Chia sẻ Download
Tài liệu Những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
/84 trang
Thành viên bautroidemcuaem1010

Những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

- 12 tháng trước
1,681
Báo lỗi

Những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Nội dung
Microsoft Word - 117 Ke chuyen ve Bac.doc

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- PPHHầầNN BBAA:: NNHHữữNNGG MMẩẩUU CCHHUUYYệệNN VVềề TTấấMM GGƯƯƠƠNNGG ĐĐạạOO ĐĐứứCC HHồồ CCHHÍÍ MMIINNHH

TTấấMM LLÒÒNNGG BBÁÁCC HHồồ VVớớII CCHHIIếếNN SSĨĨ BBÁÁCC HHồồ VVớớII CCHHIIếếNN SSĨĨ NNGGƯƯờờII DDÂÂNN TTộộCC TTấấMM LLÒÒNNGG BBÁÁCC HHồồ VVớớII TTHHƯƯƠƠNNGG BBIINNHH,, LLIIệệTT SSĨĨ TTấấMM LLÒÒNNGG CCủủAA BBÁÁCC BBÁÁCC HHồồ TTắắMM CCHHOO TTRRẻẻ ởở VVIIệệTT BBắắCC LLÀÀMM SSAAOO CCHHOO CCÁÁCC CCHHÁÁUU ĂĂNN NNOO,, CCÓÓ QQUUầầNN ÁÁOO MMặặCC QQUUảả TTÁÁOO BBÁÁCC HHồồ CCHHOO EEMM BBÉÉ MMừừNNGG CCHHOO CCÁÁCC CCHHÁÁUU,, BBÁÁCC CCÀÀNNGG TTHHƯƯƠƠNNGG NNHHớớ MMẹẹ BBÁÁCC HHồồ QQUUAANN TTÂÂMM ĐĐếếNN NNữữ PPHHÓÓNNGG VVIIÊÊNN TTÌÌNNHH YYÊÊUU TTHHƯƯƠƠNNGG BBAAOO LLAA TTừừ ĐĐÔÔII DDÉÉPP ĐĐếếNN CCHHIIếếCC ÔÔ TTÔÔ KKHHÔÔNNGG CCÓÓ VVIIệệCC GGÌÌ KKHHÓÓ ĐĐạạOO ĐĐứứCC NNGGƯƯờờII ĂĂNN CCƠƠMM GGƯƯƠƠNNGG MMẫẫUU TTÔÔNN TTRRọọNNGG LLUUậậTT LLệệ DDÙÙ TTÁÁ HHAAYY TTƯƯớớNNGG ĐĐềềUU PPHHảảII LLOO PPHHụụCC VVụụ NNHHÂÂNN DDÂÂNN PPHHảảII QQUUAANN TTÂÂMM ĐĐếếNN MMọọII NNGGƯƯờờII HHƠƠNN ĐĐờờII SSốốNNGG CCủủAA DDÂÂNN QQUUAANN TTRRọọNNGG HHƠƠNN CCÓÓ ĂĂNN BBớớTT PPHHầầNN CCƠƠMM CCủủAA CCOONN KKHHÔÔNNGG?? BBÁÁTT CCHHÁÁOO CCHHIIAA BBAA BBÁÁCC MMUUốốNN BBIIếếTT SSựự TTHHậậTT KKIIAA ĐĐÓÓNN VVUUAA HHAAYY ĐĐÓÓNN BBÁÁCC ĐĐII LLÀÀMM RRUUộộNNGG VVớớII NNÔÔNNGG DDÂÂNN

Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Mừng cho các cháu, Bác càng thương nhớ mẹ

Một lần trên ñường ñi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng

Oai (Hà Tây), Bác Hồ ñã nhắc ñến mẹ Bác.

Hôm ấy khi xe ôtô ñến Quảng Oai, một ñoàn các em bé gái cổ quàng

khăn ñỏ, em mặc áo hoa xen em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở

trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng. Nhìn thấy các cháu vui, Bác

Hồ cũng vui theo. Người nói với chú Vũ Kỳ và các chú ngồi cùng xe:

- Này! Các chú thấy không, các cháu ñược ăn mặc ñẹp, ñược ñi học,

cháu nào cũng vui vẻ phấn khởi, Bác mừng cho các cháu.

Rồi giọng Bác bỗng trầm hẳn xuống.

- Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái

ông ñồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không ñược ñến lớp, ñến trường ñâu các

chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác ñã phải lo việc nhà.

Mọi người cùng ñi không nén nổi cảm xúc trước tình cảm của Bác ñối với

mẹ Bác là cụ Hoàng Thị Loan.

Theo lời kể của ñồng chí Vũ Kỳ

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam ñang học ở Tả Ngạn thì có mấy chú ñưa xe ô tô ñến ñón về Hà Nội. Luyện, Thu, Nết, Phổ, Mên, Hoà… chưa hiểu có chuyện gì. Về Thủ ñô hôm trước thì năm giờ chiều ngày hôm sau có xe ñến ñón ñi.

Vào ñến sân Phủ Chủ tịch mới biết là ñược gặp Bác Hồ.

Vừa bước chân xuống xe, ñã nhìn thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà, tất cả chạy ào tới chào Bác.

Bác cháu trò chuyện với nhau. Sau ñó hai Bác bảo:

- Thôi, các cháu vào ăn cơm với hai Bác!

Bữa cơm chẳng có thịt cá gì nhiều nhưng rất ấm cúng. Các dũng sĩ thiếu niên ñược ngồi ăn cùng Bác Hồ và Bác Tôn. Nết, người nhỏ quá, cái ñầu chỉ lấp ló cạnh bàn ñược Bác gắp thức ăn cho luôn.

Vừa ăn, Bác cháu vừa nói chuyện rất vui. Ăn xong, hai Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách “Người tốt việc tốt”. Sau ñó, Bác Hồ bảo:

- Các cháu lại cả ñây hôn hai Bác rồi ra về.

Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ lại dặn:

- Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.

Tất cả ñều rất cảm ñộng. ðoàn Văn Luyện lên tiếng thưa với Bác:

- Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi các cháu về có việc cần.

Bác Hồ cười hiền từ và bảo:

- Hai Bác nhớ các cháu cho nên gọi các cháu về ñể hai Bác gặp hỏi chuyện.

Nghe Bác nói, Luyện và các bạn cảm ñộng, muốn trào nước mắt. Hai Bác tuổi ñã cao, trăm nghìn công việc, vậy mà hai Bác vẫn nhớ ñến các cháu miền Nam. Luyện nghĩ: “Mình ñược ở ngoài Bắc mà hai Bác còn lo và thương như vậy, các bạn còn ở trong Nam, hai Bác còn lo và thương biết chừng nào!...

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH”

– Ban Tuyên giáo Trung ương)

HL

Các thiếu niên dũng sĩ miền Nam ñược chụp hình với Bác Hồ và Bác

Tôn. ðoàn Văn Luyện người ñầu tiên bìa phải. Ảnh tư liệu

ðoàn dũng sĩ miền Nam ra thăm Bác Hồ năm 1968. Ảnh tư liệu

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Tấm lòng Bác Hồ với chiến sĩ (23/06/2008-8:16)

(THO) - Đối với chiến sĩ là những người hy sinh nhiều nhất cho dân tộc, Bác Hồ thường dành cho anh em sự chăm lo, săn sóc ân

tình, chu đáo nhất.

Mùa đông, thương anh em chiến sĩ rét mướt ở rừng núi hay bưng biền, Bác đem tấm áo lụa của mình được đồng bào tặng, bán đấu giá để

lấy tiền mua áo ấm gửi cho các chiến sĩ.

Bác thường nói: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được!”. “Chiến sĩ còn rách rưới, mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi!”.

Mùa hè năm ấy (1967), trời Hà Nội rất nóng. Sức khỏe Bác Hồ đã kém, thần kinh tuổi già cũng suy nhược, dễ bị toát mồ hôi, ướt đầm, có

ngày phải thay mấy lần quần áo, có khi hong tại chỗ, rồi lại thay ngay. Bác không cho dùng máy điều hòa nhiệt độ. Bác bảo: mùi nó hôi lắm,

Bác không chịu được! (Bác không dùng nên nói vậy thôi, chứ máy đã có nút xả thơm).

Thấy trời oi bức quá, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:

- Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc hội trường Ba Đình thì chịu sao được? Các chú ấy có đủ nước uống không?

Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết.

Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng máy 14 ly 5. Ụ cát sơ sài, nếu địch bắn vào thì chỉ có hy sinh, rất nguy hiểm.

Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi:

- Các đồng chí có nước ngọt uống không?

- Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!

- Dưới hội trường thấy có nước ngọt cơ mà!

- Đấy là dành cho các “ông bà” đến họp mới được uống, còn bọn tôi lấy đâu ra!

Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Văn Tiến Dũng:

- Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc hội trường Ba Đình rất sơ sài, chú phải

lo sửa ngay để bảo đảm an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu!

Sau đó Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu.

Tại sao Bác có tiền tiết kiệm? Lương Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ tiêu. Mọi chi phí cho sinh hoạt của Bác, từ cái chổi

lông gà, đều ghi vào lương cả.

Tiền tiết kiệm của Bác là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết báo nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, văn

phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác cũng đã có tiền tiết kiệm. Đến dịp Tết Nguyên đán, Bác

lại đem chia cho cán bộ các cơ quan chung quanh Bác, mua lợn để đón xuân.

Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo:

- Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền rất lớn, tương đương với khoảng 60 lạng vàng).

Bác bảo:

- Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói: đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng

không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu

số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!

Về sau, Bộ Tư lệnh Phòng không không quân báo cáo lại cho Văn phòng Phủ Chủ tịch biết: số tiền của Bác đủ mua nước uống cho bộ đội

phòng không, không quân được một tuần!

Trần Đức Hiếu (theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ)

Trích trong cuốn “Bác H�, con ng��i và phong cách” NXB Lao động, H.1993, T1

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bác có phải là vua ñâu 30/11/2009 GMT+7 Có một số người ở ngôi cao, chức cả, sống trong sự trọng vọng, chiều chuộng của mọi người, thường xuyên ñược hưởng sự ưu ñãi ñặc biệt, lâu dần cũng quen ñi mà không hề biết rằng mình ñã nhiễm thói ñặc quyền, ñặc lợi.

Suốt ñời tâm niệm là người công bộc của nhân dân, lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ, Bác Hồ của chúng ta luôn luôn hòa mình vào cuộc sống chung của ñồng bào, ñồng chí, không nhận bất cứ một sự ưu tiên nào người khác dành cho mình.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nhiều nhân sĩ, trí thức cao tuổi theo Bác lên Việt Bắc, ñi kháng chiến, ñèo cao, suối sâu, ñường bùn lầy, nhiều vị phải nằm cáng. Anh em phục vụ lo Bác mệt cũng ñề nghị Bác lên cáng, Bác gạt ñi: “Bác còn khoẻ, còn ñi ñược, các chú có nhiệm vụ ñưa Bác ñi như thế này là tốt rồi”.

Năm 1950, Bác Hồ ñi chiến dịch Biên giới. Chuyến ñi dài ngày, gian khổ. Anh em cảnh vệ kiếm ñược một con ngựa, mời Bác lên. Bác cười: “Chúng ta có bảy người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện!”. Anh em khẩn khoản: Chúng cháu còn trẻ, Bác ñã cao tuổi, ñường xa, việc nhiều…

Không nỡ từ chối, Bác ñã trả lời:

- Thôi ñược, các chú cứ mang ngựa theo ñể nó ñỡ hộ ba lô, gạo nước và thức ăn. Trên ñường ñi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.

Hồ Chủ Tịch làm việc trước lều dựng tạm trên ñường ñi Chiến dịch Biên giới năm 1950. (ảnh tư liệu)

Cuối năm 1961, Bác về thăm xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, một xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một ngọn ñồi thấp, Bác ñứng nói chuyện với nhân dân trong xã. Trời ñã gần trưa, tuy ñã sang ñông mà nắng còn gay gắt. Nhìn Bác ñứng giữa nắng trưa, ai cũng băn khoăn. ðồng chí Chủ tịch huyện cho tìm mượn ñược chiếc ô, ñịnh giương lên che nắng cho Bác, thì Bác quay lại hỏi:

- Thế chú có ñủ ô che cho tất cả ñồng bào không? Thôi, cất ñi, Bác có phải là vua ñâu?

Bác Hồ ân cần thăm hỏi nhân dân xã Tân Phong - Bình Xuyên - Vĩnh Phúc trong chuyến về thăm 12/2/1956 (ảnh tư liệu).

Một lần, trong bữa ăn, ñồng chí phục vụ dọn lên cho Bác một ñĩa cá anh vũ, một loại cá sông quý hiếm thường chỉ có ở khúc sông Hồng ñoạn Bạch Hạc – Việt Trì. Nhìn ñĩa cá biết ngay là của hiếm, Bác khen và bảo:

- Cá ngon quá, thế mà chú Tô (tức ñồng chí Phạm Văn ðồng) lại ñi vắng. Thôi, các chú ñể ñến chiều ñồng chí Tô về cùng thưởng thức.

Miếng ngon không bao giờ Bác chịu ăn một mình. Chia sẻ ngọt bùi là thế, tưởng chuyện cũng sẽ qua ñi. Nhưng ñến bữa sau, trong mâm cơm lại có món cá hôm trước. Nhìn ñĩa cá Bác hiểu ngay và tỏ ra không bằng lòng.

- Bác có phải là vua ñâu mà phải cung với tiến!

Hồ Chủ Tịch làm việc trước lều dựng tạm trên ñường ñi Chiến dịch Biên giới năm 1950 (ảnh tư liệu)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Rồi Người kiên quyết bắt mang ñi không ăn nữa. Như Bác ñã từng nói, ở ñời ai chẳng thích ăn ngon, mặc ñẹp, nhưng nếu miếng ngon ñó lại ñánh ñổi bằng sự mệt nhọc, phiền hà của người khác thì Bác ñâu có chấp nhận.

Những anh em công tác trong phủ Chủ tịch hàng ngày vẫn thường ñi lại bằng xe ñạp, thỉnh thoảng vẫn gặp Bác ñi bộ. Nhìn thấy Bác, mọi người ñều xuống dắt xe chờ Bác ñi qua rồi mới lên xe ñi tiếp. Thấy vậy, Bác thường khoát tay ra hiệu bảo anh em cứ ñi tiếp, không cần xuống xe. Nhưng ai có thể cho phép mình ngồi trên xe khi Bác ñi bộ. Một lần, Bác gọi ñồng chí vừa xuống dắt xe lại gần và bảo:

- Các chú có công việc của mình nên cứ tiếp tục ñạp xe mà ñi. Bác ñâu có phải là cái ñền có biển “hạ mã” ở trước ñể ai ñi qua cũng phải xuống xe, xuống ngựa?

Lão Tử có nói: “Trời ñất sở dĩ có thể dài và lâu vì không sống cho mình nên mới ñược trường sinh. Thánh nhân ñặt thân mình ở sau mà lại trước, ñặt thân mình ở ngoài mà lại còn”. Bác Hồ sống quên mình, không nghĩ ñến mình mà lại trở thành sống mãi.

Lời Lão Tử thật sâu sắc lắm thay!

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ ñội diễn tập (năm 1957) - Ảnh tư liệu.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Nói với dân, phải rõ ràng (19/06/2008-7:52)

(THO) - Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch biên giới với mục đích tiêu diệt bộ phận sinh lực quan trọng của địch, mở thông

đường giao liên với Trung Quốc và các nước XHCN, củng cố căn cứ Việt Bắc – Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đây là chiến dịch lớn nhất đầu

tiên chỉ được đánh thắng không được bại.

Bí thư kiêm Tư lệnh chiến dịch Võ Nguyên Giáp sau cuộc trực tiếp thị sát đã họp Đảng ủy mặt trận mở rộng, chỉ huy trưởng các trung đoàn, đại

đoàn lấy ý kiến. Các đồng chí dự họp kiến nghị đánh đồn Đông Khê chứ không phải thị xã Cao Bằng như dự kiến lúc ban đầu vì tương quan lực

lượng và điều kiện không cho phép – dựa trên bài học chiến thắng của các tiền nhân (Nguyễn Trãi nói: “Đánh thành là hạ sách” khi mà quân giặc

Minh cố thủ thành Đông Quan (50 vạn quân) chờ tiếp viện. Quả nhiên là khó đánh nhưng khi ta diệt được đạo quân Liễu Thăng ứng cứu thì lập tức

lũ giặc chiếm thành Đông Quan bỏ giáo xin hàng).

Từ kinh nghiệm ấy, đảng ủy phân tích các lý lẽ của tham mưu, hậu cần rồi nhất trí quyết nghị đánh Đông Khê; chiếm cứ điểm nhằm cô lập Cao

Bằng, dụ địch ở Lạng Sơn lên ứng cứu. Ta tổ chức trận địa mai phục để tiêu diệt lớn quân địch tại đây. Thừa thắng ta sẽ tiến công giải phóng Cao

Bằng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến sở chỉ huy chiến dịch nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp Báo cáo chủ trương của Đảng ủy mặt trận. Người hỏi các đồng

chí dự hội nghị:

- Các chú còn phân vân gì không?

Báo cáo Bác, không ạ!.

- Bác nói tiếp

- Tất cả thật sự đồng lòng là tốt, như vậy mới có sức mạnh. Bác cũng đồng ý phương án này có nhiều cái hay. Đông Khê là điểm xung yếu trong

hệ thống phòng thủ của địch ở biên giới nhưng lại là điểm quân địch tương đối yếu vì nó nằm giữa 2 cụm căn cứ Lạng Sơn và Cao Bằng nên kẻ

địch cho rằng ta không dám vào đánh. Nếu ta đánh vào Đông Khê, Lạng Sơn tất phải rung động không còn gan lỳ cố thủ nữa, nó phải đi cứu nhau.

Ta phải dàn quân ở chỗ hiểm mà đánh tất sẽ thắng. Lúc đó ta không đánh thì ở Cao Bằng, quân giặc cũng sợ bị cô lập phải rút. Các chú rõ ý Bác

rồi chứ?

- Rõ rồi ạ! Tất cả đồng thanh.

Đồng chí Vũ Xuân Chiêm lúc đó ngồi sau lưng Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Trần Đăng Ninh cứ trố mắt nhìn. Ông nghĩ: Ông Cụ nói chuyện

chiến trận mà giản dị như việc nhà, việc cửa, thật dễ hiểu... Công tác vận động của mình cũng phải như vậy mới làm cho quần chúng hiểu rõ chủ

trương. Bác cũng nhìn thấy anh cán bộ trẻ, tay lăm lăm cây bút chăm chú lắng nghe. Giờ giải lao Người vẫy lại ôn tồn hỏi:

- Chú cũng làm việc ở chỗ chú Ninh à?

- Vâng ạ!

- Ở đó chú làm việc gì?

- Báo cáo Bác, cháu làm công tác chính trị ạ!

- Đó là việc tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện chủ trương đường lối cách mạng. Công việc đó quan trọng lắm nhưng phải có cặp tai

thính, đôi mắt tinh tường mới làm tốt được, chú hiểu chứ?

Thấy Vũ Xuân Chiêm chưa rõ ý, Bác vui vẻ nói:

- Bác kể chú nghe một chuyện nhé: Một lần Bác ở chỗ làm việc về nhà, chú bảo vệ đón, Bác khẽ gật, đưa tay lên miệng nói: “Cho Bác chút

nước...” chú bảo vệ đi vào rồi quay ra ngay, đưa thuốc và lửa cho Bác. Mấy chú đứng quanh cười ồ lên: “Bác hỏi nước sao lại đưa lửa”. Bác nhận

thuốc đưa mọi người cùng hút và can anh em đừng rầy chú ấy, rồi hỏi: Tại Bác nói không rõ hay tại chú ấy nghe nhầm, nhưng tại ai thì cũng có bài

học là cán bộ nói cho dân nghe phải rõ ràng, dứt khoát và cũng chớ làm như chú bảo vệ, dân xin nước lại cho lửa. Rồi Bác cười. Chuyện chỉ có thế,

chú thấy cái tai, con mắt, cách nói, khi làm công tác tuyên truyền với quần chúng quan trọng thế nào chứ!

Vũ Xuân Chiêm ghi nhớ suốt đời buổi tiếp xúc đầu tiên với Bác Hồ. Từ đấy anh luôn tâm niệm làm cán bộ chính trị là truyền bá, giáo dục đường

lối chủ trương chính sách của Đảng. Suy ra theo lời Bác là phải biết thận trọng khi nghe, trung thực thẳng thắn khi nói, chịu trách nhiệm trước nhân

dân và cán bộ, chiến sĩ khi làm.

Võ Thúc Loan

(ST và biên soạn theo Sự kiện và Nhân chứng)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Gương mẫu tôn trọng luật lệ 30/11/2009 GMT+7 Hàng ngày, Bác thường căn dặn anh em cảnh vệ chúng tôi phải luôn có ý thức tổ chức, kỷ luật, triệt ñể tôn trọng nội quy chung.

Bác bảo: “Khi bàn bạc công việc gì, ñã quyết nghị thì phải triệt ñể thi hành. Nếu ñã tự ñặt ra cho mình những việc phải làm thì cương quyết thực hiện cho bằng ñược”.

Một hôm chúng tôi theo Bác ñến thăm một ngôi chùa lịch sử. Hôm ấy là ngày lễ, các vị sư, khách nước ngoài và nhân dân ñi lễ, tham quan chùa rất ñông. Bác vừa vào chùa, vị sư cả liền ra ñón Bác và khẩn khoản xin Người ñừng cởi dép, nhưng Bác không ñồng ý. ðến thềm chùa, Bác dừng lại ñể dép ở ngoài như mọi người, xong mới bước vào và giữ ñúng mọi nghi thức như người dân ñến lễ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ năm 1963. (Ảnh tư liệu)

Trên ñường từ chùa về nhà, xe ñang bon bon, bỗng ñèn ñỏ ở một ngã tư bật lên. ðường phố ñang lúc ñông người. Xe của Bác như các xe khác ñều dừng lại cả. Chúng tôi lo lắng nhìn nhau. Nếu nhân dân trông thấy Bác, họ sẽ ùa ra ngã tư này thì chúng tôi không biết làm thế nào

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- ñược. Nghĩ vậy, chúng tôi bàn cử một ñồng chí cảnh vệ chạy ñến bục yêu cầu công an giao cảnh bật ñèn xanh mở ñường cho xe Bác. Nhưng Bác ñã hiểu ý, Người ngăn lại rồi bảo chúng tôi:

- Các chú không ñược làm như thế. Phải gương mẫu tôn trọng luật lệ giao thông, không nên bắt người khác nhường quyền ưu tiên cho mình.

Chúng tôi vừa ân hận, vừa xúc ñộng, hồi hộp chờ người công an giao cảnh bật ñèn xanh ñể xe qua...

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

Thi ñua về lòng yêu nước thì ta thắng (17/06/2008-8:06)

(THO) - Những bức ảnh Bác Hồ chúng ta biết được đến ngày nay, thường là không thấy Bác mặc com-lê, thắt ca-vát.

Nhớ lại khoảng tháng 10-1945, khi đi thăm tỉnh Thái Bình, Bác gặp một đội viên bảo vệ chân đi giày ghệt, thắt lưng to

bản và thắt ca-vát nữa. Bác dừng lại nói:

- Chú mà cũng phải thắt cái này à?

Trong Bắc bộ phủ, thấy có một số cán bộ từ chiến khu mới về đã “xúng xính”, Bác nhẹ nhàng:

- Trông các chú ra dáng những người thành phố rồi...

Bác bao giờ cũng mong đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Bác còn mong các cháu có áo đẹp, cụ

già có khăn lụa... Bác không bao giờ lấy ý của mình áp đặt người khác.

Có lần sang thăm một nước bạn, một cán bộ ngoại giao xin phép Bác ra phố, Bác bắt cán bộ đó mặc quần áo, thắt ca-vát

nghiêm chỉnh rồi mới cho phép đi. Bác nói:

- Đời sống khá hơn thì ăn mặc cũng được khá lên, nhưng phải tùy cảnh, tùy thời.

“Thời” và “cảnh” năm 1945 là đa số đồng bào ta vừa qua 80 năm bị áp bức nô lệ, qua cơn đói Ất Dậu, vừa bị lụt bão, miếng

cơm, củ khoai chưa đủ ăn, áo không đủ mặc, thế mà các cán bộ – những đầy tớ của nhân dân, như lời Bác dạy – lại mặc

những bộ quần áo sang trọng, đắt tiền, không phải lúc thì “khó coi”. Khi đi thăm bà con nông dân, tới ruộng, Bác bỏ dép, xắn

quần lội ruộng, tát nước với bà con. Trong khi đó, có anh cán bộ đi giày bóng loáng, chỉ có thể đứng trên hỏi thăm.

Báo Nhân Dân ngày 18-5-1994, có đăng một bài, nội dung tóm tắt như sau:

Chuyện rằng, vào khoảng cuối tháng 4-1946, do thực dân Pháp không chịu từ bỏ ý đồ xâm lược trở lại Việt Nam, để tạo điều

kiện, thời gian chuẩn bị kháng chiến, Bác và phái đoàn do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, sang Pháp điều đình

với Chính phủ Pháp.

Trước ngày ra đi, vẫn thấy Bác làm việc theo đúng thời gian biểu đã định, chẳng thấy Bác “sắm sửa” gì. Trong khi đó, một số

cán bộ trong phái đoàn lo tìm hiểu “mốt” Pari, lo may mặc những bộ com-lê, sơ mi, ca-vát, đóng giầy mới và có người còn lo cả

khoản nước hoa.

Việc làm ấy của các cán bộ cũng là điều tốt, nhưng có điều chắc các “vị” ấy đi hơi xa, hay có thể hơi “ồn ào”, có vẻ như một

cuộc thi đua may sắm. Chuyện đó đến tai Bác.

Thương yêu, bình đẳng, nhưng không thể không nhắc nhở. Bác nói:

- Các chú muốn thi đua với tổng thống, thủ tướng nước ngoài về ăn mặc thì thua họ thôi. Bác cháu ta đua với họ về lòng yêu

nước, thương dân thì ta mới thắng.

Lê Trung Sơn (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

Theo cuốn “Bác Hồ – đạo đức và phong cách” (NXB Lao động)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Không phải là siêu nhiên 30/11/2009 GMT+7 Bác Hồ của chúng ta là một con người vĩ ñại, siêu việt, nhưng cũng giản dị, gần gũi, thân thuộc với tất cả mọi người. Không có gì thuộc về con người lại không vang vọng sâu xa trong tâm hồn của Bác.

Linh mục Phạm Bá Trực là một người yêu nước, kính Chúa. ðược may mắn gặp Bác Hồ, do sức cảm hóa và hấp dẫn ñặc biệt của Người, cha Trực ñã kiên quyết một lòng ñi theo cách mạng và kháng chiến.

Là Phó trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I (tức Phó Chủ tịch Quốc hội ngày nay), cha Trực ñược mời tham dự các phiên họp của Hội ñồng Chính phủ do Bác chủ trì. Nhiều buổi họp khuya, cha thường ñược ở lại với Bác.

Có một lần, dưới ngọn ñèn khuya cha Trực ngồi yên lặng, ngắm Bác làm việc, cha cảm thấy Bác như là hiện thân của Chúa, mang ñức ñộ nhân từ, bác ái, vị tha của một bậc thánh, cha Trực bỗng thốt lên: - Vous - êtes surnaturel!

Bác mỉm cười, phủ nhận:

- Non, nous sommes contre - naturel!

Ý Bác muốn nói: việc Người cũng như cha Trực, hoặc vì phụng sự cách mạng hoặc vì phụng sự Chúa, mà quên lập gia ñình chỉ là ñiều phản tự nhiên thôi chứ không có gì thần thánh cả.

Cũng như vậy, có lần, sau một phiên họp Hội ñồng Chính phủ (24-5-1948) các thành viên trong Chính phủ ở lại ăn cơm chiều với Bác. Trong những cuộc gặp gỡ như vậy, Người thường rất vui, kể chuyện những ngày còn bôn ba hải ngoại, chuyện Tây, chuyện Tàu ñủ cả. Nhân ñó, có người mạnh dạn hỏi: vì sao Bác không lập gia ñình?

Bác cười và trả lời:

- Mình cũng chẳng thần thánh gì, cũng như tất cả mọi người thôi. Nhưng với hoàn cảnh ñã qua và hiện nay, còn có ñiều kiện nào mà nghĩ ñến chuyện lập gia ñình, không phải vì ñạo ñức mà là phải chịu ñạo ñức ñó thôi. Nhưng chưa lo ñược gia ñình nhỏ thì ta hãy lo cho gia ñình lớn ñã vậy.

Mồ côi mẹ từ năm lên 9 tuổi. Mười năm sau giã biệt cha già, ra ñi tìm ñường cứu nước. Anh mất rồi chị mất, ñều không có ñiều kiện chăm lo. Cũng như mọi người, Bác Hồ của chúng ta rất quý trọng tình cảm gia ñình, cơ sở bền vững của lòng yêu nước, thương dân. Ở Bác, những tình cảm lớn, dù sâu sắc, mênh mông ñến ñâu cũng không bao giờ che khuất hay át ñược những tình cảm riêng tư. Bác Hồ của chúng ta cũng phải gắng gỏi vượt lên trên những phút cô ñơn.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Chiều Việt Bắc, rừng Chiêm Hóa u buồn, sương lạnh. Gia ñình các ñồng chí trong Thường vụ Trung ương ñều ở quanh Bác, nhưng cách nhau ñến mấy quả ñồi, mấy cánh rừng. Chiều ñông, càng im ắng, cô quạnh.

Một hôm, bà Trường Chinh dắt cô bé gái của mình lên thăm Bác, có ý ñịnh ñể cô bé lại với Bác mấy hôm cho Bác ñỡ buồn. Lúc ñầu, ñược lên với Bác, cô bé rất thích, vui vẻ nhận lời. Nhưng khi chiều ñến, bà xin phép Bác ra về, trong cảnh u tịch, vắng vẻ, cô bé ñổi ý, khóc ñòi về với mẹ.

Không giữ ñược, Bác tiễn mẹ con ra ñầu dốc và cứ ñứng nhìn theo mãi. Khi Bác quay về, các ñồng chí phục vụ thấy ñôi mắt Bác long lanh ướt. Bác nói với các ñồng chí xung quanh:

- Chúng ta, ai cũng ñều muốn có một cuộc sống gia ñình ấm cúng. Người cách mạng là người giàu tình cảm, lại càng quý trọng cuộc sống gia ñình, chẳng qua vì chưa có ñiều kiện thuận lợi nên chưa thực hiện ñược, ñành phải chịu ñựng mà thôi.

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

Việc chi tiêu của Bác Hồ (26/05/2008-7:30)

Các đồng chí ở gần Bác đều cho biết Bác rất tiết kiệm. Có đôi tất rách đã vá đi, vá lại mấy lần Bác cũng không

dùng tất mới. Bác nói:

- Cái gì còn dùng được nên dùng. Bỏ đi không nên...

Khi tất rách chưa kịp vá, anh em đưa đôi mới để Bác dùng, Bác xoay chỗ rách vào bên trong rồi cười xí xóa:

- Đấy, có trông thấy rách nữa đâu...

Có quả chuối hơi nẫu, anh cán bộ chê không ăn, Bác lấy dao gọt phần nẫu đi, bóc ăn ngon lành, rồi nói:

- Ở chiến khu có được quả chuối này cũng đã quý...

Câu nói và việc làm của Bác làm đồng chí cán bộ “khiếp vía”, hối hận mãi.

Dù cho đã làm đến Chủ tịch nước, suốt trong những năm ở Việt Bắc, ở Hà Nội, Bác chưa bao giờ “có tiền” (như anh

em cán bộ, chiến sĩ công tác quanh Bác thường nhận xét). Thực tế lịch sử cho thấy rằng: suốt cuộc đời hoạt động của

Bác ở nước ngoài, Bác gặp rất nhiều khó khăn về tài chính do những nguyên nhân khác nhau. Được đồng nào, chủ yếu

do lao động tự thân mà có, Bác dành cho công tác cách mạng. Bác chi tiêu rất dè xẻn, cân nhắc từng xu. Liên hoan

mừng thành lập Đảng cũng chỉ có bát cơm, món xào, tô canh, đĩa cá. Chiêu đãi đồng chí Lý Bội Quần - người Trung

Quốc, người đã mua chiếc máy chữ từ Hải Phòng về tặng mình (năm 1939), Bác cũng chỉ “khao một món canh và 2 đĩa

thức ăn, thêm hai lạng rượu, tổng cộng chưa hết một đồng bạc”.

Tự thết đãi mình “khi nghe tin Hồng quân bắt sống 33 vạn quân Hítle ở Xtalingrát năm 1943”, tại nhà tù, trong túi chỉ

còn vẻn vẹn một đồng bạc, Bác đã “nhờ người lính gác mua giùm cho ít kẹo và dầu chả quẩy”. Sau khi phấn khởi hô mấy

khẩu hiệu hoan nghênh thắng lợi của Liên Xô, Bác “ngồi một mình, chén tạc, chén thù rất đàng hoàng, vui vẻ”...

Năm 1957, Bác về thăm Nghệ - Tĩnh, khi ăn cơm chung với đồng chí Nguyễn Sĩ Quế, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn

Diệm, Bác đã để bớt ra ngoài mâm mấy món ăn, rồi nói: “Ăn hết lấy thêm, không ăn hết để người khác ăn, đừng để

người ta ăn thừa của mình”.

Có thể dẫn ra nhiều nữa những ví dụ về cách chi tiêu, sử dụng tiền bạc, cơ sở vật chất của Bác, rất “mâu thuẫn thống

nhất”: chắt chiu, tần tiện nhưng vẫn rộng rãi, không hoang phí mà cũng không keo kiệt, “ki bo”.

Thế giới, loài người tự hào về Bác. Là người Việt Nam, chúng ta càng tự hào biết bao! Cách ứng xử của Bác với tiền

tài, với cái ăn, cái mặc, với cơ sở vật chất nói chung đâu có phải là cao quá mà chúng ta không học tập được, đâu có

phải là một tòa thánh cấm uy nghiêm mà chúng ta không đặt chân lên được thềm bậc, dù là bậc thềm thứ nhất?

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

(Theo cuốn Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Quả táo Bác Hồ cho em bé 30/11/2009 GMT+7 Tháng 4-1946, với danh nghĩa là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ sang Pháp ñể ñàm phán với Chính phủ Pháp về những vấn ñề có liên quan ñến vận mệnh của ñất nước

Ông ðốc lý thành phố Paris mở tiệc long trọng thết ñãi Bác Hồ. Trước khi ra về, Người chọn lấy một quả táo ñẹp trên bàn, bỏ vào túi. Mọi người, kể cả ông ðốc lý ñều kinh ngạc chú ý tới việc ấy, ngạc nhiên và không giấu ñược sự tò mò. Khi Bác Hồ bước ra khỏi phòng, rất ñông bà con Việt kiều và cả người Pháp nữa ñang ñứng ñón Bác.

Bác Hồ tại Paris. (Ảnh tư liệu)

Bác chào mọi người. Khi Bác trông thấy một bà mẹ bế một cháu nhỏ cố lách ñám ñông lại gần, Bác liền giơ tay bế cháu bé và ñưa cho cháu bé quả táo. Cử chỉ của Bác Hồ ñã làm những người có mặt ở ñó từ chỗ tò mò ngạc nhiên ñến chỗ vui mừng và cảm phục về tấm lòng yêu trẻ của Bác.

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp trồng người (22/05/2008-7:38)

(THO) - Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp “trồng người”. Từ một thanh niên yêu nước

và ham học, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Năm 1920, tại Hội nghị Tua (Pháp) Người đã ra bản kiến nghị

trong đó có yêu sách về nền giáo dục (GD) cho người Việt Nam.

Người tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân cấu kết với phong kiến hạn chế GD và thực hiện GD nhồi sọ làm hư hỏng

thanh niên nước ta. Chúng đã thi hành chính sách ngu dân đối với dân tộc Việt Nam làm cho hơn 90% dân ta mù chữ.

Cùng với thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, Người đã khai sinh ra nền GD mới, một nền GD Việt Nam mang

tính nhân đạo và tính dân chủ cao, bảo đảm cho sự phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của con người. Đó là một

nền GD cách mạng, mang tính dân tộc tiến bộ, khoa học, nhân dân và đại chúng. Quan điểm của Bác về mục đích của

học tập là để trở thành một công dân tốt, một cán bộ tốt, giúp ích cho công cuộc kiến thiết đất nước. Muốn vậy “Trước hết

phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng GD nô dịch của thực dân còn sót lại như: thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao

động đấu tranh của nhân dân; học tập để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ”.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã đặt vấn đề: cùng với việc chống giặc đói, giặc ngoại xâm là

giặc dốt. “Phải ra sức chống giặc dốt để làm cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về

GD thể hiện trong ham muốn tột bậc của Người là: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn

tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong chế độ mới, quyền được đi học của trẻ em

cũng như tất cả mọi người là điều thiêng liêng. Trong “Thư gửi các em học sinh” nhân ngày khai trường đầu tiên của nước

Việt Nam dân chủ cộng hòa, tháng 9-1945, Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt

Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở

công học tập của các em”.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bác lại nói: “Dốt nát cũng là kẻ địch”, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, và “Cán bộ phải lấy văn hóa làm gốc”, vì

“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội nhất định phải có học thức”.

Bác đi nhiều, học nhiều, tiếp thu tinh hoa văn hóa và những trí thức của GD phương Đông, tiếp xúc với văn minh và nền

GD phương Tây và không ngừng bồi đắp thêm cho mình, nên Người thấy rõ mối quan hệ giữa học đi đôi với hành, lý luận

kết hợp với thực tiễn. Tư tưởng quan trọng nhất trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về GD đó là học chữ phải gắn

liền với học làm người. Người lưu ý các nhà trường không tách rời mục đích dạy và học chữ với việc dạy và học làm

người có ích cho đất nước. Nhà trường phải GD cho học sinh có tình yêu đất nước, thương nòi: “Dân ta phải biết Sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Dạy học là dạy kiến thức, nhưng trước hết phải dạy cho học sinh biết yêu nước,

thương nòi, tự hào về dân tộc, về tổ tiên.

Trong tác phẩm: “Đời sống mới” viết năm 1947, Người nói: “Từ tiểu học, trung học cho đến đại học, là nơi rèn luyện nhi

đồng và thanh niên. Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì

nó sẽ đỏ. Vì vậy sự học tập ở trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên, tức là tương lai của nước nhà. Vì

vậy cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu

thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”.

Trong thư gửi hội nghị GD toàn quốc (tháng 3-1955), Người viết: “Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy dạy

học là: chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt

của nước nhà”. Người còn nói: “Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc. Vậy GD cần

nhằm vào mục đích là thật thà phụng sự nhân dân. Các cháu thì học tập cần gắn với thực hành để mai sau thực hiện mục

đích cao quý: thực thà phụng sự nhân dân”. Người khẳng định: Phải dạy cho học sinh biết đem kiến thức học được trong

nhà trường phục vụ cho lợi ích của cộng đồng, lợi ích của cách mạng, chứ không chỉ dùng kiến thức ấy, bằng cấp ấy thu

lợi cho riêng bản thân mình. Học phải đi đôi với hành. Không tách rời việc học chữ với lao động chân tay, không tách rời trí

thức với quần chúng lao động. Có kiến thức là quý, nhưng chỉ thực sự quý khi kiến thức ấy phục vụ cho dân, cho nước.

Người cũng nêu lên các phương pháp GD cụ thể gợi ý cho các thầy giáo, cô giáo và học sinh, vv...

Bác là người đã đề xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện hàng loạt chủ trương to lớn, đúng đắn và sáng suốt như:

xóa nạn mù chữ, phổ cập GD sơ học, từng bước nâng cao trình độ học vấn cho người lao động, đào tạo cán bộ, đào tạo

nhân tài... Nhờ đó đất nước đã có được một thế hệ công nhân, nông dân, quân nhân trí thức, cả trai và gái, thuộc mọi tầng

lớp, mọi dân tộc, giàu lòng yêu nước, quý trọng độc lập tự do, tận tụy phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Một thế hệ cán

bộ, đảng viên biết rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức và những giá trị văn hóa tinh thần cao đẹp: cần, kiệm, liêm,

chính, chí công vô tư, khiêm tốn học hỏi, dũng cảm, năng động và sáng tạo trong lao động, trong chiến đấu, kế tục sự

nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc.

Suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp “trồng người”. Bản thân Bác

là một tấm gương tự học và là nhà GD lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ trước đến nay. Người đã có công đào tạo nên

nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam, những lãnh tụ xuất sắc cho Đảng, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải

phóng con người. Trước khi đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất

quan trọng và rất cần thiết”. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta quyết tâm thực hiện thật tốt

lời dạy của Bác: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

NGND Phạm Ngọc Quang (Sở Giáo dục và Đào tạo)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Mừng cho các cháu, Bác càng thương nhớ mẹ 30/11/2009 GMT+7 Một lần trên ñường ñi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây), Bác Hồ ñã nhắc ñến mẹ Bác.

Bà Hoàng Thị Loan (1868 - 1901), thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu)

Hôm ấy khi xe ôtô ñến Quảng Oai, một ñoàn các em bé gái cổ quàng khăn ñỏ, em mặc áo hoa, em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng. Nhìn thấy các cháu vui, Bác Hồ cũng vui theo. Người nói với chú Vũ Kỳ và các chú ngồi cùng xe:

- Này! Các chú thấy không, các cháu ñược ăn mặc ñẹp, ñược ñi học, cháu nào cũng vui vẻ phấn khởi, Bác mừng cho các cháu.

Rồi giọng Bác bỗng trầm hẳn xuống.

Bác Hồ ra ñời tại quê ngoại ở ngôi làng Hoàng Trù (tên nôm na là Cồn Trùa sau thành làng Chùa) huyện Nam ðàn, trong ngôi nhà tranh ba gian. Ngôi nhà nằm gần sát nhà cụ Hoàng ðường, ñược cụ dựng lên vào dịp lễ thành hôn của

con gái Hoàng Thị Loan và ông Nguyễn Sinh Sắc vào năm 1883. ðây là Gian thứ ba ñể bộ khung cửi dệt vải. Bà Loan thường khuya sớm dệt vải, dệt lụa giúp gia ñình những lúc khó

khăn, thiếu thốn. Sát bên là chiếc võng cói dài ñể bà tiện tay ru con những lúc ñang ñưa thoi dệt vải. Những lời ru ngọt

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- ngào và âm thanh của khung cửi êm ñềm là ký ức khó quên trong quãng thời thơ ấu của ba chị em cậu Nguyễn Sinh

Cung ngày ấy. (Ảnh tư liệu)

- Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông ñồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không ñược ñến lớp, ñến trường ñâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác ñã phải lo việc nhà.

Mọi người cùng ñi không nén nổi cảm xúc trước tình cảm của Bác ñối với mẹ Bác là cụ Hoàng Thị Loan.

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

Bác Hồ với chiến sĩ người dân tộc (19/05/2008-8:29)

(THO) - Bác của chúng ta yêu quý mọi chiến sĩ. Đối với các chiến sĩ giỏi, chiến sĩ người dân tộc, Bác còn chăm

sóc hơn vì đây là những người làm cách mạng khó khăn hơn chiến sĩ trai, chiến sĩ người Kinh nhiều.

Anh hùng La Văn Cầu, dân tộc Tày mãi mãi không quên bữa cơm của Bác “đãi” với rau, thịt gà... những “sản phẩm” do

chính Bác nuôi, trồng. Bác hỏi thăm mẹ Cầu, gửi quà cho mẹ, dặn cán bộ tạo mọi điều kiện để Cầu về thăm mẹ, giúp đỡ

gia đình.

Nhiều chiến sĩ người dân tộc đã lấy họ Hồ cho mình như Hồ Vai, Hồ Can Lịch, Hồ Văn Bột...

Mùa thu năm 1964, chị Choáng Kring Thêm – chiến sĩ người dân tộc Cà Tu, tham gia đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc

giải phóng miền Nam được ra miền Bắc, gặp Bác Hồ. Chị Thêm kể:

“Đoàn chúng tôi vừa bước xuống xe thì đã thấy Bác đứng chờ ngay ngoài sân.

Bác ôm hôn thắm thiết các thành viên trong đoàn. Chúng tôi theo Bác đến dãy bàn tiếp khách kê ngay ngoài vườn đầy

hoa và nắng. Thấy tôi mặc bộ quần áo dân tộc, Bác nói: Cháu đúng là con gái dân tộc Cà Tu giữ được tính chất của dân

tộc mình.

Chị Ngân, chị Cao gặp Bác, mừng quá khóc lên.

Bác dịu dàng bảo: - Các cháu gái đừng khóc. Gặp Bác phải vui chứ. Hai cháu hãy kể cho Bác nghe bà con ta ở tiền

tuyến đánh Mỹ như thế nào?

Tôi thưa: - Thưa Bác, cháu thương, cháu nhớ Bác. Tất cả đồng bào dân tộc miền Nam đều thương nhớ Bác.

Sau đó tôi kể Bác nghe một số chuyện chiến đấu của mẹ Giớn, anh Bên, em Thơ...

Bác nói: - Cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam ta là toàn dân, toàn diện. Trẻ, già, gái, trai, Kinh, Cà Tu, Cà

Tang và đồng bào các dân tộc khác đều sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi”.

Tôi hiểu đó là Bác dành tình thương mênh mông của Bác cho tất cả chúng ta.

(Trích trong cuốn “Tấm lòng của Bác” Sđd, tr.138).

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Không có việc gì khó 30/11/2009 GMT+7 Năm 1927-1929, với tên gọi là Thầu Chín, Bác Hồ sống và hoạt ñộng trong kiều bào Việt Nam ở Xiêm (Thái Lan). ðây là một trong những thời gian Người sống lâu nhất với ñồng bào, trước năm 1945.

Sau khi ñặt chân ñến Phi Chịt, Người nêu ý kiến ñi ra U ðon ñể tìm gặp Việt kiều. Từ Phi Chịt ñến U ðon phải ñi bộ, băng rừng hàng tháng. Mỗi người ñi ñường ñều gánh theo hai thùng sắt tây ñựng quần áo, ñồ dùng lặt vặt, có nắp ñậy ñể tránh mưa núi, vắt rừng.

Bác Hồ ra tận cảng Hải Phòng ñón kiều bào từ Thái Lan về nước. (Ảnh tư liệu)

Thức ăn mang theo cũng là 10 ký gạo và một ống “cheo” (thịt gà hoặc sườn lợn băm nhỏ rang muối. Sau này, năm 1945 khi ñi Côn Minh, Bác cũng mang theo một ống “cheo” nhưng ñặt tên là muối Việt Minh”).

Thầu Chín cùng một số anh em ra ñi vào dịp mùa thu. Cây rừng ñang rụng lá. Trời nắng to, ñường ñi ñá sỏi gập ghềnh, mọi người ñều mệt mỏi. Thấy Thầu Chín không quen gánh, có người muốn giúp ñỡ, nhưng Thầu Chín không chịu.

Ít ngày sau, ñôi chân của Thầu Chín ñã sưng lên, rớm máu, tấy ñỏ. Anh em lại yêu cầu Thầu Chín nhường gánh.

Thầu Chín nói: “Thánh hiền ñã dạy: Thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên”, ý nói là dưới trời này không có việc gì khó, chỉ sợ lòng người không kiên trì... cứ cố gắng, ñể thế vài hôm nữa sẽ quen ñi...

Quả nhiên mấy ngày sau nữa, bước chân Thầu Chín ñã nhanh, ñi gọn, ñôi thùng ñung ñưa có vẻ ñã nhẹ nhàng. Mấy tháng sau, có lần từ U ðon về ñến Xa Vang ñường dài hơn 70 km, Thầu Chín chỉ ñi hết một ngày.

Hơn 20 năm sau, vào cuối mùa ñông năm 1950, trong một lần gặp gỡ anh em thanh niên xung phong làm ñường ở ðèo Khế, Thái Nguyên, Bác Hồ ñã ñọc tặng bốn câu:

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Bác Hồ với thanh niên (Ảnh tư liệu).

... Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

ðào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên.

Bốn câu thơ ấy, tuy là mượn ý của “Thánh hiền” nhưng ñã ñược kiểm nghiệm trong thực tế cuộc sống của Bác Hồ mấy chục năm trước ñó...

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

Bác Hồ là thế ñấy (15/05/2008-11:39)

(THO) - Thời chống Mỹ. Một buổi trưa, Hồ Chủ tịch đang chuẩn bị nằm nghỉ thì cần vụ vào báo cáo Bác là có

khách. Khách là một cụ già ở Hưng Yên. Cùng đi với cụ có một vị lãnh đạo tỉnh. Trên xe còn có một thùng cá khá

nặng.

- Thưa Bác, cháu xin thay mặt bà con ở địa phương lên thăm sức khỏe Bác và có ít cá mới đánh đem lên biếu Bác. Cá

loại này là cá tiến nổi tiếng ở đầm Dạ Trạch đấy ạ!

- Thưa cụ, cụ ngang tuổi tôi, xin cụ đừng xưng hô như thế!

- Vâng, nếu cụ cho phép...

- Ao nhà ta có rộng không mà cụ thả được nhiều cá vậy?

- Dạ thưa cụ, đây là cá của hợp tác xã.

- Cá của hợp tác xã là tài sản chung của bà con, phải để bà con dùng chứ!

- Thưa cụ, nhờ có ông lãnh đạo tỉnh giao cho nên lần đầu tiên tôi mới được gặp Cụ Chủ tịch nước, thật may mắn cho tôi

quá. Còn cá, đã trót mang lên đây rồi, xin cụ vui lòng nhận cho, chúng tôi khỏi phải đem về.

Hồ Chủ tịch cho mời ông cán bộ phụ trách nhà bếp lên gặp Người.

- Loại cá này ở chợ Bắc Qua bán bao nhiêu một cân?

- Thưa Bác, một cân giá...

- Vậy chú cân lên xem tất cả là bao nhiêu cân, coi như nhập vào nhà bếp của cơ quan. Và chú tính xem bao nhiêu tiền để

gửi cụ cầm về.

Quay sang vị khách quý Hưng Yên, Hồ Chủ tịch ân cần nói:

- Tôi xin đa tạ tấm lòng của cụ và bà con xã nhà đối với tôi. Quà cụ và bà con cho, tôi nhận rồi, còn đây là số tiền tôi gửi

cụ đem về nộp vào quỹ hợp tác xã.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

(Trích trong cuốn Kể chuyện Bác Hồ NXB Giáo dục – Hà Nội, 2006, T.4, tr.114)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Từ ñôi dép ñến chiếc xe ôtô 25/11/2009 GMT+7 ðôi dép của Bác “ra ñời” vào năm 1947, ñược “chế tạo” từ một chiếc lốp ôtô quân sự của thực dân Pháp bị bộ ñội ta phục kích tại Việt Bắc. ðôi dép ño cắt không dày lắm, quai trước to bản, quai sau nhỏ rất vừa chân Bác.

Trên ñường công tác, Bác nói vui với anh em cán bộ ñi cùng:

- ðây là ñôi hài vạn dặm trong chuyện cổ tích ngày xưa... ðôi hài thần ñất, ñi ñến ñâu mà chẳng ñược. Chẳng những khi “hành quân” mà cả mùa ñông, Bác ñi thêm ñôi tất cho ấm chân, tiếp khách trong nước, khách quốc tế vẫn thường thấy Bác ñi ñôi dép ấy.

Gặp suối hoặc trời mưa trơn, bùn nước vào dép khó ñi, Bác tụt dép xách tay. ði thăm bà con nông dân, sải chân trên các cánh ñồng ñang cấy, ñang vụ gặt, Bác lại xắn quần cao lội ruộng, tay xách hoặc nách kẹp ñôi dép...

Mười một năm rồi vẫn ñôi dép ấy... Các ñồng chí cảnh vệ cũng ñã ñôi ba lần “xin” Bác ñổi dép nhưng Bác bảo “vẫn còn ñi ñược”.

Cho ñến lần ñi thăm Ấn ðộ, khi Bác lên máy bay, ngồi trong buồng riêng thì anh em lập mẹo giấu dép ñi, ñể sẵn một ñôi giày mới...

Máy bay hạ cánh xuống Niu ðêli. Bác tìm dép. Anh em thưa:

- Có lẽ ñã cất xuống khoang hàng của máy bay rồi...

Thưa Bác...

Bác ôn tồn nói:

- Bác biết các chú cất dép của Bác ñi chứ gì. Nước ta còn chưa ñược ñộc lập hoàn toàn. Nhân dân ta còn khó khăn. Bác ñi dép cao su nhưng bên trong lại có ñôi tất mới thế là ñủ lắm mà vẫn lịch sự...

Thế là các ông “tham mưu con” phải trả lại dép ñể Bác ñi vì dưới ñất chủ nhà ñang nóng lòng chờ ñợi... Trong suốt thời gian ở Ấn ðộ, các chính khách, nhà báo, quay phim, chụp ảnh lại rất quan tâm ñến ñôi dép của Bác. Họ cúi xuống sờ nắn quai dép, thi nhau bấm máy từ nhiều góc ñộ, ghi ghi chép chép... làm anh em cảnh vệ lại phải một phen xem chừng và bảo vệ “ñôi hài thần kỳ” ấy.

Năm 1960, Bác ñến thăm một ñơn vị Hải quân nhân dân Việt Nam. Vẫn ñôi dép “thâm niên ấy”, Bác ñi thăm nơi ăn, chốn ở, trại chăn nuôi của ñơn vị. Cán bộ và chiến sĩ rồng rắn kéo theo, ai cũng muốn chen chân, vượt lên ñể ñược gần Bác, Bác vui cười nắm tay chiến sĩ này, vỗ vai chiến sĩ khác. Bỗng Bác ñứng lại:

- Thôi, các cháu giẫm làm tụt quai dép của Bác rồi...

Nghe Bác nói, cả ñám dừng lại cúi xuống yên lặng nhìn ñôi dép rồi lại ồn ào lên:

- Thưa Bác, cháu, ñể cháu sửa...

- Thưa Bác, cháu, cháu có “rút dép” ñây...

Nhao nhác, ầm ĩ như thế, nhưng ñồng chí cảnh vệ chỉ ñứng cười vì biết ñôi dép của Bác ñã phải ñóng ñinh rồi; có “rút” cũng vô ích...

Bác cười nói:

- Cũng phải ñể Bác ñến chỗ gốc cây kia, có chỗ dựa mà ñứng ñã chứ!

Bác “lẹp xẹp” lết ñôi dép ñến gốc cây, một tay vịn vào cây, một chân co lên tháo dép ra, “thách thức”:

- ðây! Cháu nào giỏi thì chữa hộ dép cho Bác...

ðôi dép cao su của Bác Hồ (ảnh tư liệu).

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Một anh nhanh tay giành lấy chiếc dép, giơ lên nhưng ngớ ra, lúng túng. Anh bên cạnh liếc thấy, “vượt vây” chạy biến...

Bác phải giục:

- Ơ kìa, ngắm mãi thế, nhanh lên cho Bác còn ñi chứ. Anh chiến sĩ lúc nãy chạy ñi ñã trở lại với chiếc búa con, mấy cái ñinh:

- Tôi, ñể tôi sửa dép...

Mọi người giãn ra. Phút chốc, chiếc dép ñã ñược chữa xong.

Những chiến sĩ không ñược may mắn chữa dép phàn nàn:

- Tại dép của Bác cũ quá. Thưa Bác, Bác thay dép ñi ạ...

Bác nhìn các chiến sĩ nói:

- Các cháu nói ñúng... nhưng chỉ có ñúng một phần... ðôi dép của Bác cũ nhưng nó chỉ mới tụt quai. Cháu ñã chữa lại chắc chắn cho Bác thế này thì còn “thọ” lắm! Mua ñôi dép khác chẳng ñáng là bao, nhưng khi chưa cần thiết cũng chưa nên... Ta phải tiết kiệm vì ñất nước ta còn nghèo...

ðôi dép cá nhân ñã vậy, còn “ñôi dép” ôtô của Bác cũng thế!

Chiếc xe “Pa-bê-ña” sản xuất tại Liên Xô Bác vẫn ñi, ñã cũ, Văn phòng xin “ñổi” xe khác, “ñời mới” hơn, tốt hơn, nhưng Bác không chịu:

- Xe của Bác hỏng rồi à?

Anh em thưa rằng chưa hỏng, nhưng muốn thay xe ñể Bác ñi nhanh hơn, êm hơn.

Bác nói:

- Ai thích nhanh, thích êm thì ñổi...

Hôm sau ñến giờ ñi làm, không biết là xe hỏng thật hay “ai” xui mà Bác ñứng ñợi bên xe mà xe cứ “ì” ra. Bác cười bảo ñồng chí lái xe:

- Máy móc có trục trặc, chú cứ bình tĩnh sửa. Sửa xong Bác cháu ta ñi cũng kịp...

Vài phút sau, xe nổ máy...

Bác lại cười nói với ñồng chí lái xe, cảnh vệ:

- Thế là xe vẫn còn tốt!

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- (theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về

TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – NXBCTQG)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Thấm nhuần sâu sắc hơnTư tưởng Hồ Chí Minh về dân, về ðảng (08/05/2008-8:19)

(THO) - Với sự trải nghiệm của một nhà cách mạng từng bôn ba khắp chân trời góc bể, hiểu kỹ những thành

tựu cũng như những thất bại, những tinh hoa cũng như những khuyết tật của phong trào cách mạng, Hồ Chí

Minh hiểu dân tộc mình cần cái gì nhất. Vì thế, đọc kỹ nội dung “điều mong muốn cuối cùng” của Hồ Chí Minh

trong Di chúc Người để lại, chúng ta hiểu được rằng: Với thời gian, chân lý bỗng vụt sáng lên từ trong những

câu chữ vốn rất dung dị, khiến người ta đôi khi cứ ngỡ như không còn gì để mà suy ngẫm nữa.

Trên cái “hướng đi của thời đại”, Bác Hồ hiểu điều dân tộc mình cần để thể hiện hết sức cô đọng, sâu lắng trong “điều

mong muốn cuối cùng” của Người. Suy ngẫm sâu về “điều mong muốn cuối cùng” đó, ta có thể hiểu ra được phải dồn

sức vào đâu, phải tập trung ý chí của dân tộc vào vấn đề gì, và bằng cách nào để thực hiện. Càng nghĩ, lại càng nhận ra

chiều sâu của một tư tưởng lớn, nhận ra tính cập nhật của một sức nghĩ lớn từ tầm cao tư duy Hồ Chí Minh, bản lĩnh Hồ

Chí Minh; từ đó mà lần trở lại những cái mốc lớn của đổi mới, của xây dựng Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp

quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, của đường lối đối ngoại trong bối cảnh phức tạp của thế giới... chính là sự quay

về với Tư tưởng Hồ Chí Minh, quay về với chân lý đơn giản mà Hồ Chí Minh đã đúc kết trong “điều mong muốn cuối

cùng” trong Di chúc của Người.

Chân lý luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian truân. Nhưng rồi, cùng

thời gian, sự thật dần dần hiện ra và chúng ta nhận ra được sự đơn giản đó của chân lý, vì chân lý là cụ thể. Nếu “Lúc

đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo quốc tế thứ ba”,

thì đến “lúc cuối”, “chủ nghĩa yêu nước” đó tập trung trong “điều mong muốn cuối cùng” của Người là: “Toàn Đảng, toàn

dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp

phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” (1).

Tư tưởng lý luận đó đã được hun đúc, hình thành và hoàn thiện bởi một nhân cách tuyệt vời trong sáng. Người nói:

“Ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm

ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá,

trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”. Đây là câu

Bác trả lời các nhà báo nước ngoài tại Hà Nội ngày 21-1-1946 với tư cách là Chủ tịch nước.

Ở vị thế là lãnh tụ của Đảng và là nguyên thủ quốc gia, Người vẫn trước sau như một không chút vướng bận đến

những cái làm cho con người có thể đánh mất mình. Từ ngôi nhà sàn trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, chúng ta đã thực sự

thấy được hình bóng của một tính cách “không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Hồ Chí Minh đến với Các Mác, với V.I Lênin bằng tư cách một người đi tìm con đường cứu nước với con mắt tỉnh táo để

phát hiện chân lý. Nhờ “Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương”, tuy hụt hẫng bởi cảnh vật không còn quen

thuộc, “Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre”, mà rồi vì vậy, Hồ Chí Minh không bị cái hạn hẹp của lũy tre che mất tầm

nhìn. Cách nhìn nhận về bản chất Đảng của Hồ Chí Minh như vậy là rất mới. Trong lý luận, nhất là trong thực hành, Bác

Hồ đặc biệt nhấn mạnh một điều: Dân ở trong Đảng, dân làm ra Đảng, dân là mẹ của Đảng. Điều này thể hiện trong hình

ảnh rất cụ thể, sống động: “Đảng ta là con nòi” (2), vừa rất Việt Nam, vừa rất sáng tạo, đi thẳng vào lòng người. Tố Hữu

đã hình tượng hóa ý tưởng độc đáo đó trong câu thơ: “Đảng ta sinh ở trên đời. Một hòn máu đỏ, nên người hôm nay”. Có

lẽ không có một Đảng Cộng sản nào ngoài Đảng của Hồ Chí Minh lại có một nhận thức rất nhất quán về Đảng của dân

như vậy. Bác nói: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ

nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung

thành của nhân dân!” (1).

Chính vì vậy, như hướng dẫn của Trung ương, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trước hết là suy

nghĩ kỹ để thực sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về dân, về dân tộc, về Đảng. Tư tưởng đó là Đảng gắn với dân,

Đảng của dân, Đảng ở trong dân, Đảng của dân tộc Việt Nam. Điều này càng trở nên có ý nghĩa trực tiếp khi mà sự tha

hóa của quyền lực đang có chiều phát triển thể hiện trong tình trạng xa dân, trong tệ nạn tham nhũng ở nhiều nơi hiện

nay mà chúng ta đang phải phòng, chống một cách quyết liệt... Phải từ trong dân, từ ý chí và tâm trạng của dân để hiểu

về đường lối, chính sách của Đảng, về phẩm chất và hành động của đảng viên. Biết phát hiện và làm bừng nở lòng yêu

nước của dân, đặc biệt của lớp trẻ, làm cho lòng yêu nước ấy “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua

mọi sự nguy hiểm, khó khăn”, làm cho nó trở thành động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước

hiện nay, chính cái đó là đạo đức. Cũng vì vậy, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

trực tiếp và có ý nghĩa to lớn lúc này là từ nền tảng lòng yêu nước, biết thổi bùng ngọn lửa yêu nước ấy lên để thiêu cháy

những ươn hèn, thoái hóa, làm bừng sáng những hành động thiết thực và cao cả của từng người dân, trước hết là thế hệ

thanh, thiếu niên, khơi dậy nguồn sinh khí mới của đất nước khi mà “Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt” (3).

(1). Hồ Chí Minh toàn tập – tập 10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, Tr.2.

(2). Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, Tr.175 và 185.

(3). Người đi tìm hình của nước – thơ Chế Lan Viên.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

.Hoàng Vĩnh (TP Thanh Hóa

Bữa cơm kháng chiến 25/11/2009 GMT+7 Khoảng giữa năm 1952, ðoàn ñại biểu quân ñội gồm 20 người tiêu biểu của các ñơn vị chủ lực, bộ ñội ñịa phương và dân quân du kích trong cả nước ñến Tuyên Quang dự "ðại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi ñua công nông binh toàn quốc".

Trước khi vào ðại hội, Bác mời cơm mọi người. Cụ Hoàng Hanh, thiếu tướng Trần ðại Nghĩa, anh Ngô Gia Khảm, chị Nguyễn Thị Chiên và một em thiếu nhi ñược Bác gọi ngồi cùng mâm với Bác.

Trên chiếc bàn bằng tre nứa sạch sẽ, thức ăn ñược bày lên, có thịt gà, cá rán, dưa chua, rau và cả một bát dưa nấu dấm cá. Bác nói: ðây là bữa cơm kháng chiến ñể chúc mừng các chiến sĩ thi ñua ñã lập nhiều thành tích trong sản xuất và chiến ñấu. Trung ương ðảng và Chính phủ không có gì nhiều, chỉ toàn những thứ do anh em trong cơ quan và Bác trồng trọt, chăn nuôi thu hái ñược, mời cụ, các cô các chú ăn. ðã ăn là ăn thật no, ăn no ñể ñủ sức tham gia hội nghị, nghe hiểu hết mọi ñiều về nói lại với nhân dân. Nào, xin mời! Rồi Bác cầm ñũa gắp thức ăn vào bát cho từng người.

Có ñồng chí nói: Chao ôi! Bác thết chúng cháu nhiều món quá. Bác quay sang vui vẻ nói: Tất cả ñây ñều là kết quả tăng gia sản xuất của tập thể cơ quan: gà và cá là Bác tự nuôi. Rau thì các cô các chú xem kìa - Bác chỉ tay ra khoảng ñất phía sau hội trường. Giữa tán cây cao, có một khoảng nắng rộng, nhìn rõ các luống rau xanh và giàn bầu tươi tốt. Bác tiếp: Rau thơm, hành tỏi cũng không phải mua. Hôm nay chưa giết lợn, ñể Hội nghị thành công, rồi sẽ khao chung

một bữa.

Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa (Ảnh tư liệu).

Bác Hồ cùng kéo lưới với bà con ngư dân Thanh Hóa năm 1960 (Ảnh tư liệu).

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

“Vừa ñẹp vừa ñỡ chói mắt ñồng bào...” (24/04/2008-9:10)

(THO)- Năm 1956, Bác Hồ đón một vị Tổng thống tại khu vườn Phủ Chủ tịch.

Một số công nhân Nhà máy Đèn Hà Nội được Bác “mời vào mắc đèn điện trên các cành cây giúp Bác”.

Anh em làm việc suốt ngày, ròng dây dẫn điện lắp đèn nhiều loại màu sắc trên ngọn, trên cành trong các lùm cây.

Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Bác ra vườn thăm anh em. Bác nói:

- Các chú bật đèn lên cho Bác xem đi.

Sau khi đóng cầu dao, những bóng đèn điện bỗng vụt hiện lên, lung linh như trong một hội hoa đăng. Đồng chí tổ

trưởng công nhân điện mời Bác đi xem và kiểm tra.

Bác chú ý từng ngọn đèn, từng đoạn dây dẫn đã an toàn chưa, gật gật đầu tỏ ý hài lòng.

Đến một đèn pha chiếu sáng đặt dưới một gốc cây, Bác dừng lại nói:

- Ngọn đèn này phải để khuất trong lùm cây, vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào đi qua đường.

Bác nhanh nhẹn bước tới ngọn đèn. Đồng chí tổ trưởng Dương Văn Hậu lo Bác vấp ngã vì đôi guốc mộc dưới chân

Bác đi trên đường rải sỏi, chạy vội đến:

- Bác để chúng cháu làm.

Nhưng Bác đã cúi xuống, rất “nghề nghiệp”, hai bàn tay bưng lấy thân ngọn đèn pha giấu vào một lùm cây đinh

hương.

Ngọn đèn pha mới được đặt, đẹp hẳn lên, người ngoài nhìn vào không bị chói mắt, mà chỉ thấy những tia sáng chiếu

qua các kẽ lá hắt lên một màu xanh dịu.

Lần sau, anh em Nhà máy Điện Hà Nội lại được đến Phủ Chủ tịch mắc đèn dây để Bác tiếp khách.

Rút kinh nghiệm lần trước, lần này anh em làm khác hẳn lối treo đèn cũ, như để thưa với Bác “phải luôn luôn đổi mới,

không ngừng phát huy sáng kiến” – như lời Bác dạy.

Anh em đặt một dây đèn màu từ dưới gốc cây dừa nước lên ngọn rồi tỏa ra các cành, mỗi cành một đèn màu khác

nhau. Ở các thân cây có quả đèn màu trắng, cành cây đèn màu xanh, gần quả, một chùm đèn nhỏ màu đỏ. Chếch hai

bên đặt hai đèn pha giấu trong lùm cây hắt nghiêng lên.

Như lần trước, vừa chập tối, Bác đã đến trước khách, thăm anh em công nhân điện và kiểm tra. Bác khen:

- Lần này các chú mắc đẹp đấy. Chắc khách quý của chúng ta cũng sẽ khen...

Bác lấy thuốc lá chia cho anh em công nhân điện mỗi người một điếu (sau này được biết là thuốc lá thơm Cu-ba do

Thủ tướng Phi-đen Cát-xtrô tặng Bác. Bác chia gần hết hộp thuốc. Một công nhân trẻ thấy Bác vui, hộp thuốc đã cạn,

muốn có một kỷ niệm về Bác, mạnh dạn thưa với Bác xin cái hộp. Bác cười và nói:

- Các chú đã có phần rồi. Cái hộp này Bác để dành cho các cô để các cô đựng kim chỉ chứ! (*)

Theo Minh Anh

(*) Viết theo lời kể của Dương Văn Hậu, sách Bác Hồ, con người và phong cách, tập II, trang 123

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Quyền lao ñộng của Bác 25/11/2009 GMT+7 Năm 1950, Bác Hồ ñi chiến dịch biên giới. Chuyến ñi dài ngày, gian khổ. Anh em cảnh vệ kiếm ñược một con ngựa, mời Bác lên. Bác cười: chúng ta có 7 người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện?

Anh em vừa khẩn khoản: chúng cháu còn trẻ, Bác ñã cao tuổi, ñường xa, việc nhiều... Không nỡ từ chối, Bác trả lời:

- Thôi ñược, các chú cứ mang ngựa theo ñể nó ñỡ hộ ba lô, gạo nước và thức ăn. Trên ñường ñi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.

Ở khu an toàn, mặc dầu xa ñịch, nhưng mỗi lần chuyển ñịa ñiểm, ngoài việc làm lán trại, Bác cháu còn phải ñào hầm, hố. Bác thường giúp ñỡ các chiến sĩ bảo vệ vẽ mẫu hầm, cách cầm xẻng, phá ñất ñá, nện “choòng”... Ngay trong mỗi nhà, mỗi lán Bác ñều cho ñào công sự ñề phòng máy bay tập kích bất ngờ, cây rừng ñổ xuống. Cứ mỗi ngày Bác ñào một ít, sau giờ làm việc vài ba buổi là xong. Ai muốn ñến giúp, Bác ngăn lại, không ñồng ý và nói:

- ðây là quyền lao ñộng của Bác.

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Ai ăn thì người ấy trả tiền 25/11/2009 GMT+7 Năm 1954, hoà bình lập lại trên nửa nước. ðồng bào các ñịa phương có sản vật gì quý ñều gửi một ít lên biếu Bác ñể giới thiệu thành tích tăng gia với Người.

Bác Hồ ñến thăm và trò chuyện cán bộ, công nhân Nông trường ðông Hiếu trong chuyến về thăm quê Nghệ An, ngày 10/12/1961. (Ảnh tư liệu)

Trong một bữa cơm, Bác thấy có món cà Nghệ, quả nhỏ, cùi dòn, ngâm mắm. Bữa ấy Bác ăn rất ngon. Hôm sau lại có món cà quê hương. Bác ăn hết vài ba quả. Thấy thế ñồng chí anh nuôi lại dọn cà. Bác hỏi: - Cà muối mua hay ai cho thế? - Thưa Bác, ñồng bào Nghệ An ñưa ra tặng Bác. - Có nhiều không? - Dạ, một ô tô ạ. Bác chậm rãi nói:

Cà pháo từ xưa vốn ñược coi là một món ăn chính, ñặc trưng của người nông dân xứ Nghệ.

- Thế này nhé. Cà Nghệ ăn rất ngon. Bác ăn mấy bữa liền là ñủ rồi. Bây giờ ai muốn ăn nữa thì trả tiền cho ñồng bào Nghệ An.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- ðồng chí chiến sĩ anh nuôi lùi ra nói: - Chết chưa! ðã bảo mà.

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

Thời gian quý báu lắm 23/11/2009 GMT+7 Sinh thời Bác rất khó chịu khi thấy cán bộ làm việc không ñúng giờ. Năm 1945, mở ñầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Người thẳng thắn góp ý:

Bác Hồ làm việc (ảnh tư liệu).

Trong giấy mời tới ñây nói 8 giờ bắt ñầu, bây giờ 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người chưa ñến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho ñúng giờ, vì thời gian quý báu lắm.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, một ñồng chí cấp tướng ñến làm việc với Bác sai hẹn mất 15 phút, tất nhiên là có lý do: mưa to, suối lũ, ngựa không qua ñược. Bác bảo:

- Chú là chỉ huy mà chậm ñi mất 15 phút thì bộ ñội của chú sẽ hiệp ñồng sai ñi bao nhiêu? Hôm nay chú ñã chủ quan, không chuẩn bị ñầy ñủ các phương án, nên ñã không giành ñược chủ ñộng.

Một lần khác, Bác và ñồng bào phải ñợi một ñồng chí cán bộ ñến ñể bắt ñầu cuộc họp. Bác hỏi:

- Chú ñến chậm mấy phút?

- Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ!

- Chú tính thế không ñúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người ñợi ở ñây.

Bác quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu, vì vậy thường không bao giờ ñể bất cứ ai phải ñợi mình.

Năm 1953, Bác quyết ñịnh ñến thăm lớp chỉnh huấn của anh chị em trí thức, lúc ñó ñang bước vào cuộc ñấu tranh tư tưởng gay go. Tin vui ñến làm náo nức cả lớp học, mọi người hồi hộp chờ ñợi.

Bỗng chuyển trời ñột ngột, mây ñen ùn ùn kéo tới, rồi một cơn mưa dồn dập, xối xả, tối ñất, tối trời, hai ba tiếng ñồng hồ không dứt. Ai cũng xuýt xoa, tiếc rẻ: Mưa thế này, Bác ñến sao ñược nữa, trời hại quá.

Giữa lúc trời ñang trút nước, lòng người ñang thất vọng, thì từ ngoài hiên lớp học có tiếng rì rào, rồi bật lên thành tiếng reo át cả tiếng mưa ngàn, suối lũ:

- Bác ñến rồi, anh em ơi! Bác ñến rồi!

Trong chiếc áo mưa ướt sũng nước, quần xắn ñến quá ñầu gối, ñầu ñội nón. Bác hiện ra giữa niềm ngạc nhiên, hân hoan và sung sướng của tất cả mọi người.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Về sau, anh em ñược biết: Giữa lúc Bác chuẩn bị ñến thăm lớp thì trời ñổ mưa to. Các ñồng chí làm việc bên cạnh Bác ñề nghị Bác cho báo hoãn ñến một buổi khác. Có ñồng chí ñề nghị tập trung lớp học ở một ñịa ñiểm gần nơi ở của Bác...

Nhưng Bác không ñồng ý: Ðã hẹn thì phải ñến, ñến cho ñúng giờ, ñợi trời tạnh thì biết ñến khi nào?

Thà chỉ một mình Bác và một vài chú nữa chịu ướt còn hơn ñể cho cả lớp học phải chờ uổng công!.

Ba năm sau, giữa thủ ñô Hà Nội ñang vào xuân, câu chuyện có thêm một ñoạn mới. Vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, hàng trăm ñại biểu các tầng lớp nhân dân thủ ñô tập trung tại Ủy ban Hành chính thành phố ñể lên chúc Tết Bác Hồ. Sắp ñến giờ lên ñường, trời bỗng ñổ mưa như trút. Giữa lúc mọi người còn ñang lúng túng thu xếp phương tiện cho ñoàn ñi ñể Bác khỏi phải chờ lâu thì bỗng xịch, một chiếc xe ñậu trước cửa. Bác Hồ từ trên xe bước xuống, cầm ô ñi vào, lần lượt bắt tay, chúc Tết mỗi người, trong nỗi bất ngờ rưng rưng cảm ñộng của các ñại biểu.

Thì ra, thấy trời mưa to, thông cảm với khó khăn của ban tổ chức và không muốn các ñại biểu vì mình mà vất vả, Bác chủ ñộng, tự thân ñến tại chỗ chúc Tết các ñại biểu trước. Thật ñúng là mối hằng tâm của một lãnh tụ suốt ñời quên mình, chỉ nghĩ ñến nhân dân, cho ñến tận phút lâm chung, vẫn không quên dặn lại: Sau khi tôi ñã qua ñời, chớ nên tổ chức ñiếu phúng linh ñình, ñể khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về

TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

Bác Hồ tăng gia rau cải 10/11/2009 GMT+7 Mùa ñông năm 1952, lúc ñó tôi ñang công tác ở Văn phòng Trung ương ðảng. Trụ sở cơ quan ñóng tại ñèo Re (núi Rồng). Cơ quan Phủ Chủ tịch cũng ở sát ngay cạnh ñó. Sau Hội nghị chính quyền lần thứ 5 (tháng 3-1952), Chính phủ ñã phát ñộng phong trào tăng gia, sản xuất, tiết kiệm trong toàn quốc.

Ở Trung ương, cơ quan này thi ñua tăng gia với cơ quan khác. Vì hai cơ quan gần nhau, tôi ñược công ñoàn cử ra thi ñua với cơ quan bên Phủ Chủ tịch. Bên Văn phòng Phủ Chủ tịch lại cử Bác là ñại diện cá nhân thi ñua tăng gia với cơ quan Văn phòng Trung ương.

Buổi lễ phát ñộng thi ñua diễn ra thật sôi nổi. Tôi ñang sức trẻ nên thay mặt anh em ñứng lên thách thức thi ñua: cùng một khoảng ñất như nhau 36m2, trong một thời gian nhất ñịnh, tôi xin trồng rau ăn với sản lượng cao nhất. Bác cũng ñứng lên: Bác nhận thách thức thi ñua tăng gia với chú Thông, với mảnh ñất 36m2 trong một thời gian bằng nhau, ñạt sản lượng rau nhiều hơn chú Thông. Mọi người vỗ tay hoan hô. Một số ñồng chí xì xào: một cuộc thi ñua không cân sức. Bác vừa già, vừa bận nhiều việc, ñịch sao ñược với cậu Thông khỏe như voi, trồng rau ñã quen. Có người nêu: “Giải thưởng thi ñua là một con gà trống 2 kg”. Mọi người lại hoan hô tán thưởng. Mấy ñồng chí ở Văn

phòng Trung ương nói to: “Nhất ñịnh chuyến này chúng ta ñược ăn thịt gà của Phủ Chủ tịch”. Bác nói vui: “Các chú muốn ăn gà của Chủ tịch thì phải tích cực tăng gia ñể có nhiều rau xanh cung cấp cho nhà bếp cơ quan”.

Tôi về suy nghĩ: ñể chắc ăn và có năng suất cao thì trồng cải củ, vì cải củ ở vùng này củ rất to, rất nặng. Tôi trao ñổi với anh em công ñoàn, mọi người ủng hộ, cho là sáng kiến.

Sau một tuần, tôi ñã làm ñất và trồng xong 36m2 cải củ. Ngay sát mảnh ñất của tôi, Bác và anh em bên Phủ Chủ tịch làm rất kỹ, ñất nhỏ, mịn và sạch cỏ. Hơn một tuần thì Bác gieo hạt cải mào gà (cải xanh lá xoan). Anh em Văn phòng Phủ Chủ tịch làm chỗ ñi tiểu gần nhà và mua một nồi hông lớn ñể hứng nước tiểu. Phía Văn phòng Trung ương tôi cũng huy ñộng anh em làm nhà tiêu ñể lấy phân bón.

Sau một tuần các cây cải mọc ñều và ñẹp. Bác lấy nước tiểu pha loãng tưới. Còn tôi lấy phân bắc tươi hòa ra tưới. Mỗi lần tưới cả cơ quan bịt mũi.

Sau một tháng, hai vạt rau tốt ngang nhau. Nhiều người ủng hộ tôi cho rằng tôi sẽ thắng vì củ cải lớn rất nhanh.

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc (ảnh Tư liệu)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Một hôm Bác nhổ rau bán cho nhà bếp chỉ ñược 15kg. Bác ñể lại những cây to, khỏe, mỗi cây cách nhau chừng hai gang. Một số anh em lo lắng vì thấy vườn rau Bác nhổ ñi xơ xác mà chỉ ñược có 15kg rau cải con. Ba buổi chiều liền, sau giờ làm việc Bác ñều ra vườn dùng chiếc dầm xới ñất cho cải và tưới nước giải ñều.

Sau hai tháng 10 ngày thì củ cải của tôi ñã to bằng bắp tay và có cây ñã có nụ. Tôi nhổ và cân cho nhà bếp ñược 60kg. Tôi vui mừng vì thắng lợi. Nhưng cũng lúc ñó, cây cải mào gà của Bác ñã to bằng cái nơm, cứ 5 ngày một lần Bác tỉa tàu cân cho nhà bếp khoảng 10kg. Kỳ lạ thay cải mào gà càng tỉa cây càng lớn, tàu càng to và càng trẻ lâu. Sau 2 tháng rưỡi cải mới có ngồng. Lúc ñó Bác nhổ cả cây cho nhà bếp muối dưa. Bác còn ñem biếu cụ già dân tộc gần ñó 2 cây rất to làm giống. Cụ già sung sướng khoe với mọi người: “Rau cải Cụ Hồ tốt thật”.

Mở sổ nhà bếp ra cộng

- Cải con: 15kg

- Tàu cải canh: 14 lần x 10kg = 140kg

- Cây cải làm dưa nén: 20kg

Cộng: 175kg

Vậy tôi thua ñã rõ ràng. Công ñoàn Văn phòng Trung ương phải nộp con gà trống nuôi ñược cho công ñoàn Văn phòng Phủ Chủ tịch. Nhờ có rau tăng gia mà cả mùa ñông nhà bếp ñủ rau nấu, không phải ra dân mua. Buổi tổng kết thật vui vẻ. Tôi ñứng dậy xin nhận thua. Bác nói chuyện với anh em: khi tăng gia, các cô, các chú phải lưu ý bốn ñiều kiện: giống, cần, phân, nước. Giống: nên chọn loại rau trồng một lần, ăn nhiều lần, củ cải dễ trồng, năng suất cao, nhưng chỉ ñược ăn một lần thì không bằng cải mào gà, trẻ lâu, tỉa ăn ñược nhiều lần. Cần: người trồng rau phải chăm chỉ, chọn ñúng thời vụ trồng loại rau cho hợp khí hậu, rau mới tốt. Vun xới phải ñúng cách. Cải mào gà khi tốt cứ 10 ngày xới một lần cho rễ con ñứt, chúng ra nhiều nhánh rễ hơn và hút ñược nhiều phân bón, muối khoáng trong ñất. Phân: phải chọn loại phân bón thích hợp. Cải canh rất hợp nước tiểu pha loãng. Thứ phân tươi chú Thông bón cũng tốt ñấy nhưng mất vệ sinh lắm. Nước: phải tưới ñều và tưới ñủ ñộ ẩm rau mới trẻ lâu và xanh tốt.

Lần ấy thua Bác, tôi hết chủ quan và rút ñược bài học mới về tăng gia.

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ

CHÍ MINH – NXBCTQG)

HL

Một bữa ăn tối của Bác 18/11/2009 GMT+7 Tháng 4 năm 1946, giữa lúc ñất nước ñang bề bộn công việc, thì Bác vẫn dành những thì giờ quý báu về Ninh Bình dàn xếp những vấn ñề ñối nội, ñối ngoại có lợi cho quốc gia. Vào khoảng ngày 10 ñến 12, Bác ñi qua thị xã Ninh Bình ñể xuống Phát Diệm. Lúc ñó tôi là quyền Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh. Một dịp may hiếm có ñược ñón Bác về tỉnh, nghĩ vậy, tôi mời ñồng chí Uỷ viên thư ký kiêm Phó Chủ tịch và Chánh Văn phòng ñến hội ý. Hai ñồng chí cũng cùng chung một ý nghĩ như tôi.

Tôi phân công ñồng chí Phó Chủ tịch huy ñộng nhân dân ra tập trung ñón Bác, ñồng chí Chánh Văn phòng chuẩn bị cơm mời Bác, còn tôi phụ trách việc dọn dẹp văn phòng, chuẩn bị chỗ nghỉ và chỗ ngủ cho Bác qua ñêm.

Quả như tôi dự ñoán, sáu giờ chiều thì xe Bác về ñến phía nam thị xã Ninh Bình. Nhân dân ñã vẫy cờ, hô khẩu hiệu rồi ùa xuống lòng ñường ñón Bác. Bác ra khỏi xe vẫy chào nhân dân. Nhân lúc ñó chúng tôi mời Bác vào trụ sở Uỷ ban hành chính tỉnh.

Trước sự nhiệt tình của nhân dân thị xã, không nỡ từ chối, Bác ñã vào gặp Uỷ ban hành chính tỉnh Ninh Bình.

ðến cổng cơ quan, Bác bảo ñồng chí lái xe dừng lại rồi xuống ñi bộ. Vừa ñi Bác vừa hỏi tình hình ñời sống của nhân dân, ñặc biệt ñồng bào ở vùng công giáo. Chúng tôi báo cáo với Bác về những khó khăn trong tỉnh, một số nơi nông dân còn bị ñói.

Bác căn dặn chúng tôi phải chú ý ñoàn kết lương giáo, ñộng viên bà con tích cực tăng gia sản xuất ñể chống ñói, chú ý công tác diệt giặc dốt, mở nhiều lớp bình dân học vụ vào buổi trưa, buổi tối, vận ñộng bà con ñi học.

Chúng tôi mời Bác nghỉ lại cơ quan cho ñỡ mệt rồi dùng bữa tối. Thực ra bữa cơm chúng tôi chuẩn bị cho Bác không có gì ngoài một con gà giò luộc, nước dấm nấu bí ñao, vì lúc ñó kinh phí của Uỷ ban hành chính tỉnh cũng hết sức khó khăn.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Bác Hồ nói chuyện với nông dân và xã viên HTX.

Bác nói:

- Hàng ngàn ñồng bào ñang chờ Bác ngoài kia, Bác không thể nghỉ ở ñây ñể ăn cơm ñược vì 9 giờ tối Bác ñã có việc ở Chủ tịch phủ. Bây giờ các chú giúp Bác: một chú ra tập hợp ñồng bào vào một ngã tư rộng gần ñây ñể Bác ra nói chuyện với ñồng bào mươi phút, một chú ra cửa hàng bánh mua cho Bác một cặp bánh giò. Còn các chú ñi với Bác thì tranh thủ ăn cơm trước. Nói chuyện xong, Bác ngược Hà Nội ngay cho kịp hẹn. Trong xe Bác sẽ ăn bánh vừa ñỡ tốn kém, vừa tiết kiệm ñược thời gian cho Bác.

Chúng tôi vâng lời Bác làm theo.

Nói chuyện với ñồng bào Ninh Bình hôm ñó, Bác nhấn mạnh:

- ðồng bào chú ý ñoàn kết lương giáo vì âm mưu của kẻ thù luôn tìm cách chia rẽ ñồng bào lương giáo.

- ðồng bào tích cực tăng gia sản xuất chống giặc ñói, chống giặc dốt.

- ðồng bào chuẩn bị tinh thần chịu ñựng gian khổ ñể chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc.

Kết thúc, Bác hỏi:

- ðồng bào có ñồng ý thực hiện ba ñiều tôi nêu ra không?

- ðồng ý! ðồng ý! Hồ Chủ tịch muôn năm.

Hàng ngàn nắm tay gân guốc giơ lên hưởng ứng. Tiếng hô và tiếng vỗ tay râm ran. Bác vẫy tay chào ñồng bào rồi lên xe về Hà Nội. Xe ñi ñược một quãng Bác mới bắt ñầu dùng “bữa ăn tối” của mình.

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bát chè sẻ ñôi 12/11/2009 GMT+7 ðồng chí liên lạc ñi công văn 10 giờ ñêm mới ñến. Bác gọi mang ra một bát, một thìa con.

Rồi Bác ñem bát chè ñậu ñen, ñường phèn, mà anh em phục vụ vừa mang lên, sẻ một nửa cho ñồng chí liên lạc.

- Cháu ăn ñi.

Thấy ñồng chí liên lạc ngần ngại, lại có tiếng ñằng hắng bên ngoài, Bác giục:

- Ăn ñi, Bác cùng ăn...

Bác Hồ và cán bộ

Cám ơn Bác, ñồng chí liên lạc ra về. Ra khỏi nhà sàn, xuống sân, ñồng chí cấp dưỡng bấm vào vai anh lính thông tin:

- Cậu chán quá. Cả ngày Bác có bát chè ñể bồi dưỡng làm ñêm mà cậu lại ăn mất một nửa. - Khổ quá, anh ơi! Em có sung sướng gì ñâu. Thương Bác, em vừa ăn vừa rớt nước mắt, nhưng không ăn lại sợ Bác không vui, mà ăn thì biết cái chắc là các anh mắng mỏ rồi...

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

Việc chi tiêu của Bác Hồ 10/11/2009 GMT+7 Các ñồng chí ở gần Bác ñều cho biết Bác rất tiết kiệm. Có ñôi tất rách ñã vá ñi, vá lại mấy lần Bác cũng không dùng tất mới. Bác nói:

- Cái gì còn dùng ñược nên dùng. Bỏ ñi không nên...

Khi tất rách chưa kịp vá, anh em ñưa ñôi mới ñể Bác dùng, Bác xoay chỗ rách vào bên trong rồi cười xí xóa:

- ðấy, có trông thấy rách nữa ñâu...

Có quả chuối hơi nẫu, anh cán bộ chê không ăn, Bác lấy dao gọt phần nẫu ñi, bóc ăn ngon lành, rồi nói:

- Ở chiến khu có ñược quả chuối này cũng ñã quý...

Câu nói và việc làm của Bác làm ñồng chí cán bộ hối hận mãi.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Hằng ngày Bác tự tay cho cá ăn. Có lẽ ñó là sự “xa xỉ” duy nhất mà Bác Hồ cho phép bản thân ñược hưởng trong Phủ Chủ tịch.

Dù cho ñã làm ñến Chủ tịch nước, suốt trong những năm ở Việt Bắc, ở Hà Nội, Bác chưa bao giờ “có tiền” (như anh em cán bộ, chiến sĩ, công tác quanh Bác thường nhận xét).

Thực tế lịch sử cho thấy rằng: suốt thời gian hoạt ñộng của Bác ở nước ngoài, Bác gặp rất nhiều khó khăn về tài chính do những nguyên nhân khác nhau. ðược ñồng nào, chủ yếu do lao ñộng tự thân mà có, Bác dành cho công tác cách mạng. Bác chi tiêu rất dè sẻn, cân nhắc từng xu. Liên hoan mừng thành lập ðảng cũng chỉ có bát cơm, món xào, tô canh, ñĩa cá. Chiêu ñãi ñồng chí Lý Bội Quần, người Trung Quốc, người ñã mua chiếc máy chữ từ Hải Phòng về tặng Người (năm 1939), Bác cũng chỉ “khao một món canh và 2 ñĩa thức ăn, thêm hai lạng rượu, tổng cộng chưa hết một ñồng bạc”.

Tự thết ñãi mình “khi nghe tin Hồng quân bắt sống 33 vạn quân Hítle ở Xtalingrát năm 1943”, tại nhà tù, trong túi chỉ còn vẻn vẹn một ñồng bạc, Bác ñã “nhờ người lính gác mua giùm cho ít kẹo và dầu chả quẩy”. Sau khi phấn khởi hô mấy khẩu hiệu hoan nghênh thắng lợi của Liên Xô, Bác “ngồi một mình, chén tạc, chén thù rất ñàng hoàng vui vẻ”...

Năm 1957, Bác về thăm Nghệ Tĩnh, khi ăn cơm chung với ñồng chí Nguyễn Sĩ Quế, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Diệm, Bác ñã ñể bớt ra ngoài mâm mấy món ăn, rồi nói: “Ăn hết lấy thêm, không ăn hết ñể người khác ăn, ñừng ñể người ta ăn thừa của mình”.

Có thể dẫn ra nhiều nữa những ví dụ về cách chi tiêu sử dụng tiền bạc, cơ sở vật chất của Bác, rất “mâu thuẫn thống nhất”: chắt chiu, tằn tiện nhưng vẫn rộng rãi, không hoang phí mà cũng không keo kiệt, “ki bo”. Thế giới, loài người tự hào về Bác. Là người Việt Nam, ñồng hương của Bác, chúng ta càng tự hào biết bao! Cách ứng xử của Bác với tiền tài, với cái ăn, cái mặc, với cơ sở vật chất nói chung ñâu có phải là cao quá mà chúng ta không học tập ñược, ñâu có phải là một tòa thánh cấm uy nghiêm mà chúng ta không ñặt chân lên ñược thềm bậc, dù là bậc thềm thứ nhất?

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

– NXBCTQG)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bác Hồ với tiếng Anh 29/06/2009 GMT+7 Qua tiếng Pháp, Bác học thêm tiếng Anh.

- Tại sao ñi Anh?

Bác nói là ñể ñi học tiếng Anh.

Bác sang Anh có nhiều mục ñích, nhưng chắc chắn cũng là ñể học thêm một thứ tiếng nước ngoài ở ngay trên ñất nước nói tiếng ñó. Bác muốn học ñược nhanh hơn, thuận lợi hơn nên sang Anh ñể có một môi trường tiếng Anh tốt hơn là ở trên ñất Pháo. Tất nhiên, vẫn phải vừa làm vừa học. Ngày nay, ñường phố Hây-ma-kít lớn rộng giữa thủ ñô Luân ðôn còn ghi dấu vết tiệm ăn khách sạn Các-lơ-tơn (Carlton Hotel), nơi khoảng năm 1914 Bác ñã làm phụ bếp ở ñấy, khách sạn lớn nhất nước Anh hồi bấy giờ có ông vua bếp nổi tiếng là Ét-cốp-phi-e ñược huân chương vinh dự. Cũng làm ở tiệm này có ông Nam, người ñồng hương với Bác.

- Ai ñưa anh ñến ñây, ñến nước Anh?

- Tôi ñến ñây một mình ñể học tiếng Anh.

- Hay ñấy, nhưng tiếng Anh rất khó học. ðã hai mươi năm tôi ở thành phố này mà không biết hơn ngoài hai chữ Yes và No (vâng và không).

- Phải học chứ. Chúng ta sẽ cùng nhau học.

Trước khi ñến khách sạn này, Bác ñã ñi làm công việc ñốt lò. “Ở ñây thật ñáng sợ” vì luôn luôn ở trong cảnh “tranh tối, tranh sáng”, vì “trong hầm hết sức nóng, ngoài trời hết sức rét”. Không ñủ quần áo nên Bác bị cảm, phải nghỉ việc luôn hai tuần. Khi Bác trả tiền thuê phòng, tiền bơ, bánh mì và tiền “sáu bài học chữ Anh” rồi, trong túi chỉ còn vẻn vẹn có sáu hào rưỡi! Bác ñã phải “thắt lưng buộc bụng” ñể học tiếng Anh trong một hoàn cảnh khó khăn như thế ñấy!

Thường ngày, Bác phải làm từ 8 ñến 12 giờ, chiều từ 5 ñến 10 giờ. Phương tiện học là vài quyển sách và một cây bút chì. Sớm chiều, Bác ñến ngồi vườn hoa Hay-ñơ, nơi có nhiều cây to, cột ñèn cổ xưa ñể học. Vườn hoa Hay-ñơ (Hyde Park) là nơi mít tinh thị uy của nhân dân lao ñộng ở Luân ðôn. Thật là một cuộc “gặp gỡ” kỳ thú! Trước kia, Lênin và Cơ-rúp-skai-a cũng ñã học tiếng Anh ở vườn hoa này! Có lần, khi ñến thăm một lớp học, Bác nói rằng học tiếng nước ngoài phải kiên nhẫn, vượt khó, có lúc Bác phải ra vườn hoa Hay-ñơ học vì “ở ñấy lạnh không buồn ngủ”.

Quả là như vậy, một ngày làm ñến 9,10 tiếng vất vả, ăn mặc thiếu thốn, tiếng Anh học ñã khó lại thêm phương tiện, ñiều kiện chẳng có gì. Bác phải tự học, không thầy, không bạn, không trường, không lớp. Do ñó, Bác phải tìm một chỗ học thuận lợi hơn, giúp thêm cho nghị lực quyết tâm và ñiều kiện học của mình. ðó là ñiều bình thường thôi. Dĩ nhiên, “hàng tuần, vào ngày nghỉ”, Bác vẫn ñi học tiếng Anh với một giáo sư người Ý.

Ở Anh không lâu, thời gian học cũng ngắn, thế nhưng trình ñộ tiếng Anh của Bác chẳng thua kém gì mấy so với tiếng Hán và tiếng Pháp là những thứ tiếng thành thạo của Bác, Bác học tiếng Anh chủ yếu trong thời gian này. Trong tờ báo “Phong trào”, số tháng 10 năm 1969, Rơ-nê ði-pét có viết rằng: Trên ñường ñi tìm hiểu thế giới, ở mỗi nơi tàu dừng lại, “ñối với anh Ba, ñều là một trường ñại học”, ở ñó anh ñã trực tiếp thu lượm ñược những hiểu biết về sự tàn bạo của bọn tư bản. Tuy vậy, Bác cảm thấy cần phải mở rộng kiến thức của mình bằng sách vở.

Ở Luân ðôn, Bác ñã làm nhiều nghề khác nhau ñể có tiền ăn học. Trong thời gian chiến tranh, Bác ñã ñể thì giờ ñể nghiên cứu lịch sử thế giới, học tiếng Anh và suy nghĩ về tương lai của các dân tộc thuộc ñịa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà lãnh ñạo Võ Nguyên Giáp (ñứng thứ ba và thứ năm từ trái qua) chụp ảnh với những

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- người bạn Mỹ. Chỉ huy ñội Hươu của OSS là Allison Thomas

(ñứng thứ tư từ trái qua) - Ảnh tư liệu.

Qua nhiều tư liệu, ta thấy Bác nói giỏi tiếng Anh, thông thạo văn hóa và lịch sử Anh, Mỹ - nhất là Mỹ. Bác ñã dịch nhiều ñoạn, nhiều câu rút trong báo chí Anh, Mỹ và các nước khác ñể ñưa vào tiểu phẩm của mình. Tài liệu nói về Mỹ của Bác ñã lên ñến hàng mấy trăm bài với các thể loại khác nhau, ñề cập toàn diện và sâu sắc ñến nước Mỹ (Bác ký nhiều tên khác nhau).

Qua thăm nhiều thành phố ở Mỹ như Oa-sinh-tơn, Niu Oóc, Bô-stơn… xem nhiều sách báo về Mỹ, những việc ñó ñã phần nào giúp Bác hiểu tường tận hơn ñể những dự ñoán khoa học, kết luận cách mạng thiên tài hơn. Qua nghiên cứu, ta thấy Bác là nhà lý luận về chủ nghĩa thực dân nói chung cũng như về chủ nghĩa thực dân (kiểu mới) nói riêng. Chính tiếng Anh (của Bác) ñã giúp nhiều cho Bác trong hoạt ñộng ñó. Bác ñã ñọc biết bao nhiêu là sách tiếng Anh, nào là Uy-li-am Sếch-xpia (1564 – 1616), nhà viết kịch thời Phục hưng, nào là Sác-lơ ðích- ken (1812 – 1870), nhà văn hiện thực phê phán vĩ ñại, nào là Ha-ri-ét-bít-chơ Stao (1811 – 1896)… cho ñến ñủ loại báo chí tiếng Anh như báo “Bang Oóc-lê-ăng mới”, báo tin tức hàng ngày ở Giắc-xơn… Bản thân Bác cũng là một nhà báo ñã từng viết bài bằng chữ Anh. Khi cùng làm việc với Bô-rô-ñin, cố vấn Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ cách mạng Quảng Châu, Bác giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng trong ñó có việc phiên dịch từ tiếng Hán sang tiếng Anh và ngược lại, Bác ñã viết bài và phụ trách mục tuyên truyền cho tờ Quảng ðông ra hằng ngày, báo bằng chữ Anh của Trung ương Quốc dân ñảng. ðó là những ngày cuối năm 1942 và ñầu năm 1925. Trong thời gian ở Hương Cảng, Bác ñã làm cho hãng Thông tấn Rớt-sta (Rulcta) của Anh và ñã dành dụm tiền lương ñể nuôi anh em, ñồng chí Việt Nam hoạt ñộng ở ñấy.

Bài viết chữ Anh của Bác thì nhiều lắm. Hiện nay, Ban nghiên cứu Lịch sử ðảng của ta còn giữ ñược Bản báo cáo của Bác gửi Quốc tế Cộng sản bằng chữ Anh (tháng 2 năm 1924); Bức thư Bác gửi Quốc tế Cộng sản (tháng 12/1924), bản “ðề nghị” (Proposition) và “Lời kêu gọi” (Appeal) bằng chữ Anh. ðó là những văn kiện lịch sử quan trọng.

Dưới sự chủ tọa của Bác, ñại diện cho Quốc tế Cộng sản, Hội nghị thành lập ðảng họp vào ngày 3/2/1930 ñã thông qua các văn kiện của ðảng, trong ñó có “Lời kêu gọi” này của Bác. Hiện nay ta vẫn chưa sưu tầm ñược bản gốc bằng tiếng Việt của văn kiện, do ñó bản tiếng Anh của Quốc tế Cộng sản (cũng vào dịp ñó) có một ý nghĩa quan trọng ñối với công việc nghiên cứu lịch sử ðảng ta.

Tiếng Anh còn ñược Bác dùng nhiều trong việc giao thiệp, tiếp xúc, họp báo. Qua cuốn sách của Trần Dân Tiên, ta ñược biết thêm một chuyện lý thú: “Cuối năm 1944, một chiếc máy bay Mỹ lượn trên Cao Bằng và bị hỏng máy. Phi công trẻ truổi – trung úy (Shaw) nhảy dù xuống một hòn núi gần tỉnh lỵ. Sao ñược Việt Minh cứu thoát.

Trước việc này, Việt Minh ñã chỉ thị cho các hội viên trong toàn quốc phải cố gắng giúp ñỡ ñồng minh. Những người Việt Minh Nam Bộ ñã liên lạc bí mật với nhiều lính Mỹ, Anh bị giam ở Sài Gòn, nhưng vì không hiểu tiếng của nhau nên họ không thể thảo luận và làm những việc có ích hơn (…) Sao rất vui sướng khi ñược gặp Cụ Hồ gần biên giới. Từ một tháng nay nhịn nói, Sao bây giờ có thể tha hồ nói. Sao thỉnh cầu cụ Hồ ñi với mình ñến Bộ Tổng tư lệnh Không quân ở Côn Minh. Cụ Hồ vui vẻ nhận lời… Hai người chia tay sau năm ngày ñi với nhau trên ñất Trung Quốc (Tất nhiên là Sao ñã ñược năm ngày tha hồ nói!). Bác ñến Côn Minh (Vân Nam), người Mỹ gặp Bác ñể cám ơn. Sau ñó Bác ñi Quảng Tây và gặp tướng Sen-nô (Chennault), Tổng tư lệnh Không quân Mỹ ở Trung Quốc. Qua nhiều ngày nói chuyện với tướng Sen-nô, với ðại tá Hê-li-oen (Heliwell), với Trung úy Sao,… Bác nắm ñược nhiều tình hình. Theo Giu-lơ A-sơ trong cuốn Hồ Chí Minh – chuyện thần kỳ của Hà Nội, thì hồi ấy, “trong khi chờ ñợi, Cụ ñã ñồng ý dịch viết và dịch nói cho “Bộ Thông tin chiến tranh của Mỹ” những tài liệu quan trọng lấy ñược của ñịch (tức phát xít Nhật).

Qua tiếp xúc với nhiều hoạt ñộng trên, Bác nắm ñược rất nhiều tin tức, Bác rất chủ ñộng. Chúng phải tin, phục và kính nể Bác. Việc giúp Sao, việc ñi thương lượng với phái bộ ñồng minh (Mỹ) ở Trung Quốc, việc nhận giúp ñỡ các nạn nhân của ñồng minh thoát khỏi nanh vuốt phát xít Nhật… là ñể thực hiện một sách lược phong phú và linh hoạt hết sức có lợi cho ñấu tranh cách mạng. Hồi ấy, Bác thường ñến cơ quan ñồng minh Mỹ trong một khu rừng ở Việt Bắc, nhờ thạo tiếng Anh nên nghệ thuật “tác chiến” ñối ngoại của Bác càng thêm tài tình. Theo R. Sáp-lên, trong ðiều bí ẩn về Cụ Hồ Chí Minh (Enigma of Hồ Chí Minh) thì tháng 5 năm 1954, một trung úy Mỹ tên là Giôn nhảy dù xuống Việt Bắc với mục ñích nhằm xây dựng một cơ sở giúp các cá nhân của ñồng minh thoát khỏi vùng do phát xít Nhật chiếm ñóng. Giôn ñã sống và làm việc với Bác trong vài tháng. Ngay lúc ñó, Bác ñã chuẩn bị cho bản “Tuyên ngôn ñộc lập” vẻ vang của chúng ta sau này. Bác hỏi Giôn có thể nhớ một ñoạn văn của bản “Tuyên ngôn ñộc lập” của Mỹ không? Anh ta trả lời rằng “Tôi là một người Mỹ bình thường, tôi không thể nhớ ñược. Tôi có thể gọi ñến Côn Minh và sẽ có một bản thả xuống cho tôi”. Sau này Giôn rất khâm phục Bác: “Cụ dường như thực sự biết (về bản Tuyên ngôn ñộc lập Mỹ) hơn tôi. Thực tế là, Cụ ñã biết hơn tôi về hầu hết mọi thứ”. Mãi sau này, Giôn vẫn còn giữ hai lá thư bằng chữ Anh mà Bác ñã gửi cho anh ta ở trong rừng ngay sau khi Nhật ñầu hàng ñồng minh. Trong thư ấy, Bác ñã dùng cả những khẩu ngữ, ví dụ Bác dùng chữ Japs (mang nghĩa xấu, có nghĩa là bọn Nhật – phát xít).

Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm với một ñoàn khách nước ngoài

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Có lần, một vị Tổng thống của một nước bạn ñến thăm. Ta ñón tiếp nồng nhiệt. Khách cao tuổi ñi không vững. Sau khi ôm hôn, Bác dìu khách ñi chậm từng bước dọc theo tấm thảm nhung ñỏ. Giản dị, chân tình và khiêm nhường Bác ñỡ vị khách lên bục. Khách nói tiếng Anh. Dù Bộ Ngoại giao ta ñã bố trí người dịch giỏi, nhưng Bác không câu nệ thủ tục ngoại giao, nhằm tranh thủ chính trị nên ñã dịch sang tiếng Việt cho mọi người nghe. Không khí gần lại. Giới ngoại giao ngạc nhiên và xôn xao. Việc làm ấy, bình thường, không phải công việc của một Chủ tịch nước, nhưng ñã có một sức cảm hóa lớn. Người ta thấy ngay vẻ ngạc nhiên, kính cẩn của các vị khách ñối với “người phiên dịch” hiếu khách, quý bạn vĩ ñại này. Ngày lên ñường, trong diễn văn từ biệt, vị khách nhiều hơn Bác ñến sáu tuổi và là người ñứng ñầu của một nước lớn này, ñã kính trọng gọi Bác là “người anh cả”.

Bác nghe tiếng Anh cũng thạo. Trước cách mạng, hồi còn ở Trung Quốc, Bác ñã phải nghe máy thu thanh ñể theo dõi tin tức quốc tế nhằm phục vụ cho công tác cách mạng. Bác kể lại rằng: Việc nghe ra-ñi-ô cũng không dễ, vì lần này là lần ñầu tiên mó tay ñến cái máy thu thanh, không biết ñài nào phát, phát giờ nào và làn sóng nào. Bác thức suốt năm ñêm, vặn ñi vặn lại tìm nghe. ðến khuya ñêm thứ sáu mới nghe ñược ñài Luân ðôn.

Qua một số mẫu chuyện trên, ta thấy Bác giỏi tiếng Anh về nhiều mặt, cũng vì vậy nên không ai lấy làm ngạc nhiên khi trong thiên hồi ký của mình, ñồng chí ðại tướng Võ Nguyên Giáp có nhắc ñến chuyện hồi còn hoạt ñộng bí mật ở Trung Quốc, nhiều ñồng chí Trung Quốc ở Quế Dương cứ mong ñồng chí Hồ Quang (một bí danh của Bác) ñến công tác ñể dạy họ “nói tiếng Nga và tiếng Anh”.

ðồng chí Hoàng Xuân Sính (giáo sư, tiến sĩ toán học) cũng nhớ lại một kỷ niệm xa xưa khi mình còn niên thiếu (khoảng 1945 – 1946).

Bác ñến thăm trường nữ trung học ở Hà Nội. Sính ñang học bài tiếng Anh thì Bác vào, theo sau là cô Hiệu trưởng. Cả lớp bật dậy vỗ tay nồng nhiệt. Bác ra hiệu cho tất cả ngồi xuống và Sính ñược tiếp tục ñọc bài tập ghép vần. Giọng Sính không ñược bình thường vì cô bé xúc ñộng trong niềm vui sướng bất ngờ. Vì thế, Sính phát âm sai khá nhiều. Bác ñến gần Sính và ôn tồn ñọc lại cho nghe những câu trong bài. Sính chăm chú ñọc theo Bác, nhưng cảm ñộng nên vẫn ñọc sai. Bác kiên trì chữa lại cho từng câu. Hơi nghiêng người về phía Sính, hai tay ñưa lên cổ vũ khích lệ, Bác nói dịu dàng: “Cháu ñọc thế này mới ñúng”.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Bác Hồ với tiếng Nga 22/07/2009 GMT+7 "Ông Nguyễn ñược dẫn ñến khách sạn Quốc tế (…), ông Nguyễn rất bằng lòng ñược ở một căn phòng rộng rãi, ăn uống ñầy ñủ, sách báo không thiếu”.

Ông Nguyễn bắt ñầu học tiếng Nga.

Hai ngày sau, một người Pháp trẻ tuổi, Pôn, ñến tìm ông Nguyễn. ðây là một người bạn thân của ông Nguyễn (…).

- Anh ñấy ư? - Pôn hỏi.

- Vâng, tôi ñây – ông Nguyễn trả lời.

- Anh làm thế nào mà ñến ñây ñược?

- Như thường lệ thôi, bằng cách bí mật.

- Anh ñến ñây vào lúc ñang buồn. Lênin vĩ ñại vừa mới mất (…). Anh thấy xứ này thế nào?

- Tôi thấy rất rét. Ngoài ra không biết chuyện gì khác, vì tôi ñã hứa với người cán bộ là không ra khỏi khách sạn.

- A! ðúng thế, ở ñây rất nghiêm ngặt, vì có nhiều do thám ngoại quốc tìm cách lọt vào nước này.

- Còn anh Pôn, anh làm gì ở ñây?

- Suýt nữa tôi quên nói cho anh biết nhiệm vụ của tôi. Chính bác Ca-sanh ñã bảo tôi ñến ñây xem có ñúng anh không, và ñưa anh ñến Mạc Tư Khoa.

- Thế thì chúng ta ñi ngay, Tôi không muốn mất nhiều thì giờ ở khách sạn này, mặc dầu thịt rán và thuốc lá rất ngon.

- Gavaris po ruski? (Anh biết nói tiếng Nga rồi sao?)

- ða! (vâng)”.

(Ảnh tư liệu).

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Qua một số câu ñối thoại trên ñây, ta thấy Bác bắt ñầu học tiếng Nga lúc mới ñặt chân lên ñất nước Liên Xô, ñất nước của Lênin vĩ ñại. Trải qua bao nhiêu nguy hiểm, gian lao, ñến khách sạn sang trọng này bình thường ra mà nói, người ta phải nghỉ ngơi một thời gian, thế nhưng Bác ñã tranh thủ học tiếng Nga ngay. Và chỉ trong một thời gian ngắn, Bác ñã nghe và nói ñược một số câu thường dùng trong ñời sống hàng ngày. ðó là một ñiều làm anh bạn thân của Bác phải ngạc nhiên. Cũng với tinh thần ham học hỏi ñó, mà trước sau trong khoảng 5 năm ở Liên Xô, Bác ñã có thể nắm ñược khá thành thạo thứ tiếng thuộc dòng Sla-vơ này, thứ tiếng mà có lần Bác nói là “khó ñọc lắm!”. Ta hiểu rằng tiếng Nga là một thứ tiếng khác xa với tiếng Việt, Hán và cả tiếng Anh, Pháp nữa. Nói chung chẳng có gì gần gũi với tiếng Việt. Có người ñã nói vui rằng: học xong sáu cách* thì

có một cách thứ bảy nữa là “cách chuồn!” ñể chỉ những ai ñó học tiếng Nga không bền bỉ, thiếu quyết tâm. Nếu cố gắng thì mọi khó khăn ñều có thể vượt qua ñược.

Anh hùng lao ñộng ðỗ Chanh, người vinh dự ñược gặp Bác ñã kể lại rằng:

Cuối tháng 4 năm 1956, khi kết thúc khóa học, anh chị em lớp cán bộ công nghiệp sắp ñi thực tập ở nước ngoài vào thăm Bác. Bác hỏi lớp bao nhiêu người, có khỏe không, vui không…

- Các cô, các chú ñi Liên Xô thì có ñược học tiếng Nga không?

- Có ạ.

- Học mấy tháng?

- Thưa Bác, bốn tháng ạ.

- Học có tốt không?

Tất cả ngập ngừng, không ai dám trả lời. Bác chỉ mỉm cười, chỉ một ñồng chí ngồi gần:

- Chú nói xem nào: “ăn”.

Chả biết lúng túng thế nào, ñồng chí ñó phát âm sai, tiếng “ăn” gần giống như tiếng “tắm”. Tất cả cười. Bác cũng cười vui.

Bác có kinh nghiệm về học và dùng tiếng nước ngoài. ðó là một ñiều chắc chắn, riêng tiếng Nga chẳng hạn, Bác ñều luôn lưu ý học và dùng tiếng Nga trong nhiều lĩnh vực hoạt ñộng. Thời kỳ ở Liên Xô (từ năm 1933 ñến 1938) là thời kỳ Bác có ñiều kiện trau dồi tiếng Nga hơn cả. Bác vào học trường bổ túc các lãnh tụ do Quốc tế Cộng sản mở. Bác lấy tên là Li-nốp, giống với tên gọi Nga. Khi viết bài bằng tiếng Pháp ñể gửi về nước, Bác lại lấy tên là Lin cho hợp với tên gọi Pháp. Bác cũng làm việc ở Viện Nghiên cứu lịch sử phương ðông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.

Theo ñồng chí Nguyễn Khánh Toàn thì “Bác vào trường Lênin là trường ðảng cao cấp cho các lãnh tụ các nước ngoài”, rồi sau chuyển hẳn sang Viện Nghiên cứu các vấn ñề dân tộc và thuộc ñịa, Bác cũng ñồng thời “nhận phiên dịch ra tiếng Việt tài liệu”.

Bác ñã từng viết rất nhiều bài cho một số báo chí Liên Xô như “ðời sống công nhân Ba-kin-xki”, “Tiếng còi”, “Tạp chí ðỏ”, “Thời mới”, “Sự thật”… Bác cũng từng ñi nhiều nơi trên ñất nước rộng lớn nhất thế giới này, từng tiếp xúc với nhiều người, nhiều tầng lớp. Vì thế, Bác nói và nghe ñược tiếng Nga.

Theo nhà báo Thép Mới, người ñược ñi cùng với Bác sang thăm Liên Xô năm 1955, thì một ñồng chí ở Mạc Tư Khoa cho rằng: Từ trước ñến nay, những người nổi tiếng trên thế giới ñến Liên Xô mà nói ñược tiếng Nga có ñồng chí Mô-rít Tô-rê (Tổng Bí thư ðảng Cộng sản Pháp), nhà nghệ sĩ da ñen người Mỹ Pôn Rốp-sơn và nay có ñồng chí Hồ Chí Minh nữa là ba”.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Bác Hồ thăm khu công nghiệp dầu khí Bacu (Liên Xô - 23/7/1959). Ảnh tư liệu.

Bác ñã sang thăm Liên Xô nhiều lần, ñi nhiều nơi, ñến ñâu cũng nói một ít tiếng Nga. Riêng trường “Ngoại ngữ Hồ Chí Minh” ở Iec-kút, Bác ñã ñến thăm mấy lần. ðây là một học viện dạy tiếng nước ngoài của Liên Xô mang tên Bác vào cuối năm 1969 và là trường kết nghĩa với Trường ñại học Ngoại ngữ Hà Nội. Nhà trường còn giữ lại nhiều kỷ niệm ñẹp ñẽ về Bác. Các ñồng chí Liên Xô vẫn còn nhắc lại với lòng xúc ñộng về những buổi gặp gỡ Bác xưa kia. Chính tiếng nước ngoài mà Bác ñã dùng làm tăng bầu không khí ấm cúng trong tình ñoàn kết quốc tế ñó.

R. Các-men, nhà ñiện ảnh Liên Xô, người làm bộ phim “Việt Nam trên ñường thắng lợi”, ñã ñược gặp Bác trong một căn nhà nhỏ ở Việt Bắc. Bác nói chuyện với Các-men bằng tiếng Nga:

- Cụ học tiếng Nga như vậy có khó khăn không?

- Người cách mạng phải biết tiếng nói của Lênin!

M. Giu-láp-xki, nhà văn và là nhà báo Ba Lan sang thăm Việt Nam, ñược gặp Bác nhiều lần. Lần gặp thứ hai của ông là một ngày thu năm 1954. Giu-láp-xki bước vào một căn nhà lợp rạ, tường quét vôi trắng. Ông chưa kịp uống nước thì Bác bước vào và chào bằng tiếng Nga. Buổi nói chuyện thân mật bắt ñầu. Bác ra hiệu cho ñồng chí phiên dịch không phải dịch nữa, rồi ngồi nghe ñồng chí phóng viên báo “Sự thật” (Liên Xô) nói chuyện. ðôi khi Bác trả lời lại bằng tiếng Nga. Thỉnh thoảng Bác còn nói chuyện bằng tiếng Ý với phóng viên tạp chí “ðoàn kết” (Unita), cơ quan Trung ương của ðảng Cộng sản Mỹ. Tất cả những người nước ngoài có mặt hôm ấy ñều tỏ vẻ ngạc nhiên, khâm phục. Dường như ñoán ñược ñiều ñó, Bác mỉm cười nói bằng tiếng Pháp:

- Các nhà báo nước ngoài thường hay kể những chuyện phóng ñại về tôi. Nhưng cũng có những chuyện ñúng. Khi còn trẻ, quả thật tôi có làm bếp trên tàu, có ñến Mỹ, Anh, ðức. Tôi cũng ñã từng sống ở Pa-ri và bắt ñầu hoạt ñộng cách mạng cùng các ñồng chí Pháp. Nhiều lần tôi qua Liên Xô, Trung Quốc. Ở ñâu tôi cũng ñược công nhân dạy cho tiếng của nước họ. Tôi sống cùng với công nhân ở Ý rồi cả ở châu Mỹ nữa…

ðới Hoàng, một nhà văn Trung Quốc, tác giả quyển hồi ký “Ghi lại những ấn tượng về Chủ tịch Hồ Chí Minh” cũng nói lên những cảm tưởng tương tự. Nhưng thời gian xảy ra trước buổi gặp mặt trên ít tháng và không gian là một ñịa ñiểm kín ñáo trong rừng sâu Việt Bắc. ðó là một bữa tiệc liên hoan mừng chiến thắng lịch sử ðiện Biên Phủ. ðới Hoàng có nhiều ấn tượng ñẹp ñẽ về Bác, trong ñó việc sử dụng tiếng nước ngoài của Bác là một “ấn tượng” sâu sắc, Bác ñã dùng tiếng Nga, tiếng Pháp thăm hỏi tình hình sinh hoạt của các bạn bè quốc tế, hỏi về việc ăn uống, nhà ở, khí hậu ở rừng xứ nóng, ñường sá khô ướt ra sao… Lúc nói với ðới Hoàng, Bác lại dùng tiếng Hán.

Bữa tiệc diễn ra trong bầu không khí tưng bừng náo nhiệt. Ai cũng muốn vui chung, muốn nói lên những cảm nghĩ ñang rạo rực trong lòng mình, nhưng rồi ñành chịu ngồi yên vì vướng phải “hàng rào ngôn ngữ”. Dường như ñoán ñược ñiều ñó, Bác nói: “Nào các ñồng chí có gì cứ nói hết ñi, tôi làm phiên dịch cho các ñồng chí”. Bác nhắc nhở mọi người ăn, giục “cạn chén”, “không ñược làm khách”. Câu nào cũng nói bằng ñủ các thứ tiếng Nga, Hán, Pháp…

Trong thiên hồi ký của mình, ðới Hoàng cũng khâm phục nhắc ñến việc Bác thường trực tiếp ñọc và dịch những tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin, và ñã dịch cuốn tiểu thuyết “Tỉnh ủy bí mật” của Liên Xô (tiếng Nga) sang tiếng Việt.

Lại nữa, có lần ñoàn chuyên gia các nước anh em vào chúc Tết Bác. Vì trường hợp ñặc biệt nên lần này không có phiên dịch. Thấy mọi người có vẻ lúng túng, Bác mĩm cười bảo: “Thôi ñược, Bác sẽ dịch cho!”. Thủ tướng Phạm Văn ðồng nói ñến ñâu, Bác dịch ñến ñấy bằng các tiếng Nga, Hán, Anh, Pháp. Các ñồng chí chuyên gia nhìn Bác với một vẻ khâm phục, trìu mến. Không khí càng thêm chan hòa, thắm tình hữu nghị anh em. Sau buổi tiếp khách, Bác bảo: Dịch không phải dễ ñâu, tiếng nói là phải chính xác. Bác kể có một ñồng chí phiên dịch ñã dịch câu “Chúc Hồ Chủ Tịch bách niên giai lão!” (Câu dùng ñể chúc cô dâu chú rễ trong các ñám cưới). Tất cả mọi người có mặt ñều phá lên cười vui vẻ, ñồng thời ai nấy ñều hết sức thấm thía những lời khuyên của Bác.

Bác thường dùng tiếng Nga ñể tiếp khách, nói chuyện và thường chỉ dùng một số câu, nhưng cũng có khi Bác trò chuyện khá lâu với các ñồng chí Liên Xô. Hai mẩu chuyện sau ñây ñã chứng tỏ ñiều ñó.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Tơ-ra-chi-a-cốp, Thuyền phó thứ nhất tàu Giắc-gin-xki (Liên Xô) phát biểu rằng: ngày 30/5/1957 là một trong những ngày vui mừng của thủy thủ này, vì ñồng chí Hồ Chí Minh ñã tới thăm tàu, ñặc biệt là “trong cuộc nói chuyện thân mật với anh em thủy thủ, ñồng chí Hồ Chí Minh luôn dùng tiếng Nga, mà không cần phiên dịch, chúng tôi rất vui sướng khi thấy Người nói tiếng Nga một cách thông thạo”.

Xéc-gây-ñô-rốp, Trưởng ban thuôc Viện Nghiên cứu toàn Liên bang về nghề ñánh cá biển và bản ñồ ñại dương của Liên Xô ñang công tác ở Việt Nam, ñã ñến gặp và trò chuyện thân mật với Bác vào một ngày gần cuối năm 1959. Trong thiên hồi ký viết mười năm sau, ñồng chí cảm thấy sâu sắc rằng: Dù các buổi gặp gỡ có trôi qua theo năm tháng ñi nữa, nhưng ñồng chí vẫn nhớ rõ những chi tiết nhỏ nhất của bầu không khí vô cùng ấm cúng và thân thiết mà người ñã tạo nên.

Sáng 25/8/1957, Bác ñã trực tiếp nghe ñược “tiếng nói của Lênin” khi tới thăm phòng làm việc của Người ở ðiện Xmôn-ni, Bác rất chăm chú nghe bài diễn văn của Lênin ñược thu vào băng ñĩa nhan ñề: “Chính quyền Xôviết là gì?”. Những câu hỏi, những lời nhận xét của Người chứng tỏ rằng hiểu biết rất rõ, rất sâu sắc ngay cả các vấn ñề nghiên cứu khoa học về biển, ñại dương. “ðồng chí Hồ Chí Minh hỏi chuyện chúng tôi bằng tiếng Nga rất thạo”.

Tiếng nói ñó cũng góp phần làm tăng thêm bầu không khí ñoàn kết hữu nghị giữa các nước anh em. Nhà báo Úc Man-côm Xan-mơn (ñã từng dạy tiếng Anh ở Hà Nội trong 3 năm), khi ñược tin Bác mất ñã nhớ lại quang cảnh tiêu biểu, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, diễn ra hồi 9 năm về trước. Xan-mơn thấy Bác tươi cười từ trong hội trường ñi ra, hai tay quàng vai hai người ñi hai bên, ñó là ñồng chí Trưởng ñoàn ñại biểu Liên Xô sang dự ðại hội lần thứ 3 của ðảng Lao ñộng Việt Nam, và ñồng chí Trưởng ñoàn ñại biểu Trung Quốc. “Chủ tịch Hồ Chí Minh rất hoạt bát. Cụ quay sang bên này nói bằng tiếng Trung Quốc, lại quay sang bên kia nói bằng tiếng Nga. Dáng người mảnh dẻ của Cụ có sức hấp dẫn hai vị khách. Cảnh tượng ñẹp ñẽ ấy diễn ra ngay trong ngày bế mạc ñại hội, lúc các ñại biểu chia tay nhau về.

*Sáu cách biến ñổi ngữ pháp tiếng Nga.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài 22/05/2009 GMT+7 Các Mác, Ăng-ghen, Lênin – những lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản và nhiều nhân dân lao ñộng toàn thế giới ñều là những người giỏi nhiều ngoại ngữ. ðiều ñó ñã giúp các ông rất nhiều trong hoạt ñộng khoa học, hoạt ñộng lý luận và vận ñộng cách mạng.

Sinh thời, Mác biết thành thạo mười ngoại ngữ, “ñã ñọc hầu hết các sách quan trọng của thời ñại mình”, ñọc ñược tài liệu bằng tất cả các thứ tiếng châu Âu, còn tiếng ðức, tiếng Pháp, tiếng Anh ñều viết rất giỏi.

Ăng-ghen biết ñến 21 thứ tiếng trong ñó có cả những tiếng cổ như tiếng Pháp cổ, tiếng Tây Ban Nha cổ.

Các Mác và F.Ăng-ghen - Hai tác giả của Tuyên ngôn ðảng Cộng sản.

Mác và Ăng-ghen khi trên 50 tuổi, do yêu cầu phải nghiên cứu những vấn ñề về nước Nga mà hai ông ñã học thêm tiếng Nga. Chỉ trong thời gian ngắn, hai ông ñã ñọc ñược nhiều tài liệu và tác phẩm văn học từ nguyên gốc Nga.

Còn Lênin thì biết thành thạo, ñọc và dịch ñược tiếng ðức, tiếng Anh, tiếng Pháp, ñọc ñược tiếng Ba Lan và tiếng Ý.

Các ông ñều là những tấm gương lớn về trau dồi ngoại ngữ, công cụ giao tiếp quan trọng nhất của nhân loại.

Bác Hồ của chúng ta cũng là một tấm gương học tập tiếng nước ngoài thành công trong ñiều kiện vô cùng gian khổ và thiếu thốn.

Hoàn cảnh có khác nhau nhưng các ông ñều có chung một mục ñích ñấu tranh cách mạng giải phóng loài người khỏi áp bức, bóc lột; vì một xã hội văn minh, vì tình hữu nghị lâu dài giữa các dân tộc. Các ông ñều giống nhau ở ý chí tự học không bao giờ ngừng.

Dước ñây là những câu chuyện về tấm gương Bác Hồ học tập và sử dụng tiếng nước ngoài.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bác Hồ với tiếng Hán cổ và hiện ñại

Tháng 8/1942, Bác có việc sang Trung Quốc, thì bị bọn Quốc dân ñảng bắt. Sau khi bị chúng trói, giải ñi suốt mười tám nhà tù, từ trại giam này ñến trại giam khác, chúng ñưa Bác về giam ở Liễu Châu. ðấy không phải là một trại giam chính cống, mà chỉ là một “cấm bế thất”, một phòng giam nhỏ hẹp ngay bên cạnh ñội cảnh vệ của tướng Trương Phát Khuê. Chỉ một mình Bác bị nhốt ở ñó. Lâu lâu mới có một vài sĩ quan Quốc dân ñảng bị phạt vào ñó năm bảy ngày. Bác lợi dụng những dịp ñó ñể học tiếng “quan”. Trong thời gian 14 tháng bị giam cầm ở Quảng Tây, Bác ñã viết “Nhật ký trong tù”. Cuốn sổ nhật ký ñó to bằng bàn tay, dày 47 trang. Trên trang ñầu ghi bốn chữ Hán “ngục trung nhật ký”, kèm theo bốn câu thơ và hình vẽ người tù hai cổ tay bị xích. Nhật ký gồm hơn một trăm bài thơ chữ Hán bất hủ. Với Bác, ñó chỉ là một việc làm bằng “tay trái”, là một sản phẩm bất ñắc dĩ vì “trong ngục tối biết làm chi ñây”, nhưng lại là một tác phẩm nổi tiếng trên thế giới. Năm 1960, Nhật ký trong tù chính thức ra mắt bạn ñọc trong và ngoài nước. Mấy chục năm qua, tập thơ ñược in lại nhiều lần ở trong nước, trên thế giới, nó ñược dịch ra nhiều thứ tiếng như tiếng Anh, Pháp, Nga, ðức… Ở Mỹ, ngày 11/8/1971, một nhà xuất bản chuyên ấn hành loại sách phổ cập ñã ñặt in 50 vạn cuốn Nhật ký trong tù. Một tập thơ ñược xuất bản với số lượng lớn như vậy là ñiều chưa từng thấy ở Mỹ. Nhiều chiến sĩ ñấu tranh chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, bị giam trong các nhà tù của Mỹ, cũng ñã thuộc lòng một số bài thơ của Bác. Chẳng phải bây giờ người ta mới thuộc mà trước khi chúng ta xuất bản rộng rãi tập thơ ñó, một số ñồng chí Trung Quốc ñã nhớ nhiều bài trong tập thơ ñó.

Quách Mạc Nhược, nhà học giả nổi tiếng của Trung Quốc nhận xét: “… Có một số thơ rất hay, nếu xếp chúng vào tập thơ ðường, Tống, e rằng cũng không dễ gì nhận ra”. Theo Lỗ Tấn, thơ theo kiểu cổ, ñến nay phần nhiều mất hết sức sống, “tất cả những bài thơ hay ñến ñời ðường ñã làm hết rồi”, thì ñủ thấy trình ñộ Hán học cũng như thi tài của Bác uyên thâm xuất sắc ñến mức nào rồi.

Ngoài “Nhật ký trong tù” ra, Bác còn làm nhiều thơ bằng chữ Hán, Bác xen vào nhiều bạch thoại, có khi sửa lại câu thơ xưa cho hợp với hiện thực ngày nay. ðiều ñó chứng tỏ Bác nhớ nhiều và nhớ lâu văn chương cổ ñiển của Việt Nam, Trung Quốc và vận dụng ñộc ñáo, sáng tạo linh hoạt trong tác phẩm của mình. Và cũng như trong nhật ký, ngòi bút của Bác chẳng bao giờ ngừng nghỉ, dù là viết chữ Hán ñòi hỏi trí nhớ cao. Có thể nói là Bác ñã “xuất khẩu thành thơ”. Mẩu chuyện nhỏ sau ñây ñã chứng tỏ ñiều ñó.

Sau khi kết thúc cuộc ñi thăm mười nước cộng hòa Xô viết, 19 thành phố và thủ ñô trong một tháng trời, sáng ngày 1/8/1959, Bác sang thăm Trung Quốc. Trên máy bay, Bác thanh thản ñọc sách và ngắm cảnh. Khi bay qua biển cát, ñến núi Thiên San, thấy phong cảnh nên thơ, Bác ñã làm ngay một bài tứ tuyệt như sau:

Vọng Thiên San

Dao vọng Thiên San phong cảnh hảo

Tử hà bạch tuyết bão thanh san

Triêu ñương sơ xuất xích như hỏa

Vạn ñạo hồng quang chiếu thế gian

Trông núi Thiên San

Xa xa trông núi Thiên San, phong cảnh ñẹp

Răng tía, tuyết trắng ôm lấy ngọn núi xanh

Mặt trời buổi sáng ló ra ñỏ rực như lửa

Muôn tia ánh hồng soi khắp thế gian.

Bài thơ ñã ñược Bác tạm dịch như sau:

Xa trông cảnh núi ñẹp Thiên San

Ráng ñỏ vây quanh, tuyết trắng ngàn

Sáng dậy mặt trời như lửa tía

Muôn hào quang ñó, chiếu nhân gian.

Bác ñã dịch, biên dịch hoặc biên soạn ñược biết bao nhiêu tư liệu quý báu nhằm phục vụ kịp thời cho cách mạng. Sau hơn ba mươi năm trời xa ñất nước, Bác lại trở về. Trong chiếc va-li mây của Bác (hiện còn ở Viện Bảo tàng cách mạng) chỉ vẻn vẹn có mấy thứ, trong ñó có quyển Lịch sử ðảng Cộng sản (b) Liên Xô bằng tiếng Hán, Bác lược dịch quyển này làm tài liệu huấn luyện cán bộ. Trên chiếc bàn ñá gần suối Lênin, dưới vòm dương xỉ xanh, ngày ngày Bác ngồi cặm cụi dịch quyển này, và từ ñấy “Tức cảnh Pác Pó ra ñời”:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng

Nhật ký trong tù của Bác cũng ñã ñược thể hiện

bằng thư pháp Lỗ Nguyên.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bàn ñá chông chênh dịch sử ðảng,

Cuộc ñời cách mạng thật là sang.

Khi dịch xong, Bác ñã tổ chức “ăn mừng”. Bữa ăn hôm ấy có thịt và rau tươi.

Bác còn lược dịch những ñiểm cơ bản trong tư tưởng chiến lược, chiến thuật quân sự của Tôn Tử, nhà quân sự nổi tiếng 2000 năm trước ñây của Trung Quốc, nhằm bồi dưỡng kiến thức quân sự cho mọi người. Và thế là, quyển “Phép dùng binh của Tôn Tử” (Binh thư Tôn Tử) ra ñời. Quyển này do Việt Minh xuất bản vào tháng 2/1945, nhưng nó ñã ñược dịch từ trước ñó khá lâu.

Bác còn biên soạn quyển “Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh”. Quyển này có ñề ở ngoài bìa: “Hồ Chí Minh biên dịch và bình luận”, nói về tiêu chuẩn ñức tài, tư cách ñạo ñức và phép dùng binh cơ bản của một người tướng. Khổng Minh là nhà quân sự nổi tiếng thời Tam Quốc.

Về nghe và nói, Bác cũng thành thạo, cho nên lắm khi ứng ñối tài tình với kẻ ñịch, khiến chúng bối rối. Tiếng Hán (dù là xưa hay nay) ở trong tay Bác ñã trở thành một công cụ lợi hại, với kẻ thù là một vũ khí sắc bén “quật vào mặt chúng những làn roi cháy bỏng”, như có người nước ngoài ñã nhận xét, nhưng với bạn bè, anh em thì ñó lại là phương tiện mầu nhiệm, là chiếc cầu hữu nghị ñể hiểu nhau hơn, cảm thông với nhau hơn, phục vụ nhiều hơn cho sự nghiệp chung của cách mạng.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH”

– Ban Tuyên giáo Trung ương)

Bác Hồ với tiếng Pháp 28/05/2009 GMT+7 Năm 1923, nhà thơ Xô viết Ô-xíp Man-ñen-xtam gặp Bác. Bác nói với nhà thơ: “Vào trạc mười ba tuổi, lần ñầu tiên tôi ñược nghe những từ tiếng Pháp: Tự do, bình ñẳng, bác ái… Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn náu ñằng sau những từ ấy”, “nhưng trong những trường hợp cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt.

Ngôi nhà số 9, ngõ Con Point, Paris, nơi ở của ñồng chí Nguyễn Ái Quốc

Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch tháng 7-1957.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- từ năm 1921-1923. (Ảnh tư liệu).

Chúng không cho người nước ngoài chúng tôi xem sách báo. Không phải chúng chỉ không cho ñọc các nhà văn mới mà cả Rút-xô và Mông-tét-xki-ơ nữa cũng bị cấm”. “Vậy thì phải làm thế nào bây giờ?”, Bác kết luận: “Tôi quyết ñịnh tìm cách ñi ra nước ngoài”.

Dù mới tiếp xúc với “Tây học”, với nền văn hóa tư sản và hệ tư tưởng tư sản, nhưng qua những ñoạn dẫn trên ñây ta thấy Bác ñã có cái nhìn sắc bén khác với những người bình thường. Hồi nhỏ, cụ Sắc luôn dạy các con phải “biết mình biết người”. Vì thấm nhuần ñiều “biết mình biết người, trăm trận ñánh, trăm trận thắng” nên Bác muốn ñến tận sào huyệt của chúng (ñến các “chính quốc” Pháp, Anh…) ñể tìm hiểu. “Tôi muốn ñi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp ñồng bào chúng ta”.

Việc du học bị nghiêm cấm. Thế nhưng Bác vẫn kiên quyết ra ñi với hai bàn tay trắng và một vốn tiếng Pháp ít ỏi học ñược trong nhà trường.

Mùa hè năm 1911, Bác ñặt chân lên ñất Pháp. Tiếng Pháp là một “trở ngại” trong bước ñầu ñi tìm ñường cứu nước, cứu dân của Bác. Bác hiểu ngay rằng mình phải giao thiệp bằng tiếng Pháp ñể làm ăn sinh sống, ñể học tập và hoạt ñộng cách mạng. Nhờ ñộng cơ học tập ñúng ñắn và mạnh mẽ ñó nên Bác ñã nhanh chóng tìm ra ñược nhiều cách học thông minh, sáng tạo. Ngay trên chuyến tàu sang Pháp, Bác ñã tranh thủ lúc rỗi ñể học ñọc và viết tiếng Pháp với hai người lính trẻ ñược giải ngũ trở về Pháp. Họ cho Bác mượn những quyển sách nho nhỏ bằng tiếng Pháp. Khi ñến thành phố Lơ Ha-vơ-rơ, Bác học tiếng với cô Sen. Tóm lại, những người xung quanh dạy Bác học. Muốn biết một vật nào ñó tiếng Pháp gọi là gì. Bác chỉ vật ấy rồi hỏi, xong viết vào mảnh giấy, dán vào chỗ hay ñể ý nhất, ñể vừa làm việc vừa học ñược. Có khi viết chữ vào cánh tay. Tối ñi làm về, Bác rửa tay rồi lại viết các chữ khác. Học ñược chữ nào, Bác ghép câu dùng ngay. Giăng Lông- ghê, cháu ngoại Các Mác, là chủ nhiệm báo “Dân chúng”, cơ quan của ðảng Xã hội Pháp (hồi ấy ðảng Cộng sản pháp chưa thành lập), ñã khuyến khích Bác viết về Việt Nam. Nhưng bấy giờ, Bác chưa giỏi tiếng Pháp. Muốn viết gì, Bác phải nhờ luật sư Phan Văn Trường. Ông là một nhà trí thức yêu nước, ñậu tiến sĩ luật khoa ở Pa-ri, nhưng ông không muốn ký tên ở dưới và không viết hết ñiều mà Bác muốn nói, Bác rất khó chịu vì mình kém tiếng Pháp, Bác nghĩ: muốn tuyên truyền cho nước ta, nhưng không viết ñược chữ Pháp. Làm thế nào bây giờ? Nhất ñịnh phải học viết cho kỳ ñược”. Bác làm quen với chủ bút tờ báo “ðời sống thợ thuyền”, Bác ngỏ ý muốn viết bài nhưng ngại vì tiếng Pháp còn kém. Chủ bút bảo: “ðiều ñó không ngại, có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài cho anh trước khi ñưa in. Anh không cần viết dài; năm sáu dòng cũng ñược”. Viết xong bài, Bác chép thành hai bản, một bản giữ lại. Lần sung sướng nhất trong ñời viết văn, làm báo của Bác là bài ñầu tiên ñược ñăng trên tờ “ðời sống thợ thuyền”. Năm ấy là năm 1917. Bác ñã so lại xem ñúng sai chỗ nào, tòa báo sửa cho như thế nào. Sau này, khi thấy ñã bớt sai, ông chủ bút lại bảo: “Bây giờ anh viết dài một tí, viết ñộ bảy tám dòng”. Rồi cứ thế, Bác viết ñược cả một cột báo, có khi dài hơn. Lúc ấy, người chủ bút (là bạn thân của Bác) lại bảo viết ngắn lại. Rút ngắn cũng khó như kéo dài. Nhờ kiên trì rèn luyện nên Bác ñã thành công.

Lần sung sướng thứ hai là khi mẩu chuyện về Pa-ri của Bác ñược ñăng.

Thường thì suốt ngày làm việc, Bác ñọc vài trang tiểu thuyết ñể trao dồi tiếng Pháp và giải trí một chút. Thấy Tôn-xtôi viết giản dị, rõ ràng, Bác rất thích và cũng viết một bài phóng sự về khu phố công nhân nghèo khổ nơi Bác ở. Sáng nào cũng viết từ năm giờ ñến sáu giờ rưỡi. Bảy giờ phải ñi làm. Khi viết trời rét buốt. Ngón tay tê cóng. Sau một tuần cặm cụi, Bác hoàn thành tác phẩm ñầu tiên của mình. Bác nói với các ñồng chí trong Ban văn học tòa soạn báo “Nhân ñạo” rằng: “Tôi rất sung sướng nếu bài viết này của tôi ñược ñăng, tùy các ñồng chí ñăng hay không ñăng, nhưng dù thế nào thì cũng xin các ñồng chí sửa lỗi tiếng Pháp cho tôi…”.

Cho ñến năm 1945, trong ñời làm báo, viết văn của Bác có ba lần sung sướng. Hai lần ñược ñăng báo viết bằng tiếng Pháp. Lần sung sướng thứ ba là lần thảo bản “Tuyên ngôn ñộc lập”, vì ñó là một trang vẻ vang nhất trong lịch sử Việt Nam.

Năm 1922, tờ “Người cùng khổ” (Le Paria) ra ñời. Bác làm chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo, việc nào cũng ñòi hỏi dùng nhiều tiếng Pháp. Bác kể lại: “Các ñồng chí người thuộc ñịa Á Phi viết bài quyên tiền, còn bao nhiêu công việc mình ñều bao hết”. Trụ sở ñầu tiên của Bác ở số nhà 16 phố Giắc Ca-lô, sau chuyển sang số nhà 3 phố Mác-sê ñê Pa-tri-ác-sơ ở quận 6, là một nhà cổ xưa ở Pa-ri. Nơi ñây, Bác làm việc ñể ra báo và cũng chính nơi ñây là trụ sở của “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc ñịa”. Bác là một trong những người có sáng kiến ra tờ báo của hội này. Báo ra cả thẩy ñược 38 số. Khổ lớn, tên báo bằng chữ Pháp ñặt ở giữa, chữ Ả Rập bên trái và chữ Hán bên phải, do Bác viết. Báo này không có ban biên tập làm việc thường xuyên, vì ai nấy phải làm việc, sinh sống hoặc bận các công việc sửa chữa bài vở và bán báo. Luật sư Mác Clanh-vin Blông-cua, người ñảo Guy-a-ño-lúp, trong Ban biên tập nhận xét rằng: “Anh Nguyễn Ái Quốc ñã ñóng góp rất nhiều cho tờ báo, anh viết khỏe, có số viết tới hai, ba bài”, “lời văn anh sắc bén, tư tưởng anh rõ ràng và mạnh mẽ”, “xem và ñọc những bài và tranh ñó người ta thấy rõ tác giả có một tinh thần tiến công rất chủ ñộng và rất thông minh”.

Người ta thường nhắc ñến những bài của Bác trên tờ “Người cùng khổ” với một lòng xúc ñộng, mến phục: Nào là bài “ðộng vật học” với giọng văn rất Pháp, ñả kích sâu sắc bọn thực dân; “Vĩnh biệt vị vua chúa” mỉa Khải ðịnh lúc hắn sang dự ñấu xảo ở Pháp, nào là “Con rùa” nói lên sự tham nhũng tàn bạo của một tên quan cai trị Pháp ở Việt

Nam; “Những trò lố bịch hay là Va-ren và Phan Bội Châu” mang tính chất một bài bút ký “viễn tưởng”; nào là “Hands off China”… Có kỳ như số ra ngày 1/8/1922 có ñến ba bài viết và một bức vẽ của Bác.

Ngoài tờ “Người cùng khổ” ra, Bác còn viết cho nhiều tờ báo bằng tiếng Pháp nữa. Ví dụ, trên báo “Nhân ñạo”, chúng ta thấy “Vấn ñề bản xứ”; “Lời than vãn của bà Trưng Trắc; “Con người biết mùi hun khói”; “Vi hành”. Riêng bài “Vi hành” (Incognito) ñăng ngày 19/2/1923, tác giả tự dịch bằng tiếng Nam (tiếng Việt), nhưng chúng ta có cơ sở ñể ñoán là truyện này ngay từ ñầu ñã ñược viết bằng tiếng Pháp.

Tờ báo Người Cùng Khổ - Le Paria. (Ảnh tư liệu).

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Về sách của Bác, chúng ta chú ý ñến quyển: Bản án chế ñộ thực dân Pháp. ðây là tác phẩm kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, nó nêu ra những việc thật, người thật, dùng thuật “Gậy ông ñập lưng ông” (trích lời người Pháp viết ñể làm tang chứng). Sách ñược viết bằng hình thức tiểu phẩm, làm thiên phóng sự ñiều tra mở ñầu cho một nền văn học mới ở Việt Nam. Là văn kiện lịch sử, nó cũng là tác phẩm văn học lớn bằng tiếng nước ngoài trong văn học sử Việt Nam.

Bác dùng tiếng Pháp rất linh hoạt. Trong quảng ñời mười năm ở Pháp, Bác ñã diễn thuyết, nói chuyện, phát biểu ở nhiều nơi. Nhưng ñáng chú ý nhất là lời phát biểu của Bác ở ðại hội Tua (năm 1920) và “Bản tham luận về dân tộc thuộc ñịa” ở ðại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5 (năm 1924). Hai lần phát biểu bằng tiếng Pháp ñó chứng tỏ nhãn quan sáng suốt và sâu sắc về chính trị cùng tài năng tiếng nước ngoài của Bác, dường như Bác muốn nói gì, diễn tả như thế nào thì tiếng Pháp lúc ñó ñủ ñể phục vụ cho nhu cầu ñó (Ở Liên Xô còn giữ ñược bản ghi lời phát biểu bằng tiếng Pháp của Bác ở ðại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5 và Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ñã chụp lại ñược bản ấy). Sau này, khi ñã trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác vẫn còn dùng tiếng Pháp ở nhiều nơi, nhiều lúc, rất có hiệu quả.

Tháng 5 năm 1946, Bác chủ ñộng ñến nói chuyện với một số lính Pháp ñóng trong thành Hà Nội. Lúc ấy, quan hệ giữa ta và thực dân Pháp khá căng thẳng. Nhiều ñồng chí ñã ñi theo và bảo vệ Bác. Tướng Xa- lanh giở ñủ ngón này ngón nọ ra với ý ñồ “tác ñộng tinh thần”. Thật ñúng là Bác ñã ñi vào nơi hang hùm miệng rắn vậy. Thế nhưng Bác vẫn thản nhiên, ung dung, dùng thứ tiếng Pháp ñiêu luyện “rất Pháp” của mình ñể nói về tình yêu quê hương ñất nước, về sự giải phóng nước Pháp khỏi bọn phát xít ðức, về nguyện vọng và ý chí của dân tộc Việt Nam là giành cho ñược ñộc lập, tự do… Lính Pháp vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Xa-lăng bị một cú bất ngờ, hắn sợ nguy cơ phản chiến, nên hốt hoảng vội mời Bác nghỉ với lý do là “Sợ Chủ tịch mệt” (!?).

Vài ngày sau, Bác sang Pháp, nhiều người lo cho Bác vì bấy giờ ñã có một máy bay Pháp chở một vị lãnh tụ ở Trung ðông ñâm vào núi. Thế nhưng, “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, lại cũng vì tin tưởng vào ðảng Cộng sản và các lực lượng cách mạng ở Pháp nên Bác vẫn ra ñi. Mấy tháng ở Pháp, Bác ñã làm chấn ñộng dư luận Pháp và thế giới, hết sức có lợi cho cách mạng. Có nhiều câu chuyện, ở ñây chỉ xin nêu ra một mẩu chuyện có liên quan tới việc dùng tiếng nước ngoài của Bác.

Trong một buổi họp báo của Bác ở Pa-ri có gần một trăm phóng viên các nước ñến dự. Một nhà báo tò mò hỏi:

- Thưa ngài Chủ tịch, Ngài là Cộng sản phải không?

- Phải – Chủ tịch Hồ Chí Minh ñiềm ñạm trả lời.

- Ngài ñã tham gia phong trào kháng chiến?

- ðã tham gia.

- Bao lâu?

- Gần 40 năm.

- Hình như Ngài ñã từng ở tù?

- Ở các nhà tù khác nhau

- Có lâu không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh mỉm cười. Nhìn thẳng vào mặt nhà báo tò mò, Chủ tịch nói: - Ở trong tù, thời gian bao giờ cũng lâu cả.

Trả lời ñơn giản và bất ngờ. ðó là sự chế nhạo kín ñáo hay là ý muốn ngắt lời nhà báo thiếu lễ ñộ nọ? Có một ñiều rất rõ, người Pháp, người Anh, người Mỹ ñã hiểu ñược rằng con người có chòm râu nhọn ấy có thể mỉm cười ở Pa-ri, Luân ðôn cũng như ở Hà Nội. ðó là nụ cười của một nhà tiên tri biết mở rộng biên giới của hiện tại.

Câu chuyện dưới ñây do giáo sư Trần Hữu Tước, anh hùng lao ñộng, Viện trưởng Viện Tai – Mũi – Họng Việt Nam kể lại:

Trong thời gian ñàm phán ở Pháp, hoạt ñộng của Bác thật phong phú, Bác ñọc nhiều báo và các bài nói về Việt Nam ñể nghiên cứu. Bác còn ñi nghe hòa nhạc, xem vũ ba-lê, tham quan cơ sở bảo tàng… Sau khi ký bản Tạm ước vào nửa ñêm 14/9/1946, Bác cùng vài người nữa về nước trên một thông tin hạm dài hơn trăm mét của Pháp. Lúc qua vịnh Cam Ranh ñể về Hải Phòng, ñô ñốc ðác-giăng-li-ơ lúc ấy thay mặt cho Chính phủ Pháp ở ðông Dương ñiện ra xin gặp, cho nên tàu ghé vào Vịnh. Thì ra chúng bố trí rầm rộ. Hai thủy phi cơ bay lượn quanh chiến hạm bảy tầng lính thủy của ðác. ðác kéo hết các loại cờ, giương hết các nòng pháo. Bác chỉ ñi với mỗi giáo sư Trần Hữu Tước lên tàu. ðối phó như vậy thật hiệu quả ngay. Khi ra cửa tàu ñón, ðác ñã phải nói ngay với giọng cáo già: “Thưa Chủ tịch, ñến tuổi tôi, tôi lại ñược

Những văn bản do ñồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong thời gian hoạt ñộng ở nước ngoài. Trong

ñó có cuốn ðường Kách mệnh. (Ảnh tư liệu).

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- học rằng, ñi với thầy thuốc là… thượng sách!”. Bác chỉ mặc giản dị, thái ñộ thản nhiên, ñường hoàng với phong cách người chủ ở ñây, còn sự lòe loẹt của chúng lại trở nên xa lạ, ngượng ngùng.

Tiệc trên chiến hạm là một cuộc ñấu trí. ðể lưu ý xỏ xiên rằng Bác ñang ngồi giữa hai tướng Pháp lừng danh (tức bị “ñóng khuôn” kẹp chặt), giữa một bên là ñô ñốc thủy quân Thái Bình Dương, một bên là thống soái lục quân Viễn ðông, ðác-giăng-li-ơ lưỡi dẻo quẹo, vừa cười vừa nói: “Monsieur le président, vous voi la bién encadre par I’ Armeé et la Marine!” (Chủ tịch thật bị “ñóng khung” giữa lục quân và hải quân ñó!). Hắn cố nói kiểu nhát gừng, tách riêng và nhấn mạnh những tiếng “bién encadre” (thật bị ñóng khung). Nói xong, ðác dương dương tự ñắc y cùng ñồng bọn cười khoái chí vì câu nói hiểm hóc ñó. Nhưng rồi chúng cũng ngồi lịm ñi khi Bác mỉm cười, ung dung trả lời ngay: “Mais, vous savez, Monsieur I’ Amiral, c’est le tableau qui fait la valeur du cadre!”. (Nhưng mà ñô ñốc biết ñấy, chính bức họa mới ñem lại giá trị cho chiếc khung!). Hồi tưởng lại, câu nói của Bác như có một ý nghĩa tiên tri: Pháp thua nhưng “vinh dự là thua Việt Nam”. Trong bữa tiệc, còn nhiều câu trả lời ý nhị bằng tiếng Pháp ñúng giọng và ñiêu luyện của Bác ứng ñối với bọn thực dân. Cuối cùng, chúng thấy thực là ñau nên phải thôi cái trò chơi chữ ấy. Nhiều câu chuyện của Bác hồi ñó nay ñã trở thành những giai thoại diệu kỳ.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH”

– Ban Tuyên giáo Trung ương)

Bác Hồ chứ còn ai 18/05/2009 GMT+7 Trong Chiến dịch Biên giới, một lần ñi gần tới ðông Khê (Cao Bằng), Bác rẽ vào nhà một ñồng bào nghỉ ngơi. Một em bé Nùng gánh ñôi bảng nước từ dưới suối ñi lên trông thấy cụ già quen quá mà không rõ gặp ở ñâu rồi.

Em nghĩ chưa ra thì cụ ñã tới gần. Giọng cụ ấm áp:

- Cháu gánh có nặng không?

- Ồ! Không nặng ñâu! Em bé vội ñáp, ngạc nhiên trước cử chỉ của cụ. Em xốc lại ñòn gánh thong thả bước. Cụ già bước theo lên cầu thang. Vào nhà, cụ hỏi em bé:

- Cháu tên là gì?

- Là Phấn.

Cụ già xoa ñầu Phấn.

- Pá (bố) ñi dân công phải không? Cháu làm việc nhiều quá.

- Pá ñi dân công phục vụ chiến dịch. Cháu ở nhà giúp mế (mẹ) gánh nước. Không mệt ñâu.

Cụ già lại hỏi:

- Cháu có biết ñi dân công ñể làm gì không?

- ði dân công ñể giết Tây.

Phấn trả lời cụ già, rồi kể:

Thằng Tây nó ác hơn ông cọp ông à! Tàu bay nó bắn cháy trường cháu ba lần. Bây giờ trường phải dời vào lũng xa lắm. Nó bắn chết cả Pu, con trưởng thôn.

Cụ già ñặt tay lên vai Phấn, ñôi mắt hiền từ nhìn Phấn, khẽ nói:

- Bao giờ hết giặc, cháu sẽ không phải vất vả như thế này nữa.

Bác Hồ tại Mặt trận ðông Khê 1950. (ảnh TL)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Xanhtơny trên chiến

hạm hải quân Pháp năm 1946.

(Ảnh tư liệu).

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Hai Bác cháu nói chuyện thêm một lát nữa. Rồi Bác nhắc Phấn ñi ngủ.

ðêm gần về sáng. Phấn còn ñang yên giấc ngủ thì cụ già ñã cùng mấy người khác ñi. Lúc tỉnh dậy, thấy nhà trống trải, vắng vẻ quá, Phấn bật lên khóc. Nhìn lọ thuốc ho, chiếc khăn quàng cổ cụ già cho, lòng Phấn càng nhớ cụ khôn xiết.

Cho ñến lúc ấy, Phấn chưa nhận ra cụ già trọ ở nhà mình là ai? Mãi ñến khi Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi, bố Phấn ñi dân công về nghe chuyện mới quả quyết với con rằng:

- A lúi! Bác Hồ chứ còn ai!

Và hai bố con rất tiếc, nhưng rất sung sướng là Cụ Hồ ñã ñến ở nhà mình.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ

CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung

ương)

HL

Hồ Chủ Tịch làm việc trước lều dựng tạm trên ñường ñi Chiến dịch Biên giới năm 1950. (ảnh TL)

Ba lần ñược gặp Bác Hồ 17/05/2009 GMT+7 Hồ Thị Thu kể: Khi cháu ở trong miền Nam, cháu ñược nghe các chú ñọc lời dạy của Bác Hồ, cháu càng thương nhớ Bác nhiều. Cháu và các bạn cháu mong sao nước nhà thống nhất, cùng ñồng bào miền Nam ñón Bác vào thăm.

Qua thời gian chiến ñấu, cháu ñược ðảng, Mặt trận cho ra miền Bắc ñể học tập, cháu vinh dự ñược gặp Bác.

Lần ñầu cháu ñược gặp Bác, Bác hỏi cháu ñã biết chữ chưa. Cháu vòng tay trả lời Bác mà cháu nói không nên lời, vì cháu cảm ñộng quá. Sau, cháu cố gắng trả lời ñể Bác nghe:

- Dạ thưa Bác, cháu chưa biết chữ nào ạ. Vì gia ñình cháu nghèo, ba má cháu mất sớm, cháu ñông em nên không ñược ñi học.

Vừa nói xong, cháu ngước lên nhìn Bác. Hai hàng nước mắt Bác rưng rưng làm cho cháu càng thêm cảm ñộng hơn.

Lần thứ hai cháu ñược gặp Bác. Bác hỏi cháu:

- ðồng bào miền Nam ñấu tranh và chiến ñấu như thế nào?

Cháu liền ñứng lên vòng tay lại:

- Dạ, thưa Bác, ñồng bào miền Nam ñấu tranh không sợ gian khổ, chiến ñấu không sợ bị thương, không sợ hi sinh, mà chỉ sợ mù hai mắt, sau này nước nhà thống nhất, Bác vào thăm không nhìn thấy Bác.

Cháu ngước nhìn lên lại thấy Bác rưng rưng nước mắt. Bữa ấy Bác cho cháu ăn cơm. Cháu ngồi bên Bác, Bác gắp thức ăn cho cháu…

Lần thứ ba, cháu ñược gặp Bác ở hội trường Ba ðình. Cháu mừng rỡ chạy lại ôm và hôn Bác. Bác hỏi cháu:

- Kỳ này cháu có ăn ñược cơm không, ăn ñược mấy bát?

Cháu ñáp:

- Dạ, thưa Bác, cháu ăn ñược hai bát ạ!

- Ăn thế là ít ñấy! Cố ăn nhiều cho khỏe vào.

Bác dặn thêm cháu phải giữ gìn sức khỏe cho thật tốt, học tập văn hóa, chính trị, lao ñộng cho thật tốt, ñoàn kết tốt, thương yêu ñồng ñội tốt, phải nghe lời các cô, các chú dạy bảo.

Bác Hồ gặp gỡ các thiếu niên dũng sĩ miền Nam.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Sau những giờ phút quý báu ấy cháu ra về, không muốn rời Bác, chỉ mong sao gần Bác luôn luôn.

Ngày tháng qua ñi, bệnh của cháu lại phát triển, nên các chú ñưa cháu vào viện. ðược tin ấy, Bác ñiện vào thăm cháu. Lúc ấy bệnh cháu quá nặng, ñến khi cháu tỉnh dậy, các chú nói lại, cháu vô cùng xúc ñộng, vì Bác bao nhiêu là công việc mà Bác còn quan tâm ñến sức khỏe của cháu. Thời gian sau cháu xa Hà Nội về trường học, hàng ngày cháu luôn thực hiện lời Bác dạy.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Các em sạch và ngoan thật! 17/05/2009 GMT+7 ðầu năm 1967, Bác Hồ về thăm tỉnh Thái Bình. Các em thiếu nhi xóm Dân Chủ hát vang bài “Giải phóng miền Nam” ñón Bác. Bác hỏi:

Hồ Chủ tịch, ñồng chí Lê Duẩn, ñồng chí Trường Chinh vui cùng các cháu thiếu nhi.

- Các cháu có ngoan không?

- Thưa Bác có ạ! Các cháu cùng trả lời.

- Các cháu có vâng lời cha mẹ không?

- Thưa Bác có ạ!

- Các cháu ăn ở có sạch sẽ không?

- Thưa Bác có ạ!

- Chìa tay cho Bác xem nào?

Những bàn tay xinh xắn, chìa ra trước mặt cho Bác xem. Bác gật ñầu hài lòng lắm vì thấy cuộc sống của các cháu nhỏ ở nông thôn ñã thay ñổi dần với cuộc sống của dân làng.

Các em sạch và ngoan thật. Bác Hồ lấy kẹo chia cho các cháu rồi lại tiếp tục ñi.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bác Hồ với Trung thu ñộc lập ñầu tiên 06/05/2009 GMT+7 Chiều hôm ñó, thứ 6, ngày 21/9/1945 tức ngày 15/8 năm Ất Dậu, tan giờ làm việc, Bác bảo ñồng chí thư ký về nhà trước, còn Bác ở lại Bắc Bộ phủ ñể ñón các em thiếu nhi vui Tết Trung thu.

Bác Hồ và các cháu thiếu nhi Ngay từ chiều, Bác ñã cho mời ñồng chí Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và một ñồng chí phụ trách thiếu nhi của Thanh niên ñến hỏi về tổ chức Trung thu tối nay cho các em. Nghe báo cáo chỉ có ba ñịa ñiểm xung quanh Bờ Hồ ñể bày mâm cỗ cho hàng vạn em, Bác bảo các anh chị phụ trách phải tổ chức cho thật khéo ñể em nào cũng có phần. Về chương trình vui chơi, Bác khen là có nhiều cố gắng về mặt hình thức và căn dặn là phải ñảm bảo an toàn, nhất là ñối với các em nhỏ.

Sau ñó, Bác trở về phòng làm việc của mình trên căn gác ở Bắc Bộ phủ. Nhưng chốc chốc Bác lại hỏi:

- Các em ñã tập trung ñủ ở Bờ Hồ chưa?

Trăng ñã bắt ñầu lên. Bác Hồ ra ñứng ở cửa ngắm ñêm trăng và lắng nghe tiếng trống rộn ràng từ các ñường phố vọng ñến. Ai mà biết ñược niềm vui lớn ñêm nay của Bác Hồ, người chiến sĩ cách mạng bôn ba khắp năm châu, bốn bể, nếm mật nằm gai, vào tù ra tội, chỉ nhằm một mục ñích duy nhất là ñem lại ñộc lập cho Tổ quốc, no ấm cho nhân dân và ñặc biệt, cháy bỏng trong lòng Người là niềm mong ước hạnh phúc ấm no cho lớp trẻ thơ.

ðêm nay giữa lòng Hà Nội, ngay trong Dinh Chủ tịch, Bác Hồ hồi hộp chuẩn bị ñón tiếp “Bầy con cưng” của mình.

Trước Trung thu mấy hôm, Bác ñã viết một lá thư dài gửi các em nhân ngày tựu trường.

Liền sau ñó, Bác lại viết “Thư gửi các cháu thiếu nhi” nhân dịp Tết Trung thu. Thư viết trước Trung thu một tuần lễ ñể kịp ñến với các em khắp các miền ñất nước. Bác Hồ bao giờ cũng chu ñáo như thế.

Và ñêm nay, Trung thu ñã thực sự ñến trong nỗi bồi hồi mong ñợi của Bác. Theo chương trình thì ñúng 21 giờ các em mới ñến vui chung với Bác Hồ. Thế mà lúc này chưa ñến 20 giờ Bác ñã bồn chồn ñi lại trong phòng, xem lại ñề cương bài phát biểu lát nữa sẽ nói với các em, xem lại những tấm ảnh lát nữa Bác sẽ tặng cho mỗi em một tấm… Thật khó mà hình dung một cụ già ñã gần tuổi 60, một vị Chủ tịch nước, một nhà hoạt ñộng quốc tế nổi tiếng, một con người vốn có bản lĩnh ung dung, bình thản trong mọi tình huống, ñêm nay lại nóng lòng chờ ñợi, gặp gỡ các em nhỏ như vậy.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Hồ Hoàn Kiếm tưng bừng náo nhiệt. Những bóng ñiện lấp lánh trong các vòm cây. Hàng ngàn, hàng vạn ñèn giấy trên tay các em soi bóng xuống mặt hồ. Trên ñỉnh Tháp rùa rực sáng ánh ñiện với băng khẩu hiệu “Việt Nam ñộc lập”.

ðúng 20 giờ, lễ Trung thu ñộc lập ñầu tiên bắt ñầu. Sau lễ chào cờ, một em ñại diện cho hàng vạn thiếu nhi Hà Nội phát biểu niềm vui sướng ñược trở thành tiểu chủ nhân của nước ñộc lập. Tiếp ñó ñồng chí Trần Huy Liệu, ñại diện Chính phủ, trịnh trọng ñọc thư của Bác Hồ gửi thiếu nhi, căn dặn các em cố gắng học tập ñể xứng ñáng với sự quan tâm, chăm sóc của Bác.

Buổi lễ kết thúc, các ñoàn ñội ngũ chỉnh tề ñều bước trong tiếng trống vang vang hướng về Bắc Bộ phủ. Dẫn ñầu ñoàn là những ñội múa lân, múa sư tử cùng hàng ngàn, hàng vạn chiếc ñèn giấy lung linh uốn lượn như một dòng sông sao…

ðúng 21 các em có mặt trước Bắc Bộ phủ. Bác Hồ xuất hiện tươi cười, thân thiết. Tiếng hoan hô như sấm dậy. Tiếng trống rộn ràng. Sư tử lại nhảy múa. Tất cả sung sướng hò reo. Chúc mừng Bác Hồ kính yêu.

Bác Hồ xúc ñộng bước xuống thềm ñón các em, tiếng hoan hô lại dậy lên. Một em ñứng trước máy phóng thanh ñọc lại lời chào mừng. ðọc xong em hô to “Bác Hồ muôn năm!”. Lập tức tiếng hô “Muôn năm” rền vang không ngớt.

Bác Hồ giơ cao hai tay tỏ ý cám ơn các em rồi Bác lần lượt bước ñến bắt tay từng em ñứng ở hàng ñầu. Cặp mắt của Bác ánh lên một niềm vui ñặc biệt. Trong lúc ở phía ngoài, các ñoàn “xe tăng”, các binh sĩ của Hai Bà Trưng, của ðinh Bộ Lĩnh, các ñội sư tử với rất nhiều em ñeo mặt nạ… ùn ùn kéo vào dinh của Chủ tịch trong tiếng trống hò reo vang dậy, khu vườn Phủ Chủ tịch bỗng nhiên im phăng phắc khi ñồng chí phụ trách giới thiệu Bác Hồ sẽ nói chuyện với các em.

Bằng giọng xứ Nghệ có pha lẫn giọng các miền của ñất nước, Bác thân thiết trò chuyện với các cháu: “Các cháu! ðây là lời Bác Hồ nói chuyện…”.

Cuối cùng Bác nói: Trước khi các cháu phá cỗ, ta cùng nhau hô hai khẩu hiệu: “Trẻ em Việt Nam sung sướng!”, “Việt Nam ñộc lập muôn năm!”.

Tiếng hô hưởng ứng của các em rền vang cả một vùng trời.

Trăng rằm vằng vặc tỏa sáng. Niềm vui tràn ngập cả Hà Nội. Bác Hồ vui sướng ñứng nhìn các em vui chơi.

Ai hiểu hết ñược niềm vui của Bác Hồ lúc này. Bao nhiêu năm xông pha chiến ñấu, phải chăng Bác cũng chỉ mong ước có giây phút sung sướng như ñêm nay.

“Trẻ em Việt Nam sung sướng!”. Khẩu hiệu ñó của Bác Hồ cách ñây 45 năm, vẫn ñang là mục tiêu phấn ñấu của các thế hệ hôm nay và mãi mãi mai sau.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Bác Hồ vui Trung thu cùng các cháu thiếu nhi.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Dưới gốc ña Tân Trào 13/04/2009 GMT+7 Qua mấy ngày lội suối, tắt rừng, vượt ñèo, ñoàn ñại biểu Hà Nội do ñồng chí Hoàng ðạo Thúy dẫn ñầu ñã tới cây ña Tân Trào, ñiểm liên lạc cuối cùng. Toàn ñoàn khá mệt, ngồi nghỉ dưới gốc ña, có liên lạc ñón và mời nước chè tươi.

ðình Hồng Thái nơi Bác dừng chân ñầu tiên khi ñến Tân Trào.

Toàn ñoàn ñang ngắm nhìn chiến khu với sự cảm kích, hào hùng – Bởi rừng già hùng vĩ, núi non trầm mặc. Vừa lúc ấy, từ bản gần ñó, một ñoàn người ñi ra, người quần áo Tày, người quần áo Dao. Dẫn ñầu ñoàn người là một cụ già mặc quần áo Tày, ñội mũ sợi màu chàm, tay chống gậy. ðược biết, ñó là nhân dân ñịa phương ra ñón ñoàn ñại biểu Hà Nội.

ðoàn ñại biểu Hà Nội vội ñứng lên chào mừng nhân dân ñịa phương. Sau phút chào hỏi vui vẻ, ñồng chí Hoàng ðạo Thúy cử ñồng chí Nguyễn Tài, ủy viên dân vận của ñoàn ra nói chuyện cùng nhân dân ñịa phương. Còn cả ñoàn xin phép ñược ngồi nghỉ dưới gốc ña liền ñó ñể chờ thượng cấp.

ðược gặp ñồng bào ở chiến khu, với niềm tự hào là ñại biểu của Hà Nội ñi dự Quốc dân ðại hội (8/1945), ñồng chí Nguyễn Tài dùng hết khả năng tuyên truyền của mình ñể nói chuyện với ñồng bào: nào là tội ác của Pháp cùng Nhật xâm lược nước ta, cướp bóc thóc lúa, ñể hàng triệu ñồng bào ta bị chết ñói; nào là phát xít ðức ñã ñầu hàng; Hồng quân Liên Xô ñã ñánh tan ñạo quân Quan ðông của Nhật; nào là lực lượng Việt Minh ta ở Hà Nội rất mạnh, khắp nước cũng rất mạnh. Thời cơ nổi dậy giành ñộc lập ñã tới, v.v… Chúng ta lại có lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lãnh ñạo…

ðồng chí Nguyễn Tài vừa nói tới ñây thì cụ già – người dẫn ñầu ñoàn nhân dân ñịa phương vỗ tay ngắt lời, nhân dân cùng vỗ tay hoan hô theo. Ông cụ ra hiệu, một nữ ñại biểu từ trong ñoàn nhân dân ñứng dậy ñứng dật ñáp lời: “ Nhân dân Tân Trào rất cám ơn ñoàn ñại biểu Hà Nội ñã về dự ðại hội. ðại biểu vừa rồi ñã nói chuyện với nhân dân nhiều ý hay, lời ñẹp. Dân ở ñây cũng ñược cán bộ Việt Minh, nhất là ông Ké dạy bảo nhiều. Hợp với ý của ñại biểu vừa nói. Như vậy là xuôi ngược một lòng cứu nước. Chúc các ñại biểu Hà Nội thu nhiều kết quả”.

Nữ ñại biểu phát biểu xong, thì nhân dân trở về bản. ðoàn ñại biểu Hà Nội cũng ñứng dậy, ñôi bên vẫy tay nhau.

Ông cụ vẫy ñồng chí Nguyễn Tài lại gần, cầm tay như dắt ñi. Vừa ñi, vừa hỏi:

- ðồng chí thấy nữ ñại biểu nói thế nào?

- Dạ, nữ ñồng chí ấy nói ngắn, nhưng thể hiện trình ñộ khá cao. Cháu ñang băn khoăn là mình nói hơi thừa…

Ông Ké tủm tỉm cười, nhẹ nhàng bảo ñồng chí Tài:

- Chú cần nhớ là Hà Nội bị ñịch chiếm trước, trên này bị ñịch chiếm sau. Bây giờ trên này lại ñược giải phóng trước, Hà Nội vẫn bị quân giặc cướp nước thống trị. Cho nên người ñi sau không nên chỉ ñường cho người ñi trước.

ðồng chí Nguyễn Tài giật mình nhìn ông Ké: Trời ơi! Ông già miền núi gầy

Lán Nà Lừa - nơi Bác Hồ làm việc và tiếp khách những ngày còn ở Tuyên

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- gò, mảnh khảnh kia nói ñơn giản nhưng ñầy ý nghĩa: “Người ñi sau sao lại chỉ ñường cho người ñi trước”. ðồng chí Nguyễn Tài vội vàng nắm tay ông già: “Cháu hiểu ra rồi ạ!”. Nhìn theo bóng ông cụ bước ñi, Nguyễn Tài thầm nghĩ: “Việt Minh mình có những sức mạnh, chính là ở những con người này ñây”.

Thấy ñồng chí Nguyễn Tài ñi theo ông Ké một lát rồi bần thần ñứng lại, ñồng chí Hoàng ðạo Thúy liền tới gần và hỏi: “ Ông Ké bảo gì, mà cậu ngẩn ngơ ra vậy?”.

ðồng chí Nguyễn Tài kể lại lời ông Ké. ðồng chí Hoàng ðạo Thúy gật ñầu bảo: “Phải nhắc nhở anh chị em mình, trò chuyện với nhân dân vùng giải phóng, phải cẩn trọng”. Nhìn theo bóng ông cụ, rồi ñồng chí Thúy thầm thì với ñồng chí Tài: “Không khéo ông Ké ấy chính là cụ Nguyễn Ái Quốc ñấy!”.

ðến ngày khai mạc Quốc dân ðại hội, những băn khoăn ñó của hai ñồng chí mới ñược rõ ràng: ông Ké ấy chính là cụ Nguyễn Ái Quốc.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

ðạo ñức người ăn cơm 12/04/2009 GMT+7 Một chiến sĩ bảo vệ Bác - sau này ñược phong quân hàm cấp tướng - có lần nói rằng: "Bác thường dạy quân dân ta "cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư" Bác dạy phải làm gương trước. Bác dạy phải nêu cao ñạo ñức cách mạng. Có cán bộ nghĩ rằng "ñạo ñức" cách mạng là ñể áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, ñược gần Bác thấy ngay trong khi ăn cơm. Bác cũng ñã dạy cho chúng tôi thế nào là "ñạo ñức".

Thứ nhất, Bác không bao giờ ñòi hỏi là Chủ tịch nước phải ñược ăn thứ này, thứ kia. Kháng chiến gian khổ ñã ñành là Bác sống như một người bình thường, khi hoà bình lập lại có ñiều kiện Bác cũng không muốn coi mình là vua có gì ngon, lạ là cống, hiến. Thứ hai, món ăn của Bác rất giản dị, toàn các món dân tộc, tương cà, cá kho....thường là chỉ 3 món trong ñó có bát canh, khá hơn là 4,5 món thôi...

Thứ ba, Bác thường bảo chúng tôi, ăn món gì cho hết món ấy, không ñụng ñĩa vào các món khác. Gắp thức ăn phải cho có ý. Cắt miếng bơ cũng phải cho vuông vức. Nhớ lần ñi khu 4, ñồng chí bí thư và chủ tịch Quảng Bình ăn cơm với Bác, trong mâm có một bát mắm Nghệ hơi nhiều. Bác dùng bữa xong trước, ngồi bên mâm cơm. Hai cán bộ tỉnh ăn tiếp rồi buông ñũa. Bác nhìn bát mắm nói:

- Hai chú xẻ bát mắm ra, cho cơm thêm vào ăn cho hết.

Hai quan ñầu tỉnh ñành phải ăn tiếp vừa no, vừa mặn.... Chiều hôm ñó, hai ñồng chí ñưa Bác ñi thăm bờ biển, trời nắng, ăn mặn nên khát nước quá. Lần khác, một cán bộ ngoại giao cao cấp người Hà Tĩnh ñược ăn cơm với Bác, ñã gắp mấy cọng rau muống cuối cùng vào bát tương ăn hết. Tưởng là ñã hoàn thành nhiệm vụ nào ngờ Bác lại nói:

- Tương Nghệ ñồng bào cho Bác, ngon lắm. Cháu cho thêm ít cơm vào bát quẹt cho hết....

Thứ tư, có món gì ngon không bao giờ Bác ăn một mình, Bác sẻ cho người này, người kia rồi sau cùng mới ñến phần mình, thường là phần ít nhất. Ăn xong thu xếp bát ñũa gọn gàng, ñể ñỡ vất vả cho người phục vụ.

Quang.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các ñồng chí bảo vệ

Thứ năm, tôi có cảm giác là ñôi khi ăn cơm có những giây phút Bác cầm ñôi ñũa, nâng bát cơm. Bác như tư lự về ñiều gì ñó. Tưởng như Bác nghĩ ñến ñồng bào, cụ già, em bé ñói rách ở ñâu ñâu. Tưởng như Bác nhớ lại những ngày lao ñộng ở xứ người kiếm từng mẩu bánh ñể ăn, ñể uống, ñể làm cách mạng.... Hay là Bác lại nghĩ ñến những lần tù ñày không có gì ăn. Thật khó hiểu mà càng khó hiểu, tôi lại càng thương Bác quá, thương quá. Bây giờ vào những bữa tiệc cao lương, mỹ vị, rượu bia thức ăn bày la liệt, quái lạ tôi lại nhớ ñến Bác rồi... có ăn cũng chẳng thấy ngon như khi xưa ngồi vào mâm cơm ñạm bạc với Bác

(Trích trong cuốn: Tấm lòng của Bác) (theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH”

– Ban Tuyên giáo Trung ương)

Một ngày thu không thể quên 29/03/2009 GMT+7 Một chiều thu tháng 8/1942, bầu trời xanh ngắt, gió nhẹ thổi, không gian thoang thoảng mùi hương của ñồng lúa sắp chín.

Kim ðồng xách ống nước ở dưới suối lên, thấy anh Ngự Mạn ñã ñợi ở dưới chân cầu thang. Với nét mặt rạng rỡ, anh Ngự Mạn ghé sát vào tai Kim ðồng nói nhỏ:

- Có một cán bộ cao cấp vừa ñến, cho gọi em lên gấp ñấy!

- Anh có biết ai không?

- Suỵt…! Nguyên tắc bí mật cơ mà.

Kim ðồng hồi hộp bước theo anh Ngự Mạn lên ngọn núi sau bản. ðến trước cửa hang Nục Én, anh ra hiệu cho Kim ðồng ñợi một chút. Lát sau Kim ðồng thấy anh ðức Thanh bước ra, vẫn ñôi mắt lúc nào cũng dịu dàng âu yếm, anh ñưa Kim ðồng vào trong hang. Trống ngực Kim ðồng bỗng ñập rộn lên khi nhìn thấy một “ông Ké” ngồi trên một tảng ñá, dựa lưng vào thành hang, chòm râu và mái tóc ñã ñiểm bạc. Trên khuôn mặt gầy, hơi xanh, sáng rực một ñôi mắt như hai vì sao ấm áp. “Ông Ké” nhìn Kim ðồng trìu mến. Vẫn còn ñang lúng túng chưa kịp chào, Kim ðồng bỗng thấy “ông Ké” hỏi:

- Cháu là Kim ðồng, ñội trưởng ðội Thiếu nhi cứu quốc phải không?

Bác Hồ về thăm lại ñồng bào Pác Pó, năm 1961

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- - Vâng ạ!

- Lại ñây với Bác nào!

“Ông Ké” vẫy Kim ðồng lại gần và kéo vào lòng, ñưa tay xoa ñầu âu yếm:

- Cháu có ghét bọn Tây không?

- Dạ, có ạ!

- Vì sao nào?

- Vì bọn tay sang cướp nước ta làm cho dân ta khổ.

“Ông Ké” khen Kim ðồng và ñề nghị Kim ðồng kể về hoạt ñộng của ðội cho mọi người cùng nghe. Nghe kể xong, “ông Ké” khen ðội ñã có nhiều hoạt ñộng phong phú, mưu trí và dũng cảm.

“Ông Ké” còn khen Kim ðồng nói ñúng và các ñội viên vừa hoạt ñộng, vừa phải học văn hóa, học chính trị ñể mai này nước nhà ñộc lập, có ñủ tài sức xây dựng ñất nước.

Buổi chiều ñó, Kim ðồng ñược “Ông Ké” giữ lại ăn cơm. Chờ ñêm xuống, Kim ðồng ñược cử theo ba anh ñưa “Ông Ké” vào Pác Pó an toàn. Do nguyên tắc bí mật, ngày ñó, Kim ðồng chưa ñược biết rằng “ông Ké” ñó chính là Bác Hồ kính yêu, vị cha già của dân tộc Việt Nam.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ

CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Tượng ñài Kim ðồng

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Củng Hồ biết thuốc giỏi lắm 13/03/2009 GMT+7 Thời kỳ ở Pác Pó, do phải giữ gìn bí mật, Bác Hồ ít tiếp xúc với các cháu thiếu nhi ở bên ngoài mà thường chỉ ra khu nhà ñồng chí Dương ðại Lâm.

Nhà ñồng chí ðại Lâm rất ñông anh em và nhiều cháu bé. Những lần Bác ra chơi, ngoài việc trò chuyện với ông cụ thân sinh ñồng chí ðại Lâm, Bác còn chăm sóc các cháu nhỏ, giúp ñỡ gia ñình ñồng chí ðại Lâm.

Do các cháu chơi nghịch ñất cát, quần áo lem luốc, bẩn thỉu; mặt khác do ñời sống thiếu thốn, khó khăn vì sự bóc lột của bọn thống trị, có cháu ñầu bị chốc lở, tanh tưởi mà không có thuốc chữa chạy.

Bác Hồ chia quà cho các cháu thiếu nhi thị xã Hưng Yên.

Bác Hồ chữa cho các cháu bằng cách ñem nước nóng rửa thật sạch chỗ lở chốc, rồi lấy tro bếp nóng, gói lại ấp lên ñầu cho cháu. Bác làm việc này với tất cả sự cẩn thận, tận tình nên chỉ trong một thời gian ngắn, lở chốc trên ñầu cháu bé bay ñi ñằng nào. Cháu lại chơi vui. Nhân dân ở ñó kháo nhau “Củng Hồ biết thuốc giỏi lắm!” (Củng Hồ tiếng ñịa phương là Bác Hồ). Thực ra, Bác Hồ chữa bệnh cho các cháu không chỉ bằng thuốc mà bằng tấm lòng thương yêu của một người cha, một người ông lúc nào cũng mong cho con cháu khỏe mạnh, lớn khôn.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

ðoàn ñại biểu ñoàn thanh niên cứu quốc lần II, nhiệt liệt chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh ñến thăm ngày

2/11/1956.

Chính vì lo lắng ñến tương lai hạnh phúc của con em, Bác ñã không chỉ quan tâm mà còn rất chú trọng ñến việc tổ chức giáo dục nhi ñồng. Bác Hồ luôn nhắc nhở cán bộ phải cán bộ phải chú ý ñến “Hội nhi ñồng cứu quốc”. ðồng chí ðức Thanh nghe lời dạy của Bác ñã tổ chức ra Hội nhi ñồng cứu quốc thôn Nà Mạ, trong ñó có Kim ðồng, người thiếu niên anh dũng ñã cống hiến tuổi thiếu niên ñẹp ñẽ, bất diệt của mình cho cách mạng.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Trong Quốc dân ñại hội Tân Trào 12/03/2009 GMT+7 Nhớ lại sự kiện “Quốc dân ñại hội Tân Trào”, ñồng chí Nguyễn Lương Bằng kể:

ðồng chí Nguyễn Lương Bằng (ngoài cùng bên trái) tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm nhân dân

xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, ngày 16/2/1969.

Ngày 16/8/1945, ñoàn ñại biểu nhân dân Tân Trào ñem gạo, trâu, bò, gà ñến mừng ñại hội… ðồng bào bị bòn rút ñến xương tủy, ai nấy ñều tiều tụy, rách rưới. ðáng thương nhất là các em vùng dân tộc thiểu số gầy gò, vàng vọt. Chúng ở truồng tồng ngồng theo người lớn ñến chào Quốc dân ñại hội.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

ðại hội quốc dân tại ñình Tân Trào ngày 16/8/1945, do Bác Hồ chủ trì. Bác ñến gần các cháu, chỉ vào chúng và nói với các ñại biểu: “Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm sao cho các em bé có cơm ăn, có áo ấm, ñược ñi học, không lam lũ mãi thế này”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi năm 1945. Chúng tôi ñều cảm ñộng. Câu nói ấy, về sau này, Bác thường nhắc nhở luôn.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Cách ứng ñáp mẫn tiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh 26/02/2009 GMT+7 Năm 1946, một nhà văn là ủy viên thường trực Ban vận ñộng ðời sống mới ñến gặp Hồ Chủ tịch ñể xin ý kiến Người về nội dung cuộc vận ñộng. Bác Hồ nói nên vận ñộng nhân dân thực hiện mấy chữ: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

- Thưa cụ, mấy chữ ấy rất hay nhưng nghe có vẻ cổ. Cụ có thể thay thế bằng mấy chữ khác ñược không ạ?

- Thế cơm ông cha ta ñã từng ăn hàng ngàn năm trước, hiện nay chú và tôi hằng ngày vẫn ăn, chú thấy có cổ không? Không khí ông cha ta ñã từng hít thở, chú thấy có cổ không?

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, mấy chục vạn quân Tưởng kéo vào tìm cách khiêu khích ñể lấy cớ tiêu diệt cách mạng Việt Nam. Bác Hồ triệu tập các vị lãnh ñạo cao cấp ñể xử lý một vấn ñề “hệ trọng”, Bác nói:

- Tướng T.V. của quân ñội Trung Hoa dân quốc có gửi cho tôi một bức công văn, nội dung như sau:

“Kính thưa Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,

Yêu cầu Cụ cho mượn một cái nồi nấu cơm”.

Không cần phải nói, ai nấy ñều có thể hình dung không khí tức giận bao trùm lên cuộc họp. Có những ý kiến ñòi ñánh.

Với phong thái bình tĩnh, ung dung, Bác Hồ nói: “Nền ñộc lập ta vừa giành ñược giống như một chiếc bình ngọc. Nay có những con kiến bò trên miệng bình, nếu ta dùng gậy ñập kiến, chưa chắc kiến ñã chết mà bình ngọc vỡ. Nếu ta lấy một cái que bắc cầu cho chúng xuống thì kiến sẽ ñi hết, như vậy có hơn không? Còn trong sự việc vừa ñem ra bàn, họ mượn cái nồi nấu cơm thì ta cho họ mượn, việc gì các chú phải nổi nóng như vậy?!

Khoảng giữa năm 1949, một nhà báo Thái Lan trực tiếp phỏng vấn Hồ Chủ tịch ñể thăm dò xem Việt Nam ñứng về phía nào trong cuộc chiến Quốc – Cộng ở Trung Quốc.

- Thưa Cụ Chủ tịch, nước Việt Nam của Cụ ñứng về phía ông Tưởng hay ông Mao? Xin Cụ miễn cho câu trả lời “ñứng trung lập”.

- Chúng tôi ñứng trung lập. Cũng như Thái Lan của ông ñang ñứng trung lập giữa Anh và Mỹ!

- Nghe nói quân giải phóng nhân dân Trung Hoa ñã gửi cho Cụ súng cối và súng liên thanh. Cụ ñã nhận ñược chưa, nếu chưa thì Cụ có ñịnh nhận không?

- Chúng tôi chưa nhận ñược gì hết. Còn ñúng như ông nói là họ có ý ñịnh gửi cho

Bác Hồ và ñồng bào Thái Lan

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- chúng tôi thì trong trường hợp này, ông khuyên chúng tôi nên làm như thế nào?

Ngày 5/10/1959, ông Si-ra I-si Bôn, cố vấn biên tập báo A-xa-hi-sin-bun Nhật Bản phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều vấn ñề, trong ñó có việc Chính phủ Nhật Bản dự ñịnh bồi thường chiến tranh, mà phía Nhật lại chọn Việt Nam lúc ñó do Ngụy quyền Sài Gòn kiểm soát làm ñối tác. Câu hỏi và trả lời như sau:

Hỏi: Việc ñàm phán về vấn ñề bồi thường chiến tranh ñã ñược tiến hành giữa Chính phủ Nhật Bản và Việt Nam. Ngay ở Nhật Bản cũng có người chỉ trích việc ñàm phán này và tin tức cho biết Ngài không hài lòng.

Theo ý Ngài, nhân dân Nhật Bản cần ñược hiểu vấn ñề này như thế nào? Theo ý Ngài, vấn ñề này cần ñược giải quyết như thế nào mới ñúng?

Trả lời: Trong cuộc ðại chiến lần thứ hai, quân phiệt Nhật Bản ñã xâm chiếm nước Việt Nam và ñã gây ra nhiều tổn thất cho nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam. Toàn thể nhân dân Việt Nam có quyền ñòi hỏi Chính phủ Nhật Bản tiến hành ñàm phán và kí kết bồi thường chiến tranh với chính quyền miền Nam Việt Nam là không hợp pháp.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thấy rằng, việc ñòi hỏi Nhật Bản bồi thường sẽ là một gánh nặng cho nhân dân Nhật Bản. Vấn ñề cốt yếu trong quan hệ giữa hai nước không phải là việc ñòi bồi thường, mà tình ñoàn kết hợp tác giữa hai dân tộc Việt – Nhật ñấu tranh chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình là quý hơn hết.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Tài ứng khẩu của Bác 20/02/2009 GMT+7 Bác là một lãnh tụ, nhưng khi hoà mình với nhân dân, không chỉ bằng những lời giáo huấn ñơn ñiệu, mà là sự kết hợp hài hoà giữa tác phong quần chúng, những lời nói bình dị, dễ hiểu và khả nǎng gây cười , sự dí dỏm tự nhiên.

Phản xạ, ứng ñáp nhanh nhạy trước mọi tình huống ở Bác có nét ñặc trưng riêng, ñã trở thành thói quen phù hợp với từng ñối tượng tiếp nhận, thích ứng với mọi hoàn cảnh xung quanh. ðó là kết quả của một trí tuệ mẫn tiệp của thái ñộ, phong cách quần chúng. Bác luôn tạo nên một không khí hoà ñồng, một mối liên hệ gần gũi giữa người nói, người nghe, xóa ñi những cách biệt, những suy nghĩ tự ti của người dân trước lãnh tụ và ñưa lại không khí tự nhiên vốn có giữa con người với con người. Nó không dừng lại ở nghệ thuật ứng xử mà là phản xạ tự nhiên của lãnh tụ rất nhân dân.

Một lần tại bữa tiệc do Hầu Chí Minh (người góp phần ñưa Bác ra khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch) chủ nhiệm Cục chính trị ñệ tứ chiến khu chiêu ñãi, hôm ñó có Bác và Nguyễn Hải Thần cùng dự. Nguyễn Hải Thần rất tự phụ về vốn Hán học của mình và nhân dịp này ñã ra một vế ñối: Hầu Chí Minh - Hồ Chí Minh, lương vị ñồng chí, chí giai minh (Hầu Chí Minh - Hồ Chí Minh hai vị ñồng chí, chí ñều sáng). Khi mọi người còn ñang nghĩ vế ñáp, thì Bác ứng khẩu: Nhĩ cách mệnh ngã cách mệnh, ñại gia cách mệnh, mệnh tất cách (Anh cách mạng tôi cách mạng, mọi người cách mạng, mạng phải cách).

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Chỗ khó và hay của vế ñối là hai chữ chí và minh là tên của hai nhân vật chính trong bữa tiệc, cái tài tình của vế ñáp của Bác là vừa kịp thời, hợp cảnh và chuẩn chỉnh cả ý lẫn từ nhưng nâng tầm nhận thức, tư tưởng cao hơn, mang tính cách mạng hơn. Hầu Chí Minh hết lời ca ngợi người ñối ñáp ñối tuyệt lắm, tuyệt lắm. Nguyễn Hải Thần cung kính thốt lên: Hồ Tiên sinh, tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục. Năm 1946 Bác sang Pháp, người phụ trách làm hộ chiếu xin phép Bác làm thủ tục. Bác vui vẻ nói: Chú cứ hỏi, Bác trả lời ñầy ñủ. ðến câu thân sinh Bác là gì? Bác cười, trả lời hóm hỉnh: Bác là Hồ Chí Minh thì, ông cụ thân sinh là... Hồ Chí Thông!. Mọi người nhìn nhau cười vui vẻ. Một lần có nhà báo nước ngoài hỏi Bác: Có phải Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc không?. Bác trả lời: Ông cứ ñến ông Nguyễn Ái Quốc mà hỏi. Lần khác nhà báo nước ngoài xin phỏng vấn Bác, ông ta ñặt câu hỏi: Thưa Chủ tịch, trước hoạt ñộng ở nước ngoài, vào tù ra khám, nay làm Chủ tịch nước. Chủ tịch thấy có thay ñổi trong ñời mình không? Bác trả lời hóm hỉnh: Không, không có gì thay ñổi cả, lúc bị tù ở Quảng Tây luôn luôn có hai lính gác giải ñi, lúc trong tù mỗi ngày 5 phút ñược hai người lính bồng súng dẫn ra dạo chơi. Nay làm Chủ tịch nước ñi ñâu cũng có hai ñồng chí mang súng lục ñi theo, ông thấy có gì thay ñổi không nào? Lần khác, Bác lên tàu ñàm phán với ðô ñốc ðác-giăng- li-ơ ở Vịnh Hạ Long, khi gặp, Bác chủ ñộng ôm hôn ðô ñốc, các ñồng chí ñi theo thắc mắc, Bác nói: ðánh nhau thì ñánh nhau, mình ôm hôn nó một cái có mất gì. Hôm sau báo chí ñưa ảnh và bình luận: Hồ Chủ tịch ôm hôn ðô ñốc chính là ôm chặt ñể bóp chết...

Năm 1946, trên ñường từ Pháp về Việt Nam ñến vùng biển Cam Ranh, Bác nhận ñươc bức ñiện của ðô ñốc ðác-giăng-li-ơ xin gặp Bác trong cảng, mục ñích của chúng là giễu võ dương oai ñể uy hiếp tinh thần Bác. Trong bộ quần áo giản dị Bác ngồi giữa một bên là ðô ñốc hải quân Pháp, bên kia là Thống soái lục quân Pháp ở Viễn ñông với những bộ quân phục sáng loáng các thứ bội tinh, quân hàm, quân hiệu. ðác giăng-li-ơ giọng mỉa mai bóng gió: Thưa ông Chủ tịch ông ñã ñược ñóng bộ khung rất ñẹp của hải và lục quân ñó. Bác thản nhiên mỉm cười: ðô ñốc biết ñó, giá trị là ở bức họa chứ không phải bộ khung. Chính bức họa ñem lại giá trị cho bộ khung. Bất ngờ và cay cú trước tài ứng xử thông minh của Bác, cả hai không dám nói xách mé nữa mà tỏ ra rất lịch lãm và kính phục. Khi bàn về quy ñịnh các phù hiệu ñi lại trên xe của ủy ban liên hiệp thi hành Hiệp ñịnh Giơ-ne-vơ, phía Pháp ñề nghị trên xe có hai lá cờ một bên của ta một bên của Pháp, còn phía dưới là cờ chính quyền Bảo ðại. Việc ñược hỏi ý kiến Bác. Bác bảo cứ chấp nhận ñi rồi sẽ có những diễn biến lý thú. ðúng như Bác nói, khi xe ñi ñến ñâu dân cũng chế giễu lá cờ ăn theo ngoại bang. Chuyện tếu lan khắp nơi 3 cột 3 cờ có ý nhạo báng cờ Bảo ðại. Bọn bù nhìn ngụy quyền phản ñối ñòi thay ñổi. Ta lấy cớ, ñó là ý của Pháp nêu ra.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, có một cán bộ cao cấp nước ngoài khi ñứng trước hàng quân cứ nói thao thao bất tuyệt nào là chê ta cái này cái nọ, cứ yêu cầu làm theo họ thế này thế kia. Bác nghe, rất bực nhưng không nói gì. ðến giờ nghỉ, cùng ngồi uống nước Bác giới thiệu ñồng chí Hoàng ðạo Thuý trước ñây là hướng ñạo sinh, nay là cán bộ phụ trách công tác thông tin của quân ñội. Vị cán bộ nọ hết sức thắc mắc vì sao lại giao một nhiệm vụ quan trọng như thế cho một hướng ñạo sinh, Bác bảo: Nước chú khác, nước chúng tôi khác. Ông ta chắc hiểu ý Bác.

ðầu năm 1950, Chính phủ Liên Xô mở tiệc chiêu ñãi trọng thể Chủ tịch nước láng giềng của ta. Hôm chiêu ñãi có mời Bác ñến dự. Khi chuyện trò Bác hỏi ñồng chí Liên Xô: Các ñồng chí ñã ký hiệp ước với nhau, nhân dịp tôi ở ñây chúng ta cùng ký một hiệp ước với nhau. Chuyến ñi của Bác lúc ñó là ñi bí mật, nên ñồng chí Chủ tịch trả lời Bác là: Người ta sẽ nói ñồng chí ở ñâu ñột ngột ñến thì không tiện. Bác trả lời: Cái ñó dễ thôi, ñồng chí cho một chiếc máy bay, ñưa tôi bay một vòng trên trời, sau ñó cho người ra ñón, rồi quay phim chụp ảnh ñưa tin là ổn. Năm 1967 Liên Xô quyết ñịnh tặng Bác huân chương Lênin. Nếu Bác từ chối không nhận thì không thuận cho quan hệ ngoại giao. Bác vốn xưa nay chưa bao giờ nhận huân chương, lần này Bác có cách từ chối khéo. Bác viết thư chỉ xin hoãn việc trao huân chương, chờ khi nào giải phóng hoàn toàn Tổ quốc lúc ñó Bác sẽ thay mặt nhân dân Việt Nam, nhận huân chương cao quý ñó. Hôm sau các báo ở Liên Xô ñăng trang trọng trên trang nhất quyết ñịnh tặng huân chương của Bác. Qua ñó nhân dân Liên Xô càng yêu quý Bác hơn. Nhớ lần Bác ñến thăm một nông trường ngoại ô Ki-ép, Bác ñi xuống nơi công nhân ñang lao ñộng, thấy Bác ăn mặc giản dị ai cũng quý, cũng muốn ñến gần. Khi ñó có một cô công nhân ñứng cạnh Bác mạnh dạn hỏi: Thưa Bác, cháu trộm nghĩ một mình Bác chắc không tiêu hết lương Chủ tịch nước? Bác nhẩm tính và vui vẻ trả lời: Thế tính ra lương cháu gấp ñôi lương Bác ñấy.

Hồi kháng chiến chống Pháp, Bác thường ñi xuống thăm các ñơn vị cơ sở. Một lần ñi thăm xưởng quân giới Lê Tổ. Bác trả lời các câu hỏi của anh chị em ngắn gọn dễ hiểu. Có người hỏi, khi nào thì ñồng tiền Việt Nam trở lại giá trị như khi nó mới có, Bác trả lời: Khi các cô các chú tăng gia sản xuất tăng hai lần thì nó trở lại hai lần tăng ba lần nó trở lại ba lần. Có người hỏi, ðảng ta sắp ra công khai, vậy Bác có ra không, tên thật Bác là gì? Khi nói ñến Bác có ra không? Cả hội trường cùng cười. Bác nói: ðấy, cười là trả lời rồi ñấy. Tên thật Bác là Bác. Có câu hỏi: Khi nào thì Bác có Bác gái? toàn thể reo cười, Bác trả lời: Khi nào có thì Bác sẽ trả lời. Câu hỏi tiếp: Phụ nữ các nước dân chủ họ làm gì ạ? Bác trả lời: Họ cũng lao ñộng tăng gia sản xuất, và học hát, các cô các thím thua họ ở chỗ học hát... Năm 1948, nhân ngày phong ðại tướng cho ñồng chí Võ Nguyên Giáp, Bác vui vẻ ra câu ñối Giáp phải giải Pháp. Các vị có mặt gặp thế bí vì câu vế ñối nói lái này gói gọn ý ðại tướng Giáp phải giải giáp ñược thằng Pháp. Ông Tôn Quang Phiệt nhìn Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến ñọc vế ñối Hiến tài, hái tiền Bác khen vế ñối hay, ñạt cả ý lẫn lời, nên Bác tặng tác giả một quả cam. Sau một cuộc họp lớn, giữa trưa hè nắng ñẹp, mọi người ñề nghị ra sân chụp chung ảnh với Bác, mọi người ñứng ñâu vào ñấy cả rồi, thợ ảnh cứ chạy bên này bên kia chọn góc chụp, Bác ñứng cạnh nhà thơ Tú Mỡ Bác nói vui:

Hồ Chủ tịch chào cờ tại Bến Ngự, 20/10/1946.

Bác Hồ về thăm nhà máy ðèn Bờ Hồ (21/12/1954).

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- - Chú chụp nhanh không thì tất cả bọn này thành Tú Mỡ cả. Mọi người ñược phen cười vui vẻ. Bác vừa nói theo nghĩa tiếng Pháp (Tout là tất cả, mỡ là mồ hôi) vừa theo nghĩa tiếng ta, ngụ ý dí dỏm, vui vẻ. ðồng chí Nguyễn ðăng Bảy, thời kỳ kháng chiến là phóng viên nhiếp ảnh thông tin Trung ương, khi chụp ñược một số ảnh của Bác, anh em bàn ñưa ra trưng bày triển lãm. Hôm ñó Bác tình cờ vào xem. ðồng chí ñang hý hoáy trang trí, Bác hỏi: Chú treo ñược bao nhiêu bức ảnh tất cả?. ðồng chí Bảy trả lời Bác là ñược tất cả 20 tấm ạ, Bác nói: Hơn chứ, chú ñếm lại xem thử. ðồng chí ñếm ñi tính lại cũng chỉ có 20. Lúc ấy, Bác cười, chỉ vào mình và nói: Còn ñây là chiếc thứ 21 chứ. Hôm khai mạc lớp chỉnh huấn có vui văn nghệ. Có ñồng chí xung phong lên ñọc thơ của Huy Cận, Bác hỏi vui: Cái tác thật (tác giả bài thơ) có ở ñây không? Nhà thơ Huy Cận thưa có. Thế thì mời tác thật lên ñọc thơ của mình cho nó thật hơn. Sau Bác hỏi: Có chú nào dân tộc Mường lên hát một bài tiếng Mường cho mọi người thưởng thức. Có ñồng chí xung phong ñọc bài thơ lục bát tiếng Kinh, ñọc lơ lớ bỏ hết dấu, Bác bảo ñấy không phải tiếng Mường.

Bác ñến thăm nhà chị Loan (người kéo cờ ở quảng trường Ba ðình ngày 2-9) ở chiến khu vào ñến nhà thấy ñông con nhỏ, Bác nói vui? Ồ tưởng ñây là nhà cô Loan, hóa ra mình vào nhầm nhà trẻ. Biết Bác phê bình khéo, chị gượng cười vả báo cáo: Thưa Bác ñây là tiểu ñội của vợ chồng cháu ñấy ạ, Bác vui vẻ bảo chị tập trung tiểu ñội, cứ lần lượt bé nhất ñứng trước ñể Bác chia kẹo, chị ñang loay hoay sắp xếp ñội hình, Bác bảo: Tiểu ñội trưởng cũng ñứng vào hàng chứ. Bác chia kẹo cho các cháu và cho cả chị nữa. Khi ñến lượt chị, Bác nói vui: Bác khen là cô ñã có công nuôi dạy các cháu ngoan.

Nhớ lần Bác ñến thăm một gia ñình cán bộ, thấy ba cháu gái xinh xắn ra chào Bác, Bác hỏi vợ chồng chủ nhà tên các cháu là gì, chị chủ nhà thưa Bác tên các cháu là Thu Thuỷ, Thu Thảo, Thu Vân, Bác cười hiền lành và nói: Sao ñặt văn chương: thế, gọi là Thu Ngô, Thu Sắn, Thu Khoai có hay không. Khi ra về Bác bảo Nói vui thế thôi, chứ những tên Việt Nam ấy rất ñẹp. ðồng chí Tạ Quang Bửu sinh cháu trai ñầu lòng, Bác có chai mật ong, Bác gửi tặng cháu, tự tay Bác viết nhãn hiệu tặng cháu Quang. Thời gian sau, Bác ghé vào thăm nhà ñồng chí Bửu, Bác gọi âu yếm Thằng Quang ñâu? Thằng xã xệ ñâu ra ông bế nào. Rồi Bác chụp ảnh với cháu và không quên gửi tặng ảnh cho cháu.

Một lần ñến dự cuộc họp Trung ương thấy một cô gái ñứng cạnh ñường, chào Bác, Bác hỏi, cháu ñứng ñây làm gì, ñược biết cô là lính bảo vệ, Bác hỏi vui: Thế cháu bảo vệ Bác thì ai bảo vệ cháu?. Có lần Bác ñến thăm một ñịa phương, ñồng chí Bí thư tỉnh ủy ñứng lên thưa với Bác, có câu: Thưa Bác Hồ, vị cha già dân tộc, Bác ngoảnh lại nói với mọi người: Bác chưa già ñâu. Buổi ñó Bác ñược tặng ba bó hoa, Bác hỏi ñồng chí Bí thư: Theo chú thì Bác nên tặng hoa cho ai? ðồng chí trả lời Bác? Thưa Bác, Bác tặng cho phụ nữ, thanh niên. Bác cười và nói vui: Phụ nữ, thanh niên không tặng Bác thì thôi... Bác xuống sân tặng một cụ già cao tuổi nhất, một cháu thiếu nhi và cho bộ ñội.

Lần Bác tiếp các anh hùng quân ñội, Bác hỏi: Chú nào hạ ñược nhiều máy bay nhất? Thưa Bác ñồng chí Cốc ạ. Mọi người ñồng thanh trả lời. Bác gọi: Chú Cốc lên ñây Bác bắt tay. Bác nói: Năm nay mong chúng ta có nhiều Cốc hơn nữa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các ñại biểu dự ðại hội chiến sĩ thi ñua và cán bộ gương mẫu toàn quốc ngày 1/5/1952.

ðến thăm ñại hội chiến sỹ thi ñua toàn quốc, Bác ñến gần một cô gái và hỏi: ðơn vị cháu có mấy người trong ñoàn? Cô gái lúng túng trả lời: Thưa Bác, chỉ một mình cháu ñược ñi thôi ạ, Bảc dí dỏm: Thế ñơn vị cháu nhiều người tiêu cực thế à, chỉ ñược một mình cháu? Một ñoàn cán bộ vào gặp Bác, Bác mời ăn kẹo, nhưng ai cũng nghe Bác nói chuyện chứ không muốn ăn, thấy thế Bác bảo: Không ai ăn kẹo thì Bác cho mang về. Lúc ñó Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên; hóm hỉnh nói: Bác cho ta ñưa cả về, Bác cười vui nói ngay: Bác cho ñưa kẹo về, ñĩa phải ñể lại Bác còn tiếp khách chứ.

Nhớ lần ñi dã ngoại bữa ăn mang theo có thịt bò, ñến bữa ăn ñồng chí Vũ Kỳ chỉ vào ñĩa thịt, hỏi ñồng chí bảo vệ: ðố biết là thịt gì? ðồng chí này trả lời là thịt bò, ñồng chí Vũ Kỳ hỏi tiếp: Nhưng mà thịt bò gì chứ? ðồng chí bảo vệ ñang băn khoăn chưa kịp trả lời, ñồng chí Vũ Kỳ nói tiếp: ðây là thịt bò rừng, loại này ñặc biệt lắm, người ta không bắn ñược nó mà phải dùng muối bỏ vào bẫy rồi mới bắt ñược nó. ðang lúc lúng túng lại nghe kể có vẻ ly kỳ nên ñồng chí bảo vệ chăm chú lắng nghe, tưởng như thật. Thấy vậy, Bác vỗ vai vừa cười, vừa hỏi: Thế Bác ñố chú một cân sắt nặng hơn hay một cân bông nặng hơn. Nghe Bác ñố, lúc ñầu ñồng chí ñịnh trả lời là cân sắt nặng hơn, nhưng nhìn ánh mắt vui vẻ của Người, ñồng chí bình tĩnh cân nhắc khi trả lời là nặng bằng nhau. Bác nói ñùa vui: Cân sắt chắc nặng hơn chứ như muốn nói thịt bò nào mà chẳng giống nhau, cái chính là phải trả lời dứt khoát ñể khỏi người ta vặn vẹo, quanh co.

Một lần ñến thăm ñơn vị bộ ñội, ñi ñường xa trời nắng, nhưng tới nơi Bác ñi thǎm anh em ngay, Bác ñến thăm nơi ăn chốn ở, thăm nơi sinh hoạt văn hóa, thấy tờ báo tường viết câu Hồ Chủ tịch muôn năm kẻ ñẹp nắn nót nhưng không có dấu, Bác bảo vui: Ừ ñúng Bác ñi mệt, Hồ Chủ tịch muốn nằm, rồi Bác hỏi: Sao viết không có dấu người ñọc có thể ñọc sai ý. Có ñồng chí trả lời Bác là thêm dấu nó mất ñẹp ñi, Bác nói: Các chú viết ñẹp nhưng chưa ñúng nên mất ñẹp ñi ñấy, chữ Việt ta rất ñẹp khi ñúng, ñủ dấu càng ñẹp hơn. Lần ñến thăm xã Sài Sơn, thấy tấm biển treo trên trụ sở Việt Minh xã có dòng chữ không dấu TRU SO VIET MINH Bác liền ñọc... Sô viết mình, rồi Bác bảo các chú

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- viết thế ai mà ñọc ñúng ñược. Tấm biển ñược thêm dấu nên rõ ràng hơn, ai mới biết chữ cũng ñọc ñược. Bác vào thăm nông trường Sông Hiếu, cùng ñi với ñồng chí giám ñốc vào trung tâm nông trường, Bác chỉ câu khẩu hiệu viết không dấu, Bác hỏi: ... LAM TRA NOI SONG là gì? ðồng chí thưa Bác câu khẩu hiệu là Hưởng ứng chiến dịch Lam Trà nổi sóng. Bác bảo: Thế thì chú phải cho một người ñứng ñây ñể ñọc dịch câu khẩu hiệu ñó chứ. Khi Bác thăm xong nông trường thì câu khẩu hiệu cũng ñược sửa xong. Lần Bác ñi qua nhà máy cơ khí Gia Lâm, ñến trước cổng nhà máy thấy dòng chữ to chạy dài trên cổng nhà máy NHA MAY CO KHI GIA LAM, Bác bèn ñọc: Nhà máy có khỉ già lắm. Bác phê bình chữ viết phải có dấu ñể người ñọc khỏi nhầm.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bác Hồ thích ăn món gì nhất 10/02/2009 GMT+7 Nhiều người quan tâm ñến sinh hoạt ñời thường của Bác Hồ ñã có lúc ñặt ra câu hỏi ấy. Mới xem qua, dường như nó chẳng có ý nghĩa gì mấy, bởi nó riêng tư, mỗi người ñều có sở thích riêng của mình, khẩu vị và thị hiếu là vấn ñề không thể bàn cãi!

ðúng như vậy. Nhưng tìm hiểu sở thích lao ñộng của một người cũng là một hướng tiếp cận tính cách con người ñó, càng cần thiết hơn khi ñó là một vĩ nhân.

Cũng như mọi người, có món ăn Bác Hồ rất thích, nhiều món ăn ñược, có món không thích. Ví dụ qua bữa cơm với bà Thanh ñược kể lại, ta biết cậu Thành từ nhỏ không ăn ñược tỏi.

Bác Hồ kiểm tra bữa ăn của cán bộ cơ sở

Nét nổi bật là vị Chủ tịch nước ñầu tiên của chúng ta lại rất thích ăn các món ăn dân dã như mắm, cà dầm tương, canh chua ăn với rau chuối thái ghém,…

Có lần, trong kháng chiến chống Pháp, ñồng chí Chủ tịch Liên khu IV Lê Viết Lượng có gửi lên Việt Bắc biếu Bác một lọ cà dầm mắm. Bác rất thích ăn. Ngày ñó, Bác vẫn thường ăn chung với các nhân viên phục vụ của mình. Có bữa bận phải ăn sau, Bác dặn:

- Các cô chú cứ ăn thịt cá, ñể phần Bác món cà dầm mắm.

Ở rừng, thỉnh thoảng vẫn thiếu rau. Bác bảo:

- Ta thiếu rau nhưng nhiều mít, cô Mai (vợ bác sĩ Chánh) làm món nhút ăn cho ñỡ xót ruột.

Chị Mai thú thực không biết làm. Bác lại bày cho cách làm nhút từ quả mít xanh. Có lẽ trong các món mang hương vị quê hương, Bác thích nhất món cá bống kho lá gừng. Hôm nào ñồng chí Cần, cấp dưỡng của Bác, làm món ăn ñó, Người thường ăn hết, ñể món thịt lại.

Có lần Bác ñược mời ñi nghỉ tại Liên Xô. Bạn cho ăn toàn những món ñặc sản vào loại tuyệt hảo. Bỗng một hôm Bác bảo: “Mình nhớ món cá bống kho lá gừng quá!”. Một chuyện thật ñơn giản, nhưng trong hoàn cảnh ñó thực hiện lại không dễ. Nấu ở nhà nghỉ thì không ổn, hơn nữa bạn lại rất sợ mùi nước mắm. Kho ở sứ quán rồi mang vào, lại sợ bạn biết sẽ phật ý. Cuối cùng, nhờ sự trổ tài khéo léo của ñồng chí Vũ Kỳ trong việc giới thiệu các món ăn cổ truyền của dân tộc, món cá bống kho lá gừng ñã ñược thực hiện.

Ở Việt Bắc, hôm nào có ñiều kiện ăn tươi, Bác lại bảo: ra gọi cô Cúc (vợ ñồng chí Phạm Văn ðồng) và cô Mai vào trổ tài cho Bác cháu mình thưởng thức. Chị Mai làm món gà rút xương, thịt băm trộn nấm hương nhồi ñùi gà, ñem hấp. Chị Cúc làm món bít-tết. Bác khen ngon, vì làm rất công phu. Bác nhận xét:

- Gia vị ñối với món ăn Việt Nam rất quan trọng. Thiếu gia vị, món ăn sẽ giảm hương vị ñi rất nhiều.

Coi trọng nội dung, Bác cũng nhắc nhở cần chú ý ñến cả hình thức trình bày. Hồi ở Việt Bắc, có lần ñi công tác, buổi trưa, Bác cháu dừng lại bên bờ suối nấu ăn. Bác bảo: các chú nấu cơm, ñể Bác rán trứng cho. Bác làm rất thạo. Trứng rán xong mà cơm chưa chín. Bác lấy que sắt nung trên than hồng rồi ñặt lên khoanh trứng thành những hình quả trám rất ñẹp. Anh em cười thán phục. Bác bảo:

- Khi có ñiều kiện làm cho ngon hơn, ñẹp hơn thì ta cứ làm chứ các chú!

Ngày 16/6/1957, Bác ñi thăm ðồng Hới (Quảng Bình). Trong bữa cơm trưa có ñủ các món ñặc sản của ðồng Hới: mắm tôm chua, rau muống chẻ, cá thu kho,… Bác cháu vừa ăn vừa trò chuyện. Bác chỉ tay sang bác sĩ Nhữ Thế Bảo nói ñùa:

- Bác sĩ khuyên mọi người ăn chín, uống sôi, còn bản thân bác sĩ thì lại ăn rau muống sống hơi nhiều quá ñấy!

Bác Hồ cùng phái ñoàn Chính phủ thăm Liên Xô (Ảnh chụp năm 1955)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Mọi người cười vang. Bữa ăn ngon lành càng thêm vui vẻ.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Bữa cơm gia ñình 29/01/2009 GMT+7 Khoảng cuối năm 1951, trong một lần ñến thăm và nói chuyện với học viên lớp chính trị của quân ñội ở Việt Bắc. Bác bảo anh Phương – chồng tôi là cán bộ phụ trách lớp.

- Chiều nay, chú cho Bác ăn bữa cơm, vì nói chuyện xong, tối, Bác còn phải ñi họp với một chi bộ ở ðịnh Hóa.

- Bấy giờ tôi cũng làm văn thư ở Hiệu bộ, nên anh Phương cử người nhắn tôi chuẩn bị.

Công việc của Bác xong xuôi, Bác về ñến cơ quan thì cơm nước cũng ñã sẵn sàng. Sinh hoạt ở rừng còn thiếu thốn, kham khổ. Anh em muốn “bồi dưỡng” cho Bác, ñể Bác khỏe, nhưng lại sợ. Nhưng rồi cũng quyết ñịnh thịt một con gà “tăng gia” kiếm ít măng rừng làm cơm mời Bác.

Bác ngồi vào bàn ăn, bảo anh Văn (ðại tướng Võ Nguyên Giáp), hai vợ chồng tôi và ñồng chí cảnh vệ cùng ăn. Tôi cứ một mực từ chối:

- Thưa Bác cháu ăn rồi. Mời Bác và các anh, các chú xơi cơm ñi…

Mãi sau, Bác mới ñồng ý và bắt ñầu dùng cơm. Vào bữa cơm Bác nói:

- Cô cho Bác xin quả ớt.

Tôi ngại quá, bèn nói thật:

- Thưa Bác, chúng cháu sợ Bác ăn ớt có hại sức khỏe nên không dám cho vào măng nấu ạ.

Bác quay sang anh Phương:

- Chắc chú lệnh cho cô văn thư chứ gì. Thế là chú quan liêu rồi…

Anh Văn chỉ tủm tỉm cười nói thêm:

- Ớt là “vi-ta-min-ơ” của Bác ñấy.

Bữa cơm của Chủ tịch nước giản dị, vui vẻ, thân mật như bữa cơm trong một gia ñình ấm cúng.

Bữa cơm hàng ngày của Bác Hồ và các chiến sỹ cảnh vệ tại hang Bòng, xã Tân Trào, Sơn Dương

Bác Hồ tại Việt Bắc.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- (năm 1950).

Cơm nước xong Bác hỏi tôi:

- Cô thư ký ñược mấy cháu, tên là gì?

Anh Phương ñỡ lời tôi:

- Thưa Bác, ñược ba cháu gái ñặt tên là Thu Thủy, Thu Thảo, Thu Vân.

Bác cười hiền từ, nói:

- Tôi có hỏi chú ñâu! Sao ñặt tên “văn chương” thế!

Gọi là “Thu Ngô, Thu Khoai, Thu Sắn” có hay không?

Mọi người cùng cười vui vì biết Bác liên hệ với phong trào tăng gia sản xuất, trồng thêm màu ngô, khoai, sắn… sản xuất nhiều lương thực ñóng thuế nông nghiệp, nuôi bộ ñội ñánh giặc, mà Chính phủ mới phát ñộng.

Lát sau, Bác lại bảo:

- Bác nói vui thế thôi. Những cái tên Việt Nam ấy rất ñẹp.

Chưa kịp nghỉ ngơi, Bác ñã chuẩn bị lên ñường, Bác ñeo balô ñi trước, hai ñồng chí cảnh vệ, anh Văn tiếp bước sau Bác. Mới ñông mà sương chiều Việt Bắc ñã xuống rất nhanh tụ thành những ñám mây lụa mỏng trắng bìa rừng.

Chúng tôi nhìn theo Bác, ung dung, khoan thai như ñi dạo cảnh thiên nhiên hùng vĩ, ngỡ ngàng như vừa ñược qua một giấc mơ ñẹp trong một bữa cơm gia ñình.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH”

– Ban Tuyên giáo Trung ương)

“Lịch sử” ba bộ quần áo của Bác 27/01/2009 GMT+7 Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai bộ quần áo ñược anh em giúp việc ñặt tên là “bộ kháng chiến”, “bộ kaki vàng”.

“Bộ kháng chiến” ñược may từ khi Bác lên Việt Bắc và Bác ñã mặc suốt trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Bác Hồ ñi công tác ở chiến khu Việt Bắc

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Bộ quần áo kaki của Bác Hồ mặc trong ngày 2/9/1945.

Ngoài hai bộ trên, Bác còn một bộ quân phục màu xanh, một bộ lụa Hà ðông màu gụ. Mùa rét, Bác mặc bên trong một áo len, khoác ngoài một áo “ba-ñờ-xuy” chiến lợi phẩm dài quá ñầu gối, quà của một ñơn vị tặng Người. Trong chiến dịch Biên giới 1950, khi ñến thăm thương binh, thấy một chiến sĩ bị mất máu nhiều, rét, Bác ñã cởi chiếc “ba-ñờ-xuy” này ñắp lên người ñồng chí ñó.

Trên chiếc áo quân phục có một miếng mạng ở vai áo phải, “kỷ niệm” một ñầu nhọn chiếc ñinh ñòn gánh của một cụ già dân công phục vụ chiến dịch Biên giới, qua suối, trượt chân ngã ñã làm toạc vai áo Bác.

Thường khi ñưa áo ñi giặt, Bác nhắc:

- Giặt xong các chú xem áo có chỗ nào sờn thì sửa lại cho Bác, ñừng ñem nhờ các cô ở cơ quan. Các cô hãy còn bận nhiều việc, ñể dành thì giờ cho các cô chăm sóc dạy dỗ các cháu nhỏ…

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Bác tặng khăn quàng 19/01/2009 GMT+7 ðầu năm 1964, ñồng chí Xu-pha-nu-vông và ñồng chí Kay-sỏn Phom-vi-hẳn sang Hà Nội thăm Bác.

Hai ñồng chí và Bác gặp nhau, tình cảm Lào – Việt vô cùng thắm thiết. ðồng chí Xu-pha-nu- vông ôm chặt Bác, hai bàn tay Hoàng thân vỗ nhẹ vào lưng Bác một hồi lâu.

Gió mùa ñông bắc mới về lùa hơi lạnh vào phòng khách. Thấy Bác húng hắng ho, ñồng chí Kay-sỏn nói:

- Bác không ñược khỏe?

Bác lảng sang chuyện khác:

- Ở Lào không rét như ở Việt Nam. Các ñồng chí có lạnh lắm không? Sao hai ñồng chí lại không choàng khăn cổ?

- Thưa, hôm sang Hà Nội, trời còn ấm…

Bác ñứng dậy mở tủ lấy ra hai khăn quàng mới, rồi nói:

- ðồng chí Xu-pha-nu-vông và tôi là người già, nhiều tuổi, mỗi người một khăn quàng mới…

Bác tháo chiếc khăn ñang quàng, ñưa ñồng chí Kay-sỏn:

Hồ Chủ tịch ñang ñàm ñạo với Chủ tịch Kay-xỏn Phôm-vi- hản-Chủ tịch ðảng NDCM Lào, Chủ tịch nước CHDCND

Lào.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- - Bác trao khăn này ñể ñồng chí Kay-sỏn quàng.

Trên ñường về, ñồng chí Xu-pha-nu-vông nói:

- Chà, Bác với tôi mỗi người một khăn mới. Mới như nhau.

ðồng chí Kay-sỏn thì gật gật ñầu:

- Còn tôi, tôi “kế thừa” chiếc khăn quàng của Bác…

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Người Công giáo ghi ơn Bác Hồ 16/01/2009 GMT+7 Ngày 12/6/1987, tại Hội thảo khoa học “Bác Hồ với Huế - Huế với Bác Hồ” do Thành ủy Huế tổ chức nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày Bác Hồ về thăm ðồng Hới - Quảng Bình, lúc ñó thuộc tỉnh Bình - Trị - Thiên, linh mục Nguyễn Văn Ngọc ñã kể một kỷ niệm không bao giờ quên của ñồng bào Công giáo xứ Huế về ñức bác ái bao la của Bác Hồ:

Năm 1949, Việt Minh bao vây kinh tế thành phố Huế. Linh mục Nguyễn Văn Ngọc, khi ñó, ñảm ñương công việc ruộng ñất của Nhà Chung tại giáo xứ Lương Văn, có trách nhiệm cung cấp lương thực ñể ñài thọ cho 600 linh mục, chúng sinh dòng tu nam, nữ của thành phố. Trong ñiều kiện Huế bị bao vây, linh mục không có cách nào chở ñược số lúa gạo vào thành phố cho Nhà Chung ăn tiêu.

Linh mục rất lo lắng, ñem chuyện này thưa lại với ñồng chí Quế, lúc ñó là cán bộ Việt Minh của mặt trận Thừa - Thiên - Huế, vẫn có liên lạc với giáo xứ Lương Văn. Sau một hồi suy nghĩ, ñồng chí Quế khuyên linh mục Ngọc nên viết thư xin phép Bác Hồ, ñồng chí sẽ cố gắng tìm cách chuyển giúp.

Không còn cách nào khác, linh mục Ngọc ñánh bạo viết thư lên Cụ Chủ tịch, thực lòng cũng không dám hi vọng sẽ ñến ñược với Bác Hồ trong hoàn cảnh chiến tranh, Người lại ở quá xa và bận rộn trăm công nghìn việc lớn lao của ñất nước.

Thật bất ngờ, một tháng sau, ñồng chí Quế chuyển ñến cho linh mục Ngọc một cái thiếp có chữ ký và dấu của Cụ Chủ tịch. Nội dung gồm hai ñiểm:

1. Cho phép linh mục Nguyễn Văn Ngọc ñược phép chở 9000 thúng lúa lên thành phố Huế trong vòng một tháng ñể trợ cấp cho Nhà Chung.

2. Linh mục Ngọc ñược tự do ñi lại trong tỉnh Thừa Thiên ñể coi sóc ruộng ñất của Nhà Chung, tiếp tục trồng cấy, không ñược ñể ruộng ñất bỏ hoang.

Nhờ có giấy phép ñặc biệt của Bác Hồ, linh mục Ngọc ñã hoàn thành ñược

nhiệm vụ, chở ñược lương thực lên thành phố, cứu nguy cho hơn 600 con người ñang trong cảnh nguy ngập. Ai cũng mừng rỡ và hết lòng ca tụng Bác Hồ, vị Chủ tịch có lòng bác ái mênh mông của Chúa, tất cả vì lợi ích và cuộc sống của con người, không phân biệt lương hay giáo. Bác Hồ ñúng là hiện thân của chính sách ñại ñoàn kết dân tộc, ñại ñoàn kết tôn giáo.

ðể kỷ niệm và ghi ơn Bác Hồ, vị giám mục người Pháp ñịa phận Huế ñã gửi tấm thiếp của Người về Pa-ri và hiện nay tấm thiếp ñó vẫn ñang ñược trang trọng lưu trữ tại Hội Thừa Sai Pa-ri.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH”

– Ban Tuyên giáo Trung ương)

HL

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bác Hồ với Cụ Huỳnh Thúc Kháng “Dân ta có Cụ Hồ quả là hồng phúc” 14/01/2009 GMT+7 Vào cuối năm 1945, sau hai lần nhận ñược ñiện mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng từ Huế ñã ra Thủ ñô Hà Nội. Gặp nhau, hai người ứa nước mắt.

Bác Hồ nói: Việc mời Cụ ra nhậm chức Bộ trưởng Nội vụ là ý kiến chung của tất cả anh em các ñảng phái, chứ không phải ý kiến riêng của tôi, vì Cụ ở lại trong nước, Cụ biết rõ trình ñộ tiến bộ của ñồng bào ba kỳ, ñồng thời ñồng bào ba kỳ ñều tín nhiệm Cụ.

Cụ Huỳnh nói: “Tôi ra ñây là cốt gặp Cụ, chớ lúc này là lúc cần tăng gia sản xuất mà tôi không biết cầm cày, cầm cuốc; lại cần phải kháng chiến mà tôi lại không mang súng nổi. Cụ nên kiến nghị người trẻ thạo việc ñể trao nhiệm vụ thì hơn”.

Sau nhiều lần trao ñổi, cuối cùng cụ Huỳnh Thúc Kháng ñã nhận lời tham gia Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh ñứng ñầu.

Tại cuộc họp ñầu tiên của Quốc hội ngày 2/3/1946, khi giới thiệu danh sách Chính phủ Liên hiệp ñể Quốc hội thông qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày:

“Bộ Nội vụ: một người ñạo ñức danh vọng mà toàn quốc dân ai cũng biết: Cụ Huỳnh Thúc Kháng”.

Sau ñó cụ Huỳnh lại ñược cử làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Gọi tắt là Hội Liên Việt).

Sáng ngày 31/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội ñi Pháp ñể mở cuộc ñàm phán chính thức với chính phủ Pháp. Sân bay Gia Lâm hôm ấy ñông nghịt người ra tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh ñi một vòng chào các ñại biểu và ñồng bào. ðồng bào vẫy cờ, vỗ tay hoan hô và chen lấn nhau ra phía trước ñể ñược nhìn rõ Người.

Sắp ñến giờ lên máy bay, Bác tới nắm tay cụ Huỳnh nói:

- Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải ñi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng với anh em giải quyết cho. Mong Cụ

“dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái không thay ñổi ñể ñối phó với muôn sự thay ñổi).

Cụ Huỳnh rất cảm ñộng, cầm tay Bác hồi lâu, Bác ñã ủy nhiệm cụ Huỳnh làm Quyền Chủ tịch nước trong thời gian Bác ñi vắng.

Quyền Chủ tịch Chính phủ Huỳnh Thúc Kháng (người mặc áo dài ñen ñứng giữa) cùng

Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố (người mặc áo dài ñen bên phải) và

Hội trưởng Tổng hội Cứu tế Việt Nam Ngô Tử Hạ (người mặc áo dài ñen bên trái) về thăm và

làm việc với cán bộ lãnh ñạo tỉnh Vĩnh Yên (8/1946)

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, có lúc cụ Huỳnh Thúc Kháng cảm thấy cô ñơn, chán nản. Từ sau khi ñược gặp và hiểu rõ Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng vui mừng vì ñược gặp người bạn già tri kỷ là Hồ Chí Minh. Cụ ñã nói với một người bạn: “Dân ta có Cụ Hồ quả là hồng phúc”. Trong bài “Thất thập tự thọ”, cụ Huỳnh viết:

“Bảy tuần ñầu bạc như bông

Gặp người tri kỷ thôi xong ñã già”

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), tên thật Huỳnh Hanh - còn gọi là Minh Viên

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ñi thăm nước Pháp, cụ Huỳnh ñã có bài thơ ca ngợi Người:

“Tung hoành bể Sở với non Ngô

ðàm lược ai hơn Chủ tịch Hồ

Mưa gió dãi dầu bao tuế nguyệt

Nước non gây dựng nổi cơ ñồ

Sen kia chẳng ngại hôi bùn lấm

Tùng nọ bao phen ngọn gió xô

Khắp cả ba kỳ ñều tín nhiệm

Rộn ràng muôn miếng tiếng hoan hô”.

Giải thích về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Pháp Hiệp ñịnh Sơ bộ ngày 6/3/1946, cụ Huỳnh nói:

“Hội ñồng Chính phủ không bán nước!... Tôi xin tuyên bố vắn tắt với anh em, ñó chẳng qua là một nước cờ của Hồ Chủ tịch với cả nước Pháp lẫn Tưởng Giới Thạch. Hồ Chủ tịch là một tay cao cờ. Tôi chắc chắn và anh em cứ ñinh ninh rồi ñây thế nào mình cũng thắng thế”.

Trước ngày cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ngày 3/11/1946, báo cáo trước Quốc hội về việc thành lập Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Cụ Huỳnh, vì tuổi già sức yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy ñại nghĩa mà lưu Cụ, Cụ cũng cố gắng ở lại.

Sau ñó, Cụ Huỳnh ñược Bác cử ñi kinh lý miền Trung và miền Nam Trung Bộ với danh nghĩa ñại diện Chính phủ Trung ương. Cuối năm 1946, khi về thăm quê hương Tiên Phước, cụ Huỳnh tâm tình với bà con: “Tôi ñã vào loại sáng nhưng cụ Hồ lại sáng hơn tôi nhiều. Cụ Hồ có những người giúp việc thông minh lắm, giỏi lắm, tin tưởng lắm. Cụ Hồ rất vĩ ñại, dưới có ñội ngũ giúp việc tài năng, nhất ñịnh sẽ ñưa dân tộc ta ñến toàn thắng. Ở Hà Nội, Hồ Chủ tịch tiết kiệm lắm. Mỗi bữa cơm, cụ Hồ chỉ dùng có một quả trứng…”.

ðầu năm 1947, với danh nghĩa Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, cụ Huỳnh viết bức thư dài bằng chữ Hán (thể phú) nhan ñề: “Kính cáo ñồng bào phụ lão kháng chiến thư”.

Nói về Hồ Chủ tịch và Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bức thư có ñoạn (theo bản dịch của Nguyễn Văn Hạp…):

“Người thân yêu, kính mến nhất của ñồng bào quốc dân ta là Hồ Chí Minh tiên sinh. Là bậc yêu nước ñại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng ñại chuyên gia, chân ñi khắp năm châu, mắt trông xa vạn dặm…”.

ðầu tháng tư năm 1947, tại Quảng Nam, trong một buổi nói chuyện với các thân hào nhân sĩ, có người lên tiếng hỏi cụ Huỳnh:

“Tôi thuở nay nghe biết tên nhiều nhà cách mạng hoạt ñộng trong nước cũng như ở nước ngoài. Nhưng chưa từng nghe tiếng ông Hồ Chí Minh. Vậy Hồ Chí Minh là ai?”.

Cụ Huỳnh trả lời:

“Ông Hồ Chí Minh là con cụ Phó bảng Sắc ở làng Nghệ An, suýt soát lớp ông và tôi. Ông Hồ hoạt ñộng chính trị ở nhiều nước Âu, Á, Phi và hoạt ñộng bí mật, tất nhiên là thay ñổi tên họ luôn luôn ñể tránh mạng lưới mật thám quốc tế. Nhưng cái tên làm chấn ñộng thế giới là Nguyễn Ái Quốc. Chắc ông biết, nhiều người biết”.

Cụ Huỳnh nhận xét: “Ông Hồ không phải như nhiều người khác mượn hai tiếng cách mạng ñể rồi làm giàu hoặc làm quan to như các ông tưởng ñâu. Ông Hồ không ñồng xu dính túi. Nói về bằng cấp thì ông Hồ không là tiến sĩ, phó bảng gì cả. Nhưng nói về tri thức và sự nghiệp cách mạng thì chắc chắn lớp chúng ta cũng như lớp trước chúng ta không ai bì kịp.

Sự hiểu biết của ông Hồ rất xa, rất rộng, chẳng những việc trong nước mà cả việc thế giới nữa. Nước này tương lai sẽ ñi về ñâu? Nước kia rồi ñây sẽ như thế nào? Ông nói rất rành rọt, mạch lạc, nghe không chán”.

Bác Hồ ñối với cụ Huỳnh như ñối với người thân. Nhiều chi tiết nhỏ trong mối quan hệ giữa Bác và Cụ ñã nói lên ñiều này. Có một chai tương Nam ðàn do bà Nguyễn Thị Thanh (chị gái của Bác) ñem ra làm quà, Bác cũng mời cụ Huỳnh ñến dùng cơm ñể cùng thưởng thức hương vị quê hương xứ Nghệ. Lại có lần nhân dân Thái Bình gửi biếu hai chai mắm tôm ñặc sản, Bác cũng viết thư gửi biếu Cụ một chai. Cả trong chuyện thường ngày giữa hai người cũng hóm hỉnh thân tình. Có một lần vào năm 1946, gặp Bác, cụ Huỳnh ứng tác hai câu thơ “nhắc nhở”:

Năm mươi sáu tuổi vẫn chưa già

Cụ ông thấy, Cụ bà không?

Lúc ấy Bác chỉ cười, nhưng rồi trong thời gian sang Pháp, bên cạnh những bức ñiện văn gởi về hỏi tình hình và thăm cụ Huỳnh, Bác còn có riêng một bài thơ gửi Cụ:

Nghĩ rằng ra thơ ñể trả lời

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Nhớ ơn Cụ lắm cụ Huỳnh ơi

Non sông một mối chung nhau gánh

ðộc lập xong rồi cưới vợ thôi.

Tháng 4/1947, cụ Huỳnh bị ốm nặng. Từ Quảng Ngãi, trên giường bệnh, ngày 14/4/1947, Cụ Huỳnh ñọc cho người thư ký riêng của mình ghi bức thư gửi Hồ Chủ tịch:

“Kính gởi Hồ Chủ tịch

Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp ñộc lập và dân chủ, nay nước ñã ñộc lập, chế ñộ dân chủ ñã thực hiện, thế là tôi chết hả.

Chỉ tiếc không ñược gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu ñể dìu dắt quốc dân trên ñường vinh quang hạnh phúc.

Chào vĩnh quyết”.

Rất thương tiếc và ñau buồn, Chủ tịch Hồ Chí Minh ñã viết thư cho ñồng bào cả nước:

“Gửi toàn thể ñồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế

Hỡi ñồng bào yêu quý,

Vị chiến sĩ lão tiền bối Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân vừa tạ thế.

Trước sự ñau xót ñó, Chính phủ ta ñã ra lệnh làm Quốc tang.

Nhân dịp này, tôi có vài lời báo cáo cùng ñồng bào.

Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, ñạo ñức rất cao. Vì lòng yêu nước, mà trước ñây Cụ bị bọn thực dân làm tội, ñầy ra Côn ðảo. Mười mấy năm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh, chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết.

Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.

Cả ñời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả ñời cụ Huỳnh chỉ phấn ñấu cho dân ñược tự do, nước ñược ñộc lập.

ðến nay nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, Chính phủ ta mời Cụ ra. Tuy ñã hơn 71 tuổi, nhưng Cụ vẫn hăng hái nhận lời. Cụ nói: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc”.

Nay chẳng may Cụ Huỳnh sớm tạ thế, trước khi ñược thấy kháng chiến thành công.

Cụ Huỳnh tuy tạ thế nhưng cái chí vì nước, vì nòi của cụ vẫn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu ñồng bào chúng ta.

Hỡi ñồng bào yêu quý,

Chúng ta thương tiếc cụ Huỳnh vô cùng. Nhưng chúng ta không nên thương tiếc bằng cách than khóc rầu rĩ. Chúng ta thương tiếc Cụ bằng cách: càng ñoàn kết chặt chẽ, càng hăng hái kháng chiến; bằng cách: theo gương dũng cảm, noi chí quật cường của Cụ; bằng cách: hoàn thành sự nghiệp cứu nước, cứu dân mà Cụ ñã ra sức ñeo ñuổi suốt ñời. Chúng ta phải ñồng thanh thề trước tiên linh của cụ Huỳnh rằng:

ðồng bào Việt Nam quyết theo gương kiên quyết của Cụ.

Con Rồng cháu Tiên quyết không làm nô lệ.

Tinh thần kháng chiến của cụ Huỳnh sống mãi.

Việt Nam thống nhất và ñộc lập muôn năm!

Ngày 29 tháng 4 năm 1947 Hồ Chí Minh”

Ngày 3/5/1947, phóng viên các báo Việt Nam ñi thăm mặt trận X, may mắn lại ñược gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ñến thăm mặt trận ñó. Nhắc ñến Huỳnh Bộ trưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rơi nước mắt mà nói rằng:

“Cụ Huỳnh là một nhà cách mạng rất kiên quyết, trung thành. Cụ mất là một ñiều thiệt thòi lớn cho dân tộc, cho Tổ quốc ta. Nhưng tôi tin chắc rằng sẽ có hàng vạn hàng ức ñồng bào theo gương dũng cảm vì nước vì dân của cụ Huỳnh”.

Nhân ngày giỗ ñầu của cụ Huỳnh, Người có ñiện thăm hỏi ñến gia ñình.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- “ðiện gửi gia ñình cố Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng

Gửi gia ñình Huỳnh Bộ trưởng,

Nhân ngày giỗ ñầu cố Bộ trưởng, thay mặt Chính phủ, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Cụ và xin gửi gia ñình Cụ lời chào thân ái và quyết thắng. Ngày 21 tháng 4 năm 1948 Hồ Chí Minh”

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Vừa ñẹp vừa ñỡ chói mắt ñồng bào 14/01/2009 GMT+7 Năm 1956, Bác Hồ ñón một vị Tổng thống tại khu vườn Phủ Chủ tịch. Một số công nhân Nhà máy ñèn Hà Nội ñược Bác “mời vào mắc ñèn ñiện trên các cành cây giúp Bác”.

Anh em làm việc suốt ngày, ròng dây dẫn ñiện lắp ñèn nhiều loại màu sắc trên ngọn, trên cành trong các lùm cây.

Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Bác ra vườn thăm anh em. Bác nói:

- Các chú bật ñèn lên cho Bác xem ñi.

Sau khi ñóng cầu dao, những bóng ñèn ñiện bỗng vụt hiện lên, lung linh như trong một hội hoa ñăng. ðồng chí tổ trưởng công nhân ñiện mời Bác ñi xem và kiểm tra.

Bác chú ý từng ngọn ñèn, từng ñoạn dây dẫn ñã an toàn chưa, gật ñầu tỏ ý hài lòng.

ðến một ñèn pha chiếu sáng ñặt dưới một gốc cây, Bác dừng lại nói:

- Ngọn ñèn này phải ñể khuất trong lùm cây, vừa ñẹp vừa ñỡ chói mắt ñồng bào ñi qua ñường.

Bác nhanh nhẹn bước tới ngọn ñèn. ðồng chí tổ trưởng Dương Văn Hậu lo Bác vấp ngã vì ñôi guốc mộc dưới chân Bác ñi trên ñường rải sỏi, chạy vội ñến:

- Bác ñể chúng cháu làm.

Nhưng Bác ñã cúi xuống, rất “nghề nghiệp”, hai bàn tay bưng lấy thân ngọn ñèn pha dấu vào một lùm cây ñinh hương.

Ngọn ñèn pha mới ñược ñặt, ñẹp hẳn lên, người ngoài nhìn vào không bị chói mắt, mà chỉ thấy những tia sáng chiếu qua các kẽ lá hắt lên một màu xanh dịu.

Lần sau, anh em nhà máy ñiện Hà Nội lại ñược ñến Phủ Chủ tịch mắc ñèn dây ñể Bác tiếp khách.

Rút kinh nghiệm lần trước, lần này anh em làm khác hẳn lối treo ñèn cũ, như ñể thưa với Bác “phải luôn luôn ñổi mới, không ngừng phát huy sáng kiến” – như lời Bác dạy.

Anh em ñặt một dây ñèn màu từ dưới gốc cây dừa nước lên ngọn rồi tỏa ra các cành, mỗi cành một ñèn màu khác nhau. Ở các thân cây có quả ñèn màu trắng, cành cây ñèn màu xanh, gần quả, một chùm ñèn nhỏ màu ñỏ. Chếch hai bên ñặt hai ñèn pha dấu trong lùm cây hắt nghiêng lên.

Như lần trước, vừa chập tối, Bác ñã ñến trước khách, thăm anh em công nhân ñiện và kiểm tra. Bác khen:

- Lần này các chú mắc ñẹp ñấy. Chắc khách quý của chúng ta cũng sẽ khen…

Bác lấy thuốc lá chia cho anh em công nhân ñiện mỗi người một ñiếu (sau này ñược biết là thuốc lá thơm Cu-ba do Thủ tướng Phi ðen Cát-xtrô tặng Bác. Bác chia gần hết hộp thuốc. Một công nhân trẻ, thấy Bác vui, hộp thuốc ñã cạn, muốn có kỷ niệm về Bác, mạnh dạn thưa với Bác xin cái hộp. Bác cười và nói:

- Các chú ñã có phần rồi. Cái hộp này Bác ñể dành cho các cô ñể ñựng kim chỉ chứ!

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Bác Hồ tặng hoa phong lan các nữ chiến sĩ trong vườn

Phủ Chủ tịch

Bác Hồ cuốc ñất trồng ru trồng vườn Phủ

Chủ tịch

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Câu chuyện về 3 chiếc balô 14/01/2009 GMT+7 Trong những ngày sống ở Việt Bắc, mỗi lần Bác ñi công tác, có hai ñồng chí ñi cùng. Vì sợ Bác mệt, nên hai ñồng chí ñi cùng. Vì sợ Bác mệt, nên hai ñồng chí ñịnh mang hộ balô cho Bác, nhưng Bác nói:

- ði ñường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung ñồ vật cho một người mang ñi thì người ñó càng chóng mệt. Cứ phân ra mỗi người mang một ít.

Khi mọi thứ ñã ñược phân ra cho vào 3 balô rồi, Bác còn hỏi thêm:

- Các chú ñã chia ñều rồi chứ?

Hai ñồng chí trả lời:

- Thưa Bác, rồi ạ.

Ba người lên ñường, qua một chặng, mọi người dừng chân, Bác ñến chỗ ñồng chí bên cạnh, xách chiếc balô lên.

- Tại sao balô của chú nặng mà Bác lại nhẹ?

Sau ñó, bác mở cả 3 chiếc balô ra xem thì thấy balô của Bác nhẹ nhất, chỉ có chăn, màn. Bác không ñồng ý và nói:

- Chỉ có lao ñộng thật sự mới ñem lại hạnh phúc cho con người.

Hai ñồng chí kia lại phải san ñều các thứ vào 3 chiếc balô.

Không ai ñược vào ñây

Sách “Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử”, tập 10, do Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996, trang 334, có ñoạn: “Ngày 27 tháng 4 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe hai ñồng chí: Lê ðức Anh và Chu Huy Mân báo cáo công việc, sau ñó Người mời hai ñồng chí ở lại ăn cơm với Người”. Sáng hôm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh ñi bỏ phiếu bầu Hội ñồng nhân dân cấp huyện, xã… Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, ñơn vị 1, tiểu khu 1, khu phố Ba ðình, Hà Nội, ñặt tại Nhà thuyền Hồ Tây.

Bác Hồ ñi bỏ phiếu bầu cử Khi Bác Hồ ñến, trong Nhà thuyền ñã có nhiều cử tri ñang bỏ phiếu. Tổ bầu cử thấy Bác ñến, ra hiệu ñể ñồng bào tạm dừng và tạo “ñiều kiện” ñể Bác bỏ phiếu trước. Biết ý, Bác nói “sòng phẳng”: - Ai ñến trước, viết trước, Bác ñến sau, Bác chờ. Bác chờ cho ñến hàng mình, mới nhận phiếu và vào “buồng” phiếu. Nhà báo Ma Cường chợt nghĩ thật là “hạnh phúc một ñời của người làm báo”, “cơ hội ngàn năm có một” và vội giơ máy lên bấm, rất nhanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy tay che phiếu lại, nói với Ma Cường: - Không ai ñược vào ñây. ðây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải bảo ñảm tự do và bí mật cho công dân. Nhà báo buông máy, nhưng vẫn thấy hạnh phúc. Theo lời kể của các ñồng chí ở gần Bác, trước khi ñi bầu cử Bác không cho ai “gợi ý” cả, Bác nói:

Bác Hồ ñi công tác ở chiến khu Việt Bắc

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- - Ấy, ñừng có “lãnh ñạo” Bác nhé. Bác không biết ðảng ủy hướng dẫn danh sách ñể ai, xóa ai ñâu nhé. ðưa lý lịch của những người ứng cử ñây ñể Bác xem. Có chú nào dự buổi ứng cử viên trình bày ý kiến với cử tri, nói lại ñể Bác cân nhắc, Bác tự bầu.

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – NXBCTQG)

Tôi là người cộng sản như thế này này! 06/01/2009 GMT+7 Bác Hồ của chúng ta, từ sau khi bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba tại ðại hội Tua ðảng Xã hội Pháp ñêm 30/12/1920, thì cũng từ giờ phút ấy, Người trở thành người cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập ðảng Cộng sản Pháp. ðồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam ñầu tiên.

Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, như Người ñã nói rõ, là do trải qua thực tế ñấu tranh và nghiên cứu lý luận, Người ñã hiểu ñược rằng “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng ñược các dân tộc bị áp bức và những người lao ñộng trên thế giới khỏi ách nộ lệ”.

Trong gần 50 năm mang danh hiệu người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn, dù khi chỉ là một người thợ ảnh bình thường hay ñã trở thành vị Chủ tịch nước ñầy uy tín và danh vọng, ở buổi cách mạng thắng lợi ròn rã hay khi bị kẻ thù dồn dập phản kích, lúc nào Bác Hồ của chúng ta cũng tỏ ra là một người cộng sản kiên ñịnh, thủy chung, nghĩa khí, thắng không kiêu, bại không nản, vô cùng khiêm tốn nhưng cũng rất mực tự hào về danh hiệu người cộng sản của mình.

ðã có thời, có người nhấn mạnh quá ñáng phẩm chất siêu việt của người cộng sản, cho rằng ñó là những người có một tính cách ñặc biệt riêng, v.v… ñược cấu tạo bằng một chất liệu ñặc biệt riêng. Không biết ñó có phải là một trong những nguyên nhân ñẻ ra cái gọi là “thói kiêu ngạo cộng sản” hay không?

Có ñiều chắc chắn rằng Bác Hồ của chúng ta không tán thành cách nói thậm xưng hô ñó, nhất là vào khi ðảng cầm quyền, vào

lúc cách mạng ñang thuận lợi. Người nói: ðảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta ñều là con của giai cấp công nhân, của nhân dân lao ñộng… thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường nên ðảng ta rất vĩ ñại”.

Người ñã từng nói nhiều lần: Người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu.

“ðảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”. “Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên người họ có hơi bùn, vết bùn… Cần phải tắm rửa lâu mới sạch”. Vì vậy, Người dạy: Không phải cứ khắc lên trán hai chữ “cộng sản” là ñược nhân dân tín nhiệm ñâu; phải khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, phải nhớ mình vừa là người lãnh ñạo, vừa là người ñầy tớ của nhân dân.

Bác Hồ của chúng ta, trong cuộc ñời hoạt ñộng cách mạng ñi Âu về Á, ñã từng giáp mặt với bao gian khổ, khó khăn (hai lần ngồi tù: 1931 – 1933 và 1942 – 1943), ñã từng lĩnh án tử hình vắng mặt (năm 1929); nhưng vì tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân, tin ở chính mình, nên lúc nào Người cũng ung dung, tự tại, luôn thể hiện nhân cách cao ñẹp của người cộng sản.

Năm 1931, khi Người bị giam trong nhà ngục Vich-to-ri-a của ñế quốc Anh tại Hồng Kông hoặc khi bị bệnh phải ñưa vào nhà thương, nhiều “ông bà” người Anh có quyền thế và cả một số nhân viên người Trung Quốc ñã rủ nhau ñến xem, ý chừng họ muốn thấy mặt mũi “lạ lùng” của một người cộng sản! Cuối cùng, họ ñã bắt gặp một nhân cách lớn mà họ rất khâm phục và sẵn lòng giúp ñỡ từ ñó.

Năm 1944, tại Liễu Châu, tuy Người ñược ra khỏi ngục Quốc dân ñảng, nhưng vẫn bị quản thúc vì họ biết Người là lãnh tụ cộng sản, không muốn thả cho về nước. Bác Hồ nói thẳng với Trương Phát Khuê: “Tôi là người cộng sản, nhưng ñiều mà tôi quan tâm hiện nay là ñộc lập và tự do của nước Việt Nam”. Chính lòng yêu nước, ñức ñộ và tài trí của Bác Hồ ñã làm cho Trương cảm phục, trả lại tự do và tạo mọi ñiều kiện thuận lợi cho Người trở về Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc tại ðại hội TUA - 12/1920

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT--

Bác Hồ năm 1946

Năm 1946, ở Pa-ri, trong một cuộc họp báo, một nhà báo Pháp muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa cộng sản ñối với Bác, bằng cách ñưa ra một câu hỏi:

- Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?

Bác Hồ của chúng ta liền ñi ñến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói:

- Tôi là người cộng sản như thế này này!

ðó cũng là ñiều giúp ta có thể hiểu ñược vì sao mấy chục năm qua, thế giới có bao sự ñổi thay, Bác Hồ vẫn luôn ñược cả thế giới tôn kính và ngưỡng vọng, coi như một biểu tượng cao cả của nhân ñạo, chính nghĩa của hòa bình, một kiểu người cộng sản hài hòa giữa yêu nước và quốc tế, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa, phương ðông và phương Tây.

Có thể dẫn ra ñây một ý kiến, trong rất nhiều ý kiến của nhà báo Mỹ Sa-phơ-len, viết từ năm 1969:

“Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nếu có ai bảo ñấy là một người cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một người cộng sản khác với quan niệm chúng ta vẫn thường nghĩ; và theo tôi, có thể dùng một từ mới: Một người cộng sản phương ðông, một người cộng sản Việt Nam”.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Một lần nhớ mãi 06/01/2009 GMT+7 ðầu năm 1967 Bác về Thái Bình. Ôtô ñưa Bác ñến bến Triều Dương thì phải sang phà. Mấy ñồng chí ở Tỉnh ủy ñến ñón, một cán bộ ñịnh giới thiệu với Bác.

Bác nói:

- Thôi, thôi ñi về cho sớm.

Ca-nô mắc cạn loay hoay mãi vẫn chưa cập ñược bến.

Trời chiều, không thể ñể Bác chờ lâu nên ñành phải ñưa thuyền nan ra ñón Bác vào bờ. Bác trèo lên ñê, hỏi cô ðịnh thường vụ tỉnh ủy:

- Có còn lối nào ñi lý thú hơn nữa không?

Cô ðịnh thành thật thưa:

- Bác phải ñi xe, chứ về chúng cháu còn xa lắm.

Anh cán bộ ñi theo Bác cười:

- Bác phê bình khéo ñấy! Rồi nói khẽ “tưởng bở”.

… Về xã Tân Hòa, cán bộ ñịa phương mời Bác ngồi ghế giữa ưu tiên. Bàn kê thì chật, Bác lựa mãi mới ñứng lên ñược.

Bác mở ñầu như một vế ñối:

- Ghế ưu tiên nên người không nhúc nhích…

Anh chị em chỉ biết cười trừ.

… ðến bữa cơm, Bác giở cơm nắm ra ăn. Cô ðịnh cứ năn nỉ mãi, mời Bác dùng cơm nóng, Bác bảo:

Trong bữa cơm có bát dưa. Cô ðịnh cứ gắp mãi dưa, Bác hỏi:

- Dưa có ngon không?

Cô ðịnh nói một mạch:

- Ngon lắm ạ. Tỉnh chúng cháu năm nay trồng dưa thừa ăn còn ñem bán cho các tỉnh bạn.

Bác tủm tỉm cười:

- Dưa này không phải dưa Thái Bình ñâu. Dưa Bác ñem từ Hà Nội về ñấy…

Sau này, cô ðịnh nói: Chỉ một lần ấy mà tôi nhớ ñời. Học ñược bao nhiêu ñiều.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương

Bác Hồ thăm xã lấn biển Nam Cường, Tiền Hải, Thái Bình, tháng 3-1962

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bác Hồ với Cụ Phan Bội Châu - Bức thư Phan Bội Châu gửi Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc) 30/12/2008 GMT+7 Người cháu rất kính yêu của Bác - Hôm trước anh Lâm (ðức Thụ) và anh Hồ (Hồ Tùng Mậu) gửi lại thư của Cháu, trong thư có nói tường tận về chuyện ông Hy Mã (Phan Châu Trinh).

Tuy thư ñưa trực tiếp trên chuyện thật nhưng ngụ ý thật sâu sắc, mà lối lập luận lại dựa trên những ý tưởng lớn, nhân ñó mới biết là học vấn, tri thức của cháu nay ñã tăng trưởng quá nhiều, quả thực không phải như hai mươi năm về trước.

Nhớ lại hai mươi năm trước ñây, khi ñến nhà cháu uống rượu gò án ngâm thơ, anh em cháu ñều chửa thành niên, lúc ñó Phan Bội Châu này ñâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này. Bây giờ ñem so kẻ gì này với cháu thì bác thất rất xấu hổ. Nhận ñược liên tiếp hai lá thư của cháu, bác cảm thấy vừa buồn vừa mừng. Buồn là buồn cho thân bác, mà mừng là mừng cho ñất nước ta. Việc thừa kế nay ñã có người, người ñi sau giỏi hơn kẻ ñi trước, trên tiền ñồ ñen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai. Ngày xế ñường cùng, chỉ sợ không ñược thấy ngày ñó, làm sao bác không cảm thấy buồn cho chính mình ñược? Một ñời tân khổ, gánh vác công chuyện một mình, ñược sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ có nhiều người hưởng ứng theo. Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai ñể nhờ ủy thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có ñược niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác không cảm thấy vui mừng ñược.

Bác ñang ñịnh tìm một dịp tốt về Quảng ðông một chuyến ñể ñàm luận với cháu, không biết cháu còn ở lại Quảng ðông lâu mau, hoặc giả trong tương lai có ñịnh ñi chỗ khác không? Trong lòng bác có nhiều chuyện muốn hỏi ý kiến cháu, nhưng không gặp mặt thì làm sao có thể bàn cho hết ý ñược? Làm sao ñược? Nếu không coi già yếu là ñồ bỏ thì cháu viết thư nhiều cho bác, bác thành thật yêu cầu cháu ñấy.

Phan Bội Châu (ngồi) và Kỳ Ngoại hầu Cường ðể - nhà cách mạng Việt Nam

vào ñầu thế kỷ 20.

Cần nhắc lại là Phan Bội Châu lúc rời nước ñã gần bốn mươi (ba mươi chín tuổi ñến Nhật) lại không thể tránh khỏi những trách nhiệm này nọ ñặng chuyên chú học hành, cho nên tri thức lúc bấy giờ cũng vẫn như xưa. Cháu học vấn rộng rãi, và từng ñi nhiều nơi, hơn bác cả chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu vượt sức ño lường của bác; không biết cháu có thể chia sẻ cùng bác một hai việc? Bác rất hết sức mong ñợi, mong cháu không ngại. Vì nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm những khách tha hương than thở không ñâu cho hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã thì cũng giống Phan Bội Châu mà thôi!

Thư bất tận ngôn, mong cháu hiểu giùm cả những ý không viết thành lời. Chúc cháu bình an.

Ngày 21 tháng 1 lịch ta (14 tháng 2 năm 1925 dương lịch) viết dưới ñèn dầu.

Chỗ bác ở ñâu nơi ñất khách thì Quốc ðảng (Hồ Tùng Mậu) ñã biết nên không ghi ở ñây. Thư này nhờ Quốc ðống chuyển giúp.

BácThứ cụ

Phan Bội Châu (tên thật Phan Văn San - tự Hài Thu) 1867 - 1940

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- (theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH”

– Ban Tuyên giáo Trung ương)

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Bác Hồ với Cụ Phan Châu Trinh 02/01/2009 GMT+7 Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành với cái tên là Ba rời Sài Gòn và ngày 15/7/1911 ñến cảng Lơ Ha-vơ-rơ (Le Havre - Pháp), còn Phan Châu Trinh rời Sài Gòn ngày 1/4/1911 và ñến Pháp vào ngày 27/4 cùng năm, ngụ tại Pa-ri.

Khoảng cách giữa Lơ Ha-vơ-rơ và Pa-ri – nơi cụ Phan ñang sống – chỉ có hơn 100 cây số, ñi lại dễ dàng… Chắc chắn trong dịp này Người ñã tranh thủ ñến Pa-ri gặp cụ Phan, làm quen với những người quanh Cụ, và ñặc biệt ñể bàn bạc với Cụ về hướng sống và học tập. Và có thể không phải chỉ ñến một lần…

Có ba bức thư với thủ bút của Tất Thành mà cụ Phan còn giữ ñược ñem về nước năm 1925 và gia ñình ñã gửi ra Việt Bắc tặng Trung ương trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nay lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh… Có lẽ do yêu cầu bảo mật, các thư ñều không ñược ghi ngày tháng nhưng có thể phán ñoán bức thư sau ñây ñã ñược viết vào dịp trên. Nguyên văn như sau:

Hy Mã nghi bá ñại nhơn,

Cách ñây không tiếp ñược tôn tín, không hay Bác hành chỉ thế nào và sự thể bên ta thế nào? Và cháu muốn biết như cháu có thể bên ta thế nào? Và cháu muốn biết như cháu có thể gặp Bác trước lúc Bác ñi hay không, vì cháu rất cần một ít lời tôn hội, xin Bác trả lời liền cho cháu vì chừng trong tuần lễ cháu sẽ xuống tàu “ñi chưa biết ñâu”. Kính chúc Bác, M. Trường và em Dật và các ñồng bào yên hảo”.

C.ð* Tất Thành

10. orchard Place

Southampton England

Theo lời thư trên ñây thì: Tất Thành biết rõ tình hình cụ Phan ñang bị Bộ Thuộc ñịa ép phải ñi khỏi Pa-ri nên yêu cầu Cụ trả lời ngay ñể ñến gặp chỉ trong vòng một tuần lễ… Do ñó có thể ñoán là mặc dù ghi ñịa chỉ ở Anh nhưng lúc ñó Tất Thành không phải ở Anh mà thực ra ñang ở không xa Pa-ri, có thể ở nhà chủ tàu tại Sanh A-ñơ-ret-xơ (Saint-Adresse), ngoại ô Lơ Ha-vơ-rơ chỉ cách Pa-ri hơn một trăm cây số. Lời thăm hỏi rất thân tình về mọi người ở quanh Phan Chu Trinh lúc ñó, kể cả luật sư Phan Văn Trường nói lên họ ñã gặp gỡ nhau rồi.

Phan Châu Trinh - biệt hiệu Hy Mã (1872-1926)

Sau thư trên có thể ñã có cuộc gặp gỡ giữa cụ Phan Châu Trinh và Tất Thành tại Pa-ri trước chuyến ñi xa bằng tàu biển.

Theo phán ñoán thì thời ñó nơi dừng chân của Bác Hồ sau các chuyến ñi là cảng Lơ Ha-vơ-rơ. Vì mấy nguyên nhân: ñó là nơi dừng lâu nhất của tàu La-tút-sơ Tơ-rê-vin, có nhà của chủ tàu và nhiều bạn bè quen biết trên tàu có thể làm nơi tá túc; nơi ñó có thể lánh sang ñất Anh thuộc chính quyền Hoàng gia vốn lúc này không mấy thân thiện với Pháp (như thể hiện trong năm 1915, Chính phủ Anh không ñáp ứng yêu cầu của Pháp soát xét nơi ở của Tất Thành ñể tìm các thư phúc ñáp của Phan Châu Trinh, hoặc cả sau này, khi Chính phủ Hoàng gia ký lệnh thả Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông năm 1931…).

Cần khám phá châu Mỹ và nước Mỹ ñang thời kỳ phát triển mạnh mẽ, Tất Thành ñã lên làm việc ở một chiếc tàu ñi Nam Mỹ và Bắc Mỹ. Anh ñã dừng lại ở Niu-Yoóc, lên bờ ñể làm thêm kiếm sống, viết thư về nước nhờ tìm tin, ñịa chỉ của cha, và ñã gặp ñại diện phong trào yêu nước Triều Tiên tại Mỹ và học tập kinh nghiệm ñấu tranh của họ…

Cảng Le Havre (Pháp) - nơi Nguyễn Tất Thành ñến sau khi rời Sài Gòn

ngày 5/6/1911

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Nhưng Tất Thành không ở Mỹ lâu, trong khoảng năm 1913 Người ñã trở về Lơ Ha-vơ-rơ, cùng bàn bạc với cụ Phan và chuyển sang ở Anh, Tất Thành ñã gửi bức thư sau cho cụ Phan:

“Hy Mã nghi bá ñại nhơn,

Cháu kính chúc Bác, em Dật và ông Trang, mấy anh em ta ở Pa-ri ñều mạnh giỏi. Nay cháu ñã tìm nơi ñể học tiếng. Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và ngày tháng chỉ lo làm cho khỏi ñói chứ chẳng học ñược bao nhiêu. Cháu ao ước rằng 4,5 tháng nữa khi gặp Bác thì cháu sẽ nói và hiểu ñược tiếng Anh nhiều nhiều.

Bên ta có gì mới không? Và nếu Bác dịch xong mấy hồi rồi xin Bác gởi cho cháu. Chuyến này Bác sẽ ñi nghỉ hè ở ñâu?

Nay kính

Cuồng ðiệt Tất Thành

Crayton Court Hotel

West Ealingw

London

Câu cuối thư hỏi về vấn ñề ñi nghỉ hè theo tập quán ở Phương Tây và không nói gì ñến không khí chiến tranh, cho phép ta ñoán thời gian viết thư khoảng giữa năm 1913.

Câu “Xin gởi mấy hồi sau” của một bản dịch chắc là của tập Giai nhơn kỳ ngộ mà Tất Thành ñã ñọc “mấy hồi trước” trong một chuyến ñến thăm cụ Phan trước ñó.

Ở Anh mà làm việc với người Pháp và nói tiếng Pháp, có thể là với sự gởi gắm của bạn bè Pháp, Tất Thành ñã vào làm việc trong ê-kíp hầu hết là người Pháp của vua bếp Ê-xcốp-phi-e.

Với lời ước hẹn “4,5 tháng nữa lúc gặp Bác cháu sẽ…” có thể thấy rõ hơn trong tình hình Bác Phan khó di chuyển vì bị kiểm soát, từ Anh, Tất Thành có thể ñã có nhiều cuộc hẹn ñến gặp Bác tại Pa-ri…

Ngoài hai bức thư trên, cụ Phan còn giữ ñược một cái “các” của Cuồng ðiệt Tất Thành gửi từ một ñịa phương tên là “Xu-phơ-ra-rat” mà tập sách Hồ Chí Minh, biên niên tiểu sử xác ñịnh là ở Anh. Nội dung là một bài thơ tám câu bảy chữ nói lên cảm xúc của bản thân với tác phẩm: “Giai nhân kỳ ngộ”, Cụ Phan ñã phóng tác…

Lời cuối thật thắm thiết “Hy Mã nghi bá ñại nhơn thấu Cuồng ðiệt”.

Có một bức thư thứ tư của Tất Thành do bà Thu Trang tìm ñược bản dịch tiếng Pháp ở thư khố Ô-ñi-nô của Bộ Ngoại giao Pháp ñã dịch lại như sau:

“Kính gởi Nghị bá ñại nhơn

Tiếng súng ñã rền vang và thây người ñã phủ trên ñất. Năm cường quốc ñã vào vòng chiến và chín nước ñang ñánh nhau. Cháu chợt nhớ ñến thư cách ñây mấy tháng ñã viết về cơn giông bão này. ðịnh mệnh sẽ dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước ai sẽ thắng…

Các nước trung lập còn ñang lưỡng lự và các nước tham chiến chưa rõ ñược ý họ. Tình hình như vậy ai nhúng mũi vào thì chỉ có thể ñứng về phía này hoặc phía kia. Hình như người Nhật có ý nhúng tay vào. Cháu nghĩ trong vòng ba, bốn tháng nữa số phận châu Á sẽ thay ñổi, và thay ñổi nhiều. Mặc kệ những kẻ ñang ñánh nhau và bạo ñộng, phần chúng ta hãy cứ bình tâm.

Xin gởi lời thăm Nghi bá và em Dật. Xin trả lời cháu về ñịa chỉ sau ñây:

Nguyễn Tất Thành

Số nhà 8

Stenphen Totterham Rd. London”.

Thư trên ñược viết khi cuộc chiến ñã diễn ra ác liệt. Nhưng theo tài liệu sưu tầm ñược thì Phan Châu Trinh cùng với Phan Văn Trường ñã bị bắt ngày 14/9/1914, chỉ hơn một tháng sau khi chiến tranh bắt ñầu. Như vậy có thể là Tất Thành ñã viết thư khi chưa biết cụ Phan bị bắt và thư này ñã bị cơ quan ñiều tra lấy ñược, cho dịch và gửi cho Bộ Ngoại giao.

Ngoài ra, Báo cáo kết thúc vụ án của Dự thẩm tòa án binh Ca-ron viết rõ là “Soát nhà Phan Châu Trinh ñã lấy ñược nhiều thứ rất khả nghi trong ñó có các thư của Tất Thành ở số 8 ñường Stenphen Road – Totterham ở London, ñã gửi công hàm cho Chính phủ Anh nhờ soát nhà Tất Thành nhưng không ñược phía Anh ñáp ứng”.

Trong biên bản thẩm vấn Cao ðắc Minh với tư cách nhân chứng, Ca-ron có ñưa ra một thư và ðắc Minh ñã khẳng ñịnh ñó là thư Tất Thành trả lời cho Cụ Phan.

Trong bức thư bà Thu Trang tìm thấy ñược ở thư khố Ô-ñi-nô, Tất Thành cũng nhắc ñến thư viết về “cơn dông bão” chắc cũng ở trong số thư ñã bị lấy khi soát nhà Cụ Phan.

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Các tài liệu trên cho thấy mối quan hệ thân tình giữa Bác Hồ và cụ Phan ngay từ trong nước và sự gắn bó giữa hai vị trong những năm ñầu Người tham gia hoạt ñộng cách mạng.

NIỀM HY VỌNG CUỐI ðỜI CỦA PHAN CHU TRINH

Phan Châu Trinh là nhà yêu nước lớn của Việt Nam ñầu thế kỷ XX. Về tuổi tác, Phan Châu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù giữa hai người có sự khác nhau về phương pháp cứu nước, nhưng ñối với Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc luôn một lòng tôn kính. Trong thời gian cả hai người cùng sống ở châu Âu, Phan Châu Trinh ở Pháp; Nguyễn Ái Quốc ñã có một số lần viết thư gửi cụ Phan trong thời gian xảy ra Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc về hoạt ñộng ở Pa-ri và ñược cụ Phan Châu Trinh giúp ñỡ rất nhiều. Ở Pa-ri lúc ñó còn có luật sư Phan Văn Trường. Vào tháng 11/1919, mật thám Pháp có nhận xét về ba người như sau:

“ða số những người thông ngôn ñã nhận xét về Phan Châu Trinh là một nhà cách mạng khôn khéo, Phan Văn Trường là người ñã dịch tư tưởng của ông, còn Quốc thì là một nhà nho cộng sự của hai người trên, ít ai biết”.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ñời sống ở Pháp rất khó khăn, vất vả. Phan Châu Trinh lúc ấy ñã thành thạo nghề thợ chữa ảnh. Mỗi tháng Cụ kiếm ñược ñộ 100 quan, nên ñã giúp ñỡ Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn Ái Quốc ñược Khánh Ký và cụ Phan Châu Trinh trợ giúp ñể sinh sống. Nhiều mật báo ñã gửi về cho Bộ Thuộc ñịa Pháp cho biết:

“ Quốc ở nhà của Phan Văn Trường. Sinh sống thì do Khánh Ký và Phan Châu Trinh cấp dưỡng, mỗi tháng không quá 500 Francs”.

Ở Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc có tham gia vào việc chuyên chữa ảnh tại xưởng chữa ảnh của Phan Châu Trinh ñể có thêm tiền tiêu dùng.

Ngoài việc giúp ñỡ nói trên, trong thời gian ñầu, cụ Phan Châu Trinh còn giúp ñỡ Nguyễn Ái Quốc làm quen với những người bạn Pháp.

Tài liệu thư khố cho biết, những người bạn Pháp có cảm tình với Phan Châu Trinh thì cũng trở thành bạn của Nguyễn Ái Quốc. Cụ Phan Châu Trinh ñã giới thiệu những người Pháp mà Cụ biết chắc chắn có cảm tình với Việt Nam ñể những người này có thể giúp ñỡ Nguyễn Ái Quốc như Giu-lét Ru, Ma-rin Ma-tel, nhà báo Bác-buýt.

Bác-buýt là người ñã vận ñộng Hội Nhân quyền ñể cứu Phan Châu Trinh thoát án tử hình sau vụ chống thuế 1908.

Ru là nhà Việt Nam học, vào năm 1914, khi cụ Phan Châu Trinh bị bắt ñã vận ñộng ráo riết, tìm cách chứng minh cụ Phan Châu Trinh vô tội.

Ma-tel từng chống ñối chính sách hà lạm, ñộc ác của thực dân Pháp ở ðông Dương.

Nhờ cụ Phan Châu Trinh giới thiệu, Nguyễn Ái Quốc ñã trở thành bạn của những người nói trên.

Cùng có nhiệt tình yêu nước, cùng có trách nhiệm ñối với nhân dân nhưng phương pháp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và cụ Phan Châu Trinh lúc ñầu không hoàn toàn giống nhau. Cụ Phan Châu Trinh muốn giữ cương vị của mình là một nhà chí sĩ yêu nước không ñảng phái… còn Nguyễn Ái Quốc thì ñến với học thuyết Mác-Lênin. Và sau nhiều thất bại, khi ñã cảm thấy mình bất cập với thời thế, trong một bức thư ñề ngày 18/2/1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pa-ri, cụ Phan Châu Trinh ñã chân thành bộc bạch: Tôi tự ví thân tôi như con ngựa già hết nước kiệu, phi nước tế. Thân tôi tựa như chim lồng, cá chậu. Vả lại, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn. Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả, may ra có tỉnh giấc hồn mê…

Và ở cuối thư, cụ Phan Châu Trinh vui mừng viết rằng Nguyễn Ái Quốc “như cây ñương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông”. Cụ Phan Châu Trinh tin rằng “không bao lâu nữa cái chủ nghĩa Anh tôn thờ (ý chí chủ nghĩa Mác – Lênin) sẽ thâm căn cố ñế (sâu rễ bền gốc) trong ñám dân tình chí sĩ nước ta”.

Năm 1925, cụ Phan Châu Trinh về nước và sớm qua ñời vào năm 1926. Trong thời gian ñó, những ñánh giá và niềm tin ñối với Nguyễn Ái Quốc của Phan Châu Trinh vẫn nguyên vẹn. Cụ Phan thổ lộ với các ñồng chí của mình như Lê Văn Huân, Huỳnh Thúc Kháng trước khi Cụ qua ñời rằng “Sự nghiệp ñộc lập nước nhà trông cậy vào Nguyễn Ái Quốc”. Câu nói này cũng ñược nhắc lại với lớp người cách mạng trẻ như Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt… khi tìm ñến hỏi Cụ về vận mệnh của ñất nước.

Trong mọi trường hợp, thái ñộ tôn kính của Nguyễn Ái Quốc ñối với cụ Phan Châu Trinh là ñiều dễ hiểu. Trong tác phẩm Những mẩu chuyện về ñời hoạt ñộng của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên cho biết tình cảm của Nguyễn Tất Thành ñối với cụ Phan Châu Trinh, khi Anh vui mừng viết thư cho bạn bè: “Tôi ñã gặp nhà ái quốc Phan Châu Trinh”. Sau này, khi ñã trở thành Chủ tịch nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhớ lại cụ Phan, Người viết: “Cụ Phan Châu Trinh mở trường học, bí mật truyền bá chủ nghĩa yêu nước và công kích bọn cầm quyền Pháp. Vì vậy, Cụ bị kết án tử hình, nhưng ñược Hội Nhân quyền Pa-ri cứu”.

Tình cảm của Nguyễn Ái Quốc ñối với cụ Phan Châu Trinh rất sâu sắc khi Cụ qua ñời (1926). Nguyễn Ái Quốc trân trọng ñúng mức tinh thần yêu nước của cụ Phan Châu Trinh, ñánh giá cao ảnh hưởng của Cụ ñối với phong trào cách mạng của ñất nước. Nguyễn Ái Quốc viết : “Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, một người thuộc phái quốc gia khác vừa qua ñời. 30.000 người An Nam ở khắp xứ Nam Kỳ ñã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nước ñã

ðám tang cụ Phan Châu Trinh năm 1926

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- tổ chức lễ truy ñiệu nhà chí sĩ. Chỉ trong vòng vài ba ngày, một cuộc lạc quyên ñã thu ñược 100.000 ñồng. Tất cả học sinh, sinh viên ñều ñể tang Cụ.

Trước phong trào yêu nước của toàn dân, bọn thực dân Pháp sợ hãi, bắt ñầu phản công lại. Chúng cấm học sinh ñể tang và tổ chức lạc quyên. Chúng cấm tổ chức lễ truy ñiệu, v.v… ñể phản ñối lại, học sinh ñã bãi khóa…”.

Ở tác phẩm Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam, Nguyễn Ái Quốc nhắc lại phong trào cả nước ñể tang cụ Phan Châu Trinh.

“Năm 1926, có một sự thức tỉnh trong toàn quốc tiếp theo sau cái chết của một nhà quốc gia chủ nghĩa già – Phan Châu Trinh. Khắp trong nước ñều tổ chức lễ truy ñiệu. Chữ “chủ nghĩa quốc gia” từ ñó ñược nói và viết một cách công khai. Những giáo viên Pháp tìm cách ngăn cấm học sinh tham gia các cuộc mít-tinh ñó. Nam nữ học sinh ở nhiều trường, ñặc biệt là ở Sài Gòn là nơi tổ chức ñám tang, ñã tuyên bố bãi khóa. 20.000 người ñi theo linh cữu, mang biểu ngữ viết những khẩu hiệu có tính chất quốc gia chủ nghĩa. Người An Nam chưa hề ñược chứng kiến một việc to lớn như vậy bao giờ trong lịch sử.

(*) Cð.: Cuồng ñiệt: người cháu hăng say

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi hội nghị Véc-xây 26/12/2008 GMT+7 Tháng 6 năm 1919, nghe tin các ñoàn ñại biểu mười mấy nước ðồng minh chiến thắng họp ở Véc-xây cách thủ ñô Paris 14 ki- lô-mét, Nguyễn Tất Thành bàn với nhà yêu nước Phan Châu Trinh và luật sư, tiến sĩ Phan Văn Trường viết bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Véc-xây.

Nhà yêu nước họ Phan trịnh trọng nói:

- Bảy ñiều yêu sách mà anh Thành nêu ra, theo tôi thật là xác ñáng và ñúng như bọn mình thường trao ñổi với nhau. Chú Trường xem nên có thêm ñiều gì không?

- Tôi thấy thế là tốt… Thử xem còn vấn ñề gì về quyền của nhân dân ta cần ñòi… - Văn Trường nói và gõ nhẹ vào trán mình theo thói quen của ông khi cần suy tính một ñiều gì.

- Thưa hai bác – Tất Thành lên tiếng – Hôm trước cháu phác thảo ra 7 ñiều yêu sách ñưa hai bác xem, nhưng ñêm hôm qua cháu mới nảy thêm một ý. Cháu thấy rằng ở ðông Dương, bọn quan lại chỉ dựa vào các sắc lệnh của tên toàn quyền ñể cai trị dân ta mà không hề có luật. Cháu muốn ñưa thêm một yêu sách nữa: “Thay thế chế ñộ sắc lệnh bằng chế ñộ luật pháp”.

- ðúng! ðúng! Luật sư họ Phan sôi nổi hưởng ứng. Muốn cho dân ta có tự do thì phải ñòi họ cai trị theo luật pháp!

- Tôi cũng tán ñồng! Phan Châu Trinh nói như kết luận buổi gặp mặt. Bây giờ ta làm thế nào ñể chuyển bản Yêu sách tới Hội nghị Véc-xây ñây!

Tất Thành:

- Thưa bác, cháu nghĩ rằng phải nhờ bác Phan Văn Trường viết ngay ra bằng tiếng Pháp thì mới kịp.

Hai ngày sau, Nguyễn Tất Thành ñã ngồi bên luật sư Phan Văn Trường, trước bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” vừa thảo xong bằng chữ Pháp.

- Chúng ta sẽ ñứng tên dưới bản yêu sách này như thế nào ñây? Bác ñứng tên nhé. Nguyễn Tất Thành nêu ý kiến.

- Không! Phan Văn Trường ñáp – bản Yêu sách này tuy là tôi chấp bút viết ra bằng tiếng Pháp. Nhưng tôi phải viết chỉ vì anh chưa thông thạo Pháp văn mà thôi, chứ sáng kiến lớn lao này của anh, và hầu hết ý kiến nêu ra trong bản Yêu sách cũng là của anh.

- Thưa bác, sáng kiến của cháu cũng chỉ là phản ánh nguyện vọng chung của những người yêu nước chứ có phải của riêng cháu ñâu. Bác là một nhân vật có danh tiếng, bà con Việt kiều trên ñất Pháp ñều biết bác là một luật sư yêu nước dám bênh vực công lý, che chở cho bà con. Bác ñứng tên cho bản yêu sách này thì giá trị của nó càng cao, ảnh hưởng của nó càng rộng.

- Không! Không thể ñược! Tôi tuy có chút danh vọng hơn anh ngày nay, nhưng cái tâm, cái chí của anh còn lớn hơn tôi nhiều. Vả lại về nguyên tắc, người trí thức không ñược phép lấy công người khác làm công của mình: “Cái gì của Xê-da thì phải trả lại cho Xê-da”. ðó mới là lẽ phải. Chẳng những tôi không thể ñứng tên, mà bác Hy Mã Phan Châu Trinh cũng không nên ñứng tên.

Cuộc trao ñổi giữa hai nhà yêu nước ñi tới kết luận dùng một cái tên gì tiêu biểu cho nguyện vọng chung của nhân dân, nhưng phải là một tên cá nhân thì tính chất pháp nhân của văn bản mới có giá trị. Cuối cùng anh Nguyễn quyết ñịnh tự mình ñứng mũi chịu sào với cái tên chung cho tấm lòng của mọi người. Anh ký:

Năm 1911, thanh niên Nguyễn Tất Thành ra ñi tìm ñường cứu nước

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Thay mặt cho những người yêu nước Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc Ngay buổi chiều hôm ấy, sau khi bản Yêu sách ñược gửi ñi, anh Nguyễn rời khỏi nhà số 8 ñường Vi-la ñê Gô-bơ-lanh, nơi anh vẫn ở với luật sư Phan Văn Trường. Anh sống bí mật, ñề phòng sự truy lùng ráo riết của bọn mật thám Bộ Thuộc ñịa Pháp.

Vào buổi sáng sớm có người ñến bấm chuông căn nhà số 6, phố ðô-bi-nhi. ðây là nhà của Giuyn Căm-bông, ñại sứ cũ của Pháp ở ðức, hiện là thành viên của ñoàn ñại biểu Pháp ñi dự Hội nghị Véc-xây. Giơ-nơ-vi-e-vơ Ta-bu-i, cô cháu gái trẻ của Căm-bông ra mở cửa. Sau này cô là một nhà báo nổi tiếng, nhưng lúc bấy giờ cô là thư ký của cậu cô. Người bấm chuông là một thanh niên châu Á, mảnh khảnh, có khuôn mặt cởi mở, dễ mến, ñôi mắt to, sáng long lanh. Anh lịch sự chào cô và nói bằng thứ tiếng Pháp không sõi:

- Tôi muốn trao cho ngài ñại sứ Căm-bông một văn kiện.

- Giơ-nơ-vi-e-vơ mời khách ñến sớm vào nhà rồi ra hiệu cho khách ngồi xuống cạnh chiếc bàn dài chạm trổ theo kiểu ñế chế. Chiếc bàn này hiện nay vẫn kê trong phòng khách gia ñình Ta-bu-i. Cô gái hỏi người thanh niên này là ai?

- Thưa cô, tôi là Nguyễn Ái Quốc, tôi muốn gặp ngài Căm-bông.

Chàng thanh niên lấy ra một cuốn giấy buộc bằng dây mảnh. Anh mở ra và trao cho cô gái.

- Tôi ñến ñây ñể trao cho ngài ñại sứ “bản trần tình” của nhân dân ðông Dương.

Có thể thấy ngay là những tờ giấy trong cuộn giấy viết bằng một thứ chữ rất ñẹp. Tờ ñầu tiên là bức thư gửi cho chủ nhà:

Thưa ngài ñại sứ Căm-bông, ñại diện toàn quyền của nước Pháp tại Hội nghị Véc-xây. Tôi là người ñại diện cho nhân dân ðông Dương. Chúng tôi là một dân tộc chậm phát triển, chúng tôi ñã ñược biết thế nào là nền văn minh của nước Ngài…”.

Tài liệu mà người thanh niên châu Á mang ñến có tên là “Bản yêu sách của nhân dân An Nam”. Bản Yêu sách viết:

“Trong khi chờ ñợi nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc ñược thừa nhận thực sự, nhân dân An Nam trước kia, nay là xứ ðông-Pháp, xin trình bày với các quý Chính phủ ðồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp ñáng kính nói riêng những yêu sách khiêm tốn sau ñây:

1. Tổng ân xá cho những người bản xứ bị án tù chính trị; 2. Cải cách nền pháp lý ở ðông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng ñược quyền hưởng những ñảm bảo về mặt pháp luật như

người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án ñặc biệt dùng làm công cụ ñể khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận; 4. Tự do lập hội và hội họp; 5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; 6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; 7. Thay thế chế ñộ ra sắc lệnh bằng chế ñộ ra các ñạo luật; 8. ðoàn ñại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp ñể giúp cho Nghị viện biết ñược những

nguyện vọng của người bản xứ.

Vài ngày sau, các ñoàn ñại biểu khác tham gia Hội nghị và nhiều nghị sĩ Pháp cũng nhận ñược bản yêu sách tương tự như vậy. Kèm theo bản yêu sách có bức thư ngắn:

“Thưa ngài! Nhân dịp chiến thắng của ðồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi ñến Ngài kèm theo ñây bản ghi những yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở sự ñộ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ bản yêu sách này trước những người có thẩm quyền.

Thay mặt nhóm những người An Nam yêu nước: Nguyễn Ái Quốc”.

Người ta nhiều lần bắt gặp người thanh niên Việt Nam kiên trì này với tập giấy tờ cặp dưới nách tại các hành lang ồn ào, mù mịt khói thuốc của các ban biên tập báo ở Pa-ri, trong các gian phòng chật chội do các công ñoàn và ñảng Xã hội thuê ñể tổ chức các cuộc họp và mít tinh.

anh Văn Ba phụ bếp trên tàu

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Lu-i Ác-nu, Trưởng ban ðông Dương của Sở Mật thám Pháp, sau này là Chánh mật thám Pháp ở ðông Dương, nhún vai khi nghe báo cáo về hoạt ñộng của một người nào ñó tên là Nguyễn Ái Quốc và về nội dung một “tài liệu chống Pháp” ñang ñược người ñó phân phát khắp nơi. Do nghề nghiệp ñòi hỏi, Ác-nu hầu như biết rất rõ mọi người An Nam khả nghi sống ở Pa-ri, ñược báo cáo tỉ mỉ về bước ñi của “những kẻ chủ mưu gây bất an” từ ðông Dương sang. Một trong những người ñó là Phan Châu Trinh, mở một hiệu ảnh và thực tế ñã ngừng hoạt ñộng chính trị. Vả lại, hành ñộng “khiêu khích” như vậy vốn không phải là Phan Châu Trinh, vì ông lúc nào cũng có thái ñộ kính nể nước Pháp. Một người khác là luật sư Phan Văn Trường, cũng sống ở Pa-ri, ñược coi là một nhà mác-xít, nhưng chỉ là người dịch sách báo chính trị ra tiếng Việt và không bao giờ tham gia làm những việc như vậy. Chỉ còn một người duy nhất trong số những nhân vật quan biết cũ của Sở Mật thám dám cả gan làm việc này là Phan Bội Châu. Nhưng Ác-nu biết chắc chắn Phan Bội Châu ñang ở một nơi nào ñó tại miền Nam Trung Quốc, hơn nữa, mới ñây ông ta có cho ñăng một bài báo, lờI lẽ rất ôn hòa có lợi cho chủ trương hợp tác Pháp-Việt.

Cả Ác-nu kẻ có con mắt cú vọ, nhòm ngó khắp nơi, thậm chí cả những người bạn gần gũi của người yêu nước trẻ tuổi ñã cả gan cất lên tiếng nói bảo vệ nhân dân bị áp bức của mình ngay giữa trái tim của bọn ñế quốc Pháp cũng không biết ñược và cũng không thể ngờ vào lúc ñó rằng, Nguyễn Ái Quốc – tác giả bản Yêu sách, anh Văn Ba, người phụ bếp trên tàu biển, người con trai quan Phó bảng duy nhất ở làng Sen, cậu bé ham hiểu biết Nguyễn Tất Thành – cũng chỉ là một người mà thôi.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

năm 1911

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- “Con ñường dẫn tôi ñến chủ nghĩa Lênin" 26/12/2008 GMT+7 Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tôi làm thuê ở Pa-ri, khi thì làm cho một cửa hàng phóng ñại ảnh, khi thì vẽ “ñồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa” (do một xưởng của người Pháp làm ra!). Hồ ñó, tôi thường rải truyền ñơn tố cáo tội ác bọn thực dân Pháp ở Việt Nam.

Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ ñại ñã giải phóng ñồng bào mình; trước ñó, tôi chưa hề ñọc một quyển sách nào của Lênin viết.

Tôi tham gia ðảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy - hồi ñó tôi gọi các ñồng chí của tôi như thế - ñã tỏ ñồng tình với tôi, với cuộc ñấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Còn như ñảng là gì, công ñoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu.

Hồi ấy, trong các chi bộ ðảng Xã hội, người ta bàn cãi sôi nổi về vấn ñề có nên ở lại trong Quốc tế thứ hai, hay là nên tổ chức một Quốc tế hai rưỡi, hoặc tham gia Quốc tế thứ ba của Lênin? Tôi dự rất ñều các cuộc họp một tuần hai hoặc ba lần. Tôi chăm chú nghe những người phát biểu ý kiến. Lúc ñầu, tôi không hiểu ñược hết. Tại sao người ta bàn cãi hăng như vậy? Với Quốc tế thứ hai, hoặc thứ hai rưỡi, hay thứ ba, thì người ta cũng ñều làm ñược cách mạng cả, sao lại phải cãi nhau? Và còn Quốc tế thứ nhất nữa, người ta ñã làm gì với nó rồi?

Các ðảng viên ðảng xã hội Pháp tuần hành ủng hộ quốc tế thứ III với khẩu lệnh

VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC LIÊN HIỆP LẠI !.

ðiều mà tôi muốn biết hơn cả - và cũng chính là ñiều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp là: vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc ñịa?

Trong một cuộc họp, tôi ñã nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất ñối với tôi. Có mấy ñồng chí ñã trả lời: ðó là Quốc tế thứ ba, chứ không phải Quốc tế thứ hai. Và một ñồng chí ñã ñưa cho tôi ñọc Luận cương của Lênin về các vấn ñề dân tộc và thuộc ñịa ñăng trên báo Nhân ñạo.

Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ ñọc ñi ñọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu ñược phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm ñộng, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng ñến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như ñang nói trước quần chúng ñông ñảo: “Hỡi ñồng bào bị ñày ñọa ñau khổ! ðây là cái cần thiết cho chúng ta, ñây là con ñường giải phóng chúng ta!”.

Từ ñó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.

Trước kia, trong các cuộc họp chi bộ, tôi chỉ ngồi nghe người ta nói; tôi cảm thấy người nào cũng có lý cả, tôi không phân biệt ñược ai ñúng ai sai. Nhưng từ ñó tôi cũng xông vào những cuộc tranh luận. Tôi tham gia thảo luận sôi nổi. Mặc dù chưa biết ñủ tiếng Pháp ñể nói hết ý nghĩ của mình, tôi vẫn ñập mạnh những lời lẽ chống lại Lênin, chống lại Quốc tế thứ ba. Lý lẽ duy nhất của tôi là: Nếu ñồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu ñồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc ñịa thì ñồng chí làm cách mạng gì?

Lênin và những ngày ñầu cách mạng

BBỘỘ MMÔÔNN CCHHÍÍNNHH TTRRỊỊ:: TTRRƯƯỜỜNNGG ĐĐHH KKTTKKTTCCNN --CCNNTT-- Không chỉ tham gia các cuộc họp của chi bộ mà thôi, tôi còn ñến các chi bộ khác ñể bênh vực lập trường “của tôi”. Ở ñây, tôi cần nhắc thêm rằng các ñồng chí Mác-xen Ca sanh, Vay-ăng Cu-tuya-ri-ê, Mông-mút-xô và nhiều ñồng chí khác ñã giúp ñỡ tôi hiểu biết thêm. Cuối cùng ở ðại hội thành phố Tua, tôi cùng các ñồng chí ấy biểu quyết tán thành tham gia Quốc tế thứ ba.

Lúc ñầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản ñã ñưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc ñầu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần tôi hiểu ñược rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng ñược các dân tộc bị áp bức và những người lao ñộng trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện ñời xưa về cái “cẩm nang” ñầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay các giải pháp. Chủ nghĩa Lênin ñối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con ñường chúng ta ñi tới thắng lợi cuối cùng, ñi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ðẠO ðỨC HỒ CHÍ MINH” – Ban Tuyên giáo Trung ương)

Nguyễn Ái Quốc với một số ðại biểu ðại hội V Quốc tế Cộng sản năm

1924

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT