thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh.

* Trao đổi thông tin với các nhóm khác và thống nhất ý kiến. Thông tin cơ bản

Mối quan hệ gia đình, nhà trường, xã hội trong công tác giáo dục học sinh a) Nhà trường - Xã hội - Nhà trường : Là nơi giáo dục, đào tạo con người, nguồn nhân lực cho xã hội. Con người - sản phẩm của giáo dục - đào tạo trong nhà trường, ra xã hội là chủ thể của hoạt động kinh tế - xã hội. - Xã hội : + Môi trường thực tiễn của hoạt động giáo dục. + Nơi trực tiếp sử dụng sản phẩm giáo dục - đào tạo của nhà trường : con người - lực lượng lao động.

+ Nơi cung cấp điều kiện vật chất cho sự nghiệp giáo dục. b) Nhà trường - Gia đình - Nhà trường : Nơi cùng với gia đình thực hiện chức năng giáo dục con người, bồi dưỡng, rèn luyện, hình thành cách học tập, cách sống cho con người. Chất lượng giáo dục ảnh hưởng trực tiếp đến nhân cách của con người. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” (Khổng Tử) và là tương lai của giống nòi, dòng họ, gia đình. - Gia đình : Trường học đầu tiên và suốt đời của con người. Ngoài việc cùng với nhà trường chăm lo giáo dục con em mình, mỗi thành viên còn cần phải thường xuyên tự giáo dục, đào tạo để làm tốt chức năng giáo dục con em. - Hội cha mẹ học sinh : Cầu nối giữa giáo dục nhà trường và gia đình, vừa đảm bảo quyền và nghĩa vụ học tập cho con em, vừa có trách nhiệm tham gia tuyên truyền vận động xã hội hoá giáo dục.

- Trong các mối quan hệ trên, giáo viên chủ nhiệm là đầu mối quan trọng và là linh hồn của sự phối kết hợp giáo dục rèn luyện nhân cách học sinh, vì tương lai của trẻ em, vì sự sống còn của nhà trường, vì sự phát triển của địa phương.

Đánh giá hoạt động 2 Câu 1 : Ghép các thông tin về vai trò của các tổ chức, lực luợng xã hội ở cột B phù hợp với tên các tổ chức đó cột A cho phù hợp:

TT Các lực lượng xã hội

A

Vai trò của các lực lượng xã hội trong việc tham gia cùng nhà trường tiểu học giáo dục

đạo đức cho HS

B

1 Đoàn thanh niên địa phương

a) Cầu nối gia đình - nhà trường - xã hội, cùng tham gia tuyên truyền mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, góp phần đảm bảo quyền lợi học tập của học sinh.

2 Cộng đồng dân cư nơi học sinh sống

b) Động viên, theo dõi, giám sát học tập, rèn luyện của học sinh ở nhà, ngoài xã hội.

c) Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của học sinh.

d) Quản lí, giáo dục, duy trì, rèn luyện hành vi đạo đức và tham gia hướng dẫn học tập ở nhà.

3 Gia đình học sinh e) Môi trường xã hội để thực hiện các hoạt động chính trị - xã hội của học sinh.

4 Chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội khác

g) Tổ chức các phong trào Đội, Sao Nhi đồng.

h) Trực tiếp tham gia giáo dục trẻ em qua các phong trào đó.

5 Hội phụ huynh học sinh i) Hỗ trợ điều kiện vật chất cho các hoạt động giáo dục của nhà trường và địa phương.

Câu 2 : Bạn có trách nhiệm như thế nào trong việc thực hiện các nội dung trên ? (trả lời bằng cách điền dấu x vào ô �) � a) Lập, đề xuất kế hoạch và thực hiện. � b) Thực hiện kế hoạch. � c) Đứng ngoài cuộc. Câu 3 : Giả sử, sau khi được thông báo kết quả học tập của con mình (học lực yếu), một phụ huynh đến gặp bạn và nói : “Trăm sự nhờ cô giáo giúp đỡ cho cháu tiến bộ, gia đình tôi bận quá, không có thời gian kèm cặp cháu”. Bạn sẽ xử lí như thế nào trước tình huống này ?

Đánh giá tiểu môđun 1 Câu 1 : Bạn hãy điền tên hình thức giáo dục vào cột B, sao cho phù hợp với nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học ở cột A.

Nội dung giáo dục đạo đức

A

Hình thức giáo dục đạo đức

B

a) Phát động toàn trường thi đua lập thành tích chào mừng ngày sinh nhật Bác 19-5.

b) Sinh hoạt Sao Nhi đồng, chủ đề “Chăm ngoan”.

c) Lớp, Chi đội triển khai kế hoạch thi đua chào mừng ngày sinh nhật Bác 19-5.

d) Nghe nói chuyện về bảo vệ môi trường.

đ) Tổ chức cuộc thi vẽ tranh “Vì hoà bình” trong toàn trường.

Câu 2 : Dựa vào quy trình tổ chức tiết hoạt động tập thể, bạn hãy xây dựng mô hình tiết sinh hoạt lớp, lập kế hoạch tổ chức hoạt động theo chủ điểm 8-3 cho học sinh lớp mình chủ nhiệm.

Thông tin phản hồi cho các hoạt động * Hoạt động 1

* Các lực lượng trong nhà trường mà người giáo viên chủ nhiệm cần phối kết hợp để giáo dục đạo đức cho học sinh và vai trò của các tổ chức đó trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức :

TT Lực lượng cần phối

kết hợp A

Vai trò của các lực luợng trong nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh

B 1 Ban giám hiệu - Lập kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục

toàn diện, trong đó có giáo dục đạo đức. Duyệt kế hoạch chủ nhiệm.

2 Hội đồng sư phạm - Thông qua kế hoạch giáo dục toàn diện, trong đó có

giáo dục đạo đức. 3 Tổ chuyên môn (khối

lớp) - Bàn bạc cùng thực hiện kế hoạch giáo dục, hỗ trợ nhau cùng tổ chức hoạt động giáo dục, cung cấp thông tin, cùng đánh giá kết quả giáo dục.

4 Đội TNTP Hồ Chí Minh - Sao Nhi đồng

- Phối kết hợp thực hiện nội dung giáo dục đạo đức thông qua các sinh hoạt tập thể, chủ điểm và phong trào Đội, sinh hoạt Sao. - Cùng tham gia đánh giá kết quả giáo dục.

5 Công đoàn - Giúp đỡ nhau khi triển khai hoạt động giáo dục. Giáo viên là công đoàn viên nên đồng thời là người thực hiện nhiệm vụ giáo dục.

6 Bảo vệ, nuôi dưỡng, y tế

- Giúp đỡ, cung cấp thông tin để tham khảo khi đánh giá.

Gợi ý trả lời câu hỏi đánh giá

Câu 1 : Đáp án a.

Câu 2 : Một số kĩ năng cần thiết khi thực hiện phối kết hợp các tổ chức, lực lượng trong trường để giáo dục đạo đức cho học sinh.

- Lập kế hoạch :

+ Xác định mục tiêu giáo dục.

+ Xây dựng nội dung giáo dục phù hợp.

+ Dự tính thời gian.

+ Điều kiện vật chất và các điều kiện khác để thực hiện.

+ Dự kiến người thực hiện.

+ Tổ chức rút kinh nghiệm, điều chỉnh kế hoạch.

- Giao tiếp :

+ Bày tỏ ý kiến.

+ Cảm thông, chia sẻ, nhường nhịn.

+ Đặt vấn đề đúng lúc, đúng người.

- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục.

- Hợp tác.

- Thống kê, tổng kết, đánh giá. * Hoạt động 2

* Nội dung kết hợp nhà trường - các lực lượng xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học :

- Hội phụ huynh học sinh :

+ Bàn bạc biện pháp giáo dục đạo đức.

+ Tuyên truyền chủ trương, nội dung, các biện pháp giáo dục đến gia đình học sinh và cộng đồng.

+ Thông tin về nhu cầu, nguyện vọng của gia đình học sinh, tình trạng học sinh với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường.

- Gia đình học sinh :

+ Thông tin hai chiều về tình hình học sinh.

+ Tạo điều kiện vật chất, tinh thần cho con em thực hiện yêu cầu giáo dục.

+ Tham gia tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nếu có khả năng, điều kiện.

+ Tham gia đánh giá kết quả của giáo dục đạo đức của con em mình.

- Cộng đồng dân cư :

+ Cung cấp thông tin về tình trạng học sinh.

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giáo dục khi nhà trường yêu cầu.

+ Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh để tạo niềm tin của học sinh vào cộng đồng.

- Đoàn thanh niên địa phương :

+ Tham gia giáo dục học sinh qua các chương trình hành động của mình.

+ Hỗ trợ nhà trường, giáo viên chủ nhiệm về nghiệp vụ công tác đội, các hoạt động ngoài giờ lên lớp.

Tóm lại, có nhiều biện pháp khác nhau để thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh. Phối hợp các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường được coi là một trong các biện pháp giáo dục khép kín 3 môi trường giáo dục : Gia đình - Nhà trường - Xã hội.

Gợi ý trả lời câu hỏi đánh giá

Câu 1 : Đáp án : 1.g, h ; 2.e ; 3.b, c, d ; 4.i ; 5.a.

Câu 2 : Đáp án a.

Câu 3 : Vị phụ huynh trong tình huống đã nêu chưa làm tròn trách nhiệm phối kết hợp với nhà trường để giáo dục con mình. Trong trường hợp này bạn nên :

- Nói với phụ huynh sẽ nghiêm khắc kèm cặp, quan tâm giúp đỡ học sinh đó hơn nữa trong thời gian học theo thời khoá biểu của nhà trường.

- Cùng gia đình bàn biện pháp kèm cặp học sinh trong thời gian học tập ở nhà.

- Tế nhị giải thích cho gia đình học sinh hiểu trách nhiệm của gia đình cùng phối kết hợp với nhà trường để giáo dục con em, không nên khoán trắng cho giáo viên chủ nhiệm và nhà trường.

* Gợi ý trả lời câu hỏi đánh giá tiểu môđun 1 Câu 1 : a : Lễ chào cờ.

b : Tiết hoạt động tập thể.

c : Sinh hoạt chủ điểm.

d : Ngoại khoá theo chủ đề.

đ. Hoạt động chính trị - xã hội.

Câu 2 : Sinh hoạt lớp lập kế hoạch tổ chức hoạt động theo chủ điểm 8/3 cho học sinh gồm các bước :

* Chuẩn bị : Giáo viên hoặc hướng dẫn học sinh chuẩn bị (nếu là học sinh lớp 3 trở lên).

- Mục đích của việc tổ chức hoạt động theo chủ điểm 8/3 : Giáo dục tình cảm đối với cô giáo, bà, mẹ, chị trong gia đình...

- Nội dung : Lập kế hoạch tổ chức chủ điểm 8/3 và một số nội dung khác nếu có.

- Biện pháp thực hiện : Dự kiến các nội dung sẽ được tổ chức theo trình tự nào, hình thức tổ chức ra sao, cách thực hiện từng nội dung như thế nào.

- Người thực hiện : Phân công từng học sinh cụ thể thực hiện các nội dung và điều kiện vật chất cho tổ chức chủ điểm. Chẳng hạn như :

+ Người xây dựng kế hoạch.

+ Người chuẩn bị nội dung.

+ Người chuẩn bị các điều kiện vật chất.

+ Người điều khiển chương trình,...

- Dự kiến các điều kiện vật chất : Dụng cụ, đồ vật, tranh ảnh cần thiết, khăn trải bàn, lọ hoa, hoa để tặng cô giáo, cây hoa dân chủ, phần thưởng,...

- Phân bố thời gian cho từng nội dung, thời gian tổ chức chủ điểm.

- Địa điểm tổ chức : Trong lớp học, ngoài sân trường, dã ngoại,...

* Tiến hành sinh hoạt

- Hát tập thể, ổn định tổ chức, giới thiệu người điều khiển chương trình.

- Người điều khiển chương trình giới thiệu giáo viên chủ nhiệm trình bày mục đích yêu cầu của tiết sinh hoạt tập thể nhằm kỉ niệm ngày 8/3.

- Ban cán sự lớp lên trình bày dự thảo kế hoạch tổ chức kỉ niệm 8/3.

- Động viên các học sinh phát biểu góp ý vào bản kế hoạch.

- Chủ toạ của buổi sinh hoạt tập thể (giáo viên hoặc học sinh) tổng kết các ý kiến đóng góp.

- Lấy biểu quyết về bản kế hoạch vừa xây dựng, tập trung vào các mục : Nội dung hoạt động, hình thức hoạt động, phân công người thực hiện các nội dung.

- Xen kẽ các hình thức văn nghệ, vui chơi.

* Nhận xét tiết hoạt động tập thể :

- Nhận xét ý thức chuẩn bị của các thành viên tham gia xây dựng dự thảo kế hoạch hoạt động ngày 8/3.

- Đánh giá ý thức tham gia xây dựng kế hoạch của các thành viên trong lớp.

- Phát động thi đua lập thành tích chào mừng ngày 8/3, ví dụ như “Hoa điểm mười tặng mẹ”, “Hoa việc tốt tặng cô”...

Tuy nhiên, tuỳ hoàn cảnh cụ thể, bạn có thể xây dựng mô hình tiết sinh hoạt tập thể theo chủ điểm phù hợp với lớp, trường, địa phương mình.

Để bài làm phù hợp với thực tế địa phương, các bạn trong cùng địa phương có thể trao đổi bài làm và góp ý cho nhau.

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT