Tài liệu

Luận văn tiến sỹ Quá trình hình thành chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997-2003. Thực trạng - kinh nghiệm - giải pháp

Chia sẻ bởi
Lượt xem: 828     Tải về: 3     Lượt mua: 0    
Báo lỗi
Bình luận
Nhúng
/ 195
Tài liệu Luận văn tiến sỹ  Quá trình hình thành chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997-2003. Thực trạng - kinh nghiệm - giải pháp - tài liệu, sách iDoc.Vn
Luận văn tiến sỹ Quá trình hình thành chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997-2003. Thực trạng - kinh nghiệm - giải pháp
Làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam. Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam.
Nội dung trích xuất từ tài liệu
Microsoft Word - LA toan van.doc

Luận văn tiến sỹ

Quá trình hình thành chính sách thúc

đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc

Ninh giai đoạn từ 1997-2003, Thực

trang- kinh nghiệm- giải pháp

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của

riêng tôi. Các số liệu, kết luận nêu trong luận án là trung

thực, có nguồn gốc rõ ràng. Tác giả hoàn toàn chịu trách

nhiệm về công trình khoa học này.

Tác giả luận án

Nguyễn Như Chung

2

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu 5

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các chính sách đối với sự phát triển làng nghề

12

1.1. Cơ sở lý luận về các chính sách đối với sự phát triển của làng nghề. 12 1.2. Chính sách phát triển làng nghề ở một số nước Châu Á và bài

học kinh nghiệm 39

Chương 2: Thực trạng các chính sách đối với sự phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay

54

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 54 2.2. Thực trạng một số chính sách nhà nước và địa phương ảnh hưởng

đến phát triển của làng nghề ở Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay 61

2.3. Tác động chính sách đến sự phát triển các làng nghề và kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 1997 đến nay

90

2.4. Bài học kinh nghiệm về chính sách phát triển làng nghề ở Bắc Ninh 116 Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy

phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới 123

3.1. Một số quan điểm về hoàn thiện chính sách phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh

123

3.2. Định hướng và mục tiêu phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh 128 3.3. Những giải pháp cơ bản hoàn thiện một số chính sách thúc đẩy

phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh 133

3.4. Một số kiến nghị trong hoàn thiện chính sách phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh

172

Kết luận 181 Danh mục các tài liệu tham khảo 183 Danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án 187 Phụ lục 1: Danh mục làng nghề tỉnh Bắc Ninh 188 Phụ lục 2: Kế hoạch phát triển các khu công nghiệp nhỏ và vừa,

cụm làng nghề đến 2010 191

Phụ lục 3: Kết quả khảo sát doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Bắc Ninh 2005

193

3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BN Bắc Ninh

CN Công nghiệp

CP Chính phủ

CCN - TTCN Cụm công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CSHT Cơ sở hạ tầng

CTCP Công ty cổ phần

CTTNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn

DN Doanh nghiệp

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

HĐND Hội đồng nhân dân

HTX Hợp tác xã

KCHT Kết cấu hạ tầng

KT – XH Kinh tế - xã hội

LN Làng nghề

LNTT Làng nghề truyền thống

LNTTCN Làng nghề tiểu thủ công nghiệp

NCS Nghiên cứu sinh

SXKD Sản xuất kinh doanh

UBND Uỷ ban nhân dân

4

DANH MỤC CÁC BIỂU, ĐỒ THỊ, HỘP

Trang

Biểu 2.1: Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Bắc Ninh 55

Biểu 2.2: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tỉnh

Bắc Ninh 2006

56

Biểu 2.3: Tổng sản phẩm tỉnh Bắc Ninh theo giá so sánh 1994 57

Biểu 2.4: Số lượng di tích lịch sử văn hoá tỉnh Bắc Ninh 60

Biểu 2.5: Kết quả thuê đất và đầu tư các khu công nghiệp nhỏ và

vừa, cụm công nghiệp LN tỉnh Bắc Ninh 1997 -6/2007

92

Biểu 2.6: Các tổ chức thuê rời để phát triển công nghiệp (từ năm

1997 đến hết 3/2006)

93

Biểu 2.7: Dư nợ vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bắc Ninh 2006 95

Biểu 2.8: Số lượng và cơ cấu hộ nông dân tỉnh Bắc Ninh 97

Biểu 2.9: Tổng hợp số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

tỉnh Bắc Ninh 2001 - 2007

98

Biểu 2.10: Giá trị sản xuất của các LN ở tỉnh Bắc Ninh 2001 - 2005 99

Đồ thị 2.1: Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong tỉnh Bắc Ninh 57

Đồ thị 2.2: Cơ cấu kinh tế Bắc Ninh 1997, 2007 58

5

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH là một chủ

trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa trước

mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài trong sự phát triển kinh tế nông thôn. Hiện nay,

một trong những nội dung quan trọng của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn

là mở rộng và phát triển các LN. Đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Hồng tình

trạng đất chật, người đông và nhiều làng xã phổ biến là kinh tế thuần nông.

LN phát triển sẽ là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn

và thành thị. Việc đẩy mạnh phát triển LN nhằm đa dạng hoá các ngành nghề

nông thôn, tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho dân cư để góp phần ổn định

kinh tế - xã hội nông thôn và tạo tiền đề cần thiết cho quá trình CNH, HĐH

diễn ra sâu rộng trên phạm vi cả nước.

Trong thời gian qua, sự phát triển của các LN đã trải qua những bước

thăng trầm. Một số LNTT đã phục hồi và phát triển, cùng với việc xuất hiện

một số LN mới. Có nhiều LN đã phát triển khá mạnh và lan toả sang các khu

vực lân cận, tạo nên một cụm các LN, với sự phân công và chuyên môn hoá

trong SXKD. Tuy vậy cũng có một số LN dần bị mai một, thậm chí có một số

LN mất hẳn. Nhìn chung trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh

Bắc Ninh trong thời gian qua LN đã đóng góp vai trò tích cực vào phát triển

KT-XH nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế

địa phương. Thực tế cho thấy, ngay trong sự phát triển, LN vẫn đứng trước

những khó khăn như: Tình trạng khó khăn về mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư

thiếu, công nghệ lạc hậu, chất lượng tổ chức quản lý kém, tiêu thụ sản phẩm

khó khăn, tính cạnh tranh kém, môi trường sinh thái ô nhiễm v.v… còn diễn

ra ở nhiều LN. Vì vậy, để thúc đẩy phát triển LN đòi hỏi cần phải tiếp tục có

6

sự nghiên cứu các giải pháp để phát triển các LN, đặc biệt là trong bối cảnh

hiện nay đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới sâu rộng.

Sự phát triển LN cần có sự tác động của các yếu tố: trình độ kỹ thuật,

công nghệ, thị trường vốn, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực. Trong khi đó

nhân tố về cơ chế chính sách lại hoàn toàn chủ quan có thể nghiên cứu, xây

dựng cho phù hợp để tác động vào tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát

triển LN. Đây sẽ là nhân tố mà đề tài đi sâu nghiên cứu.

Thực hiện đổi mới chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn

trong các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, khoá

IX đã đề cập đến phát triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công

nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, kinh

tế tư nhân… Do vậy, một loạt các văn bản pháp luật mới ra đời như Luật

Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ môi trường v.v… cùng

các văn bản quy định cơ chế, chính sách khác về tài chính, tín dụng, đào tạo,

khoa học công nghệ, phát triển ngành nghề nông thôn v.v… nhằm tạo ra một

môi trường và hành lang pháp lý cho các LN phát triển. Với tỉnh Bắc Ninh,

nơi có nhiều LN khá phát triển, chính quyền địa phương cũng đã cụ thể hoá

các chính sách của nhà nước gắn với điều kiện KT-XH của địa phương để đề

ra một số chính sách phát triển các LN như các chính sách về thu hút đầu tư,

chính sách hỗ trợ xây dựng CSHT, chính sách khuyến khích phát triển công

nghiệp, xuất khẩu v.v…

Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy nhiều chính sách của Nhà nước chưa

đồng bộ, thường xuyên phải bổ sung sửa đổi, thậm chí chưa thích hợp, khó thực

thi gây bế tắc trong hoạt động thực tiễn. Mặt khác, nhiều vấn đề liên quan đến

quá trình SXKD và phát triển ở các LN chưa được Nhà nước quan tâm, chưa có

những chế tài hay biện pháp kích thích phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu các

chính sách phát triển LN để hoàn thiện các chính sách phù hợp với tình hình hiện

7

nay cho phát triển LN và đặc biệt là đối với địa bàn tỉnh Bắc Ninh là đòi hỏi cấp

thiết của thực tế. Đó chính là lý do NCS chọn đề tài:

“Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề

ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003 - Thực trạng, kinh nghiệm và

giải pháp” Làm nội dung nghiên cứu.

2. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Hiện nay, việc phát triển các LN đang ngày được sự quan tâm của

nhiều nhà khoa học. Thời gian quan đã có một số công trình nghiên cứu về

vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau. Thực tế có rất nhiều nhân tố ảnh

hưởng tới sự phát triển LN. Tuy nhiên chưa thấy công trình nào nghiên cứu

chuyên sâu, có hệ thống về chính sách phát triển các LN nói chung và với các

LN ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng.

Trước tiên là nhóm các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp và nông

thôn nói chung, trong đó có bao hàm cả các LN như các công trình nghiên

cứu: “Tăng trưởng kinh tế Việt Nam - những rào cản cần phải vượt qua” của

GS.TS Nguyễn Văn Thường - NXB Lý luận chính trị 2005; “Các ngành nghề

nông thôn Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; nhà xuất

bản nông nghiệp 1998; “Phát triển công nghiệp nông thôn Việt Nam” của

UNIDO - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; “Môi trường kinh doanh

ở nông thôn Việt Nam” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Tiến

sĩ Chu Tiến Quang chủ biên, nhà xuất bản chính trị quốc gia 2003; báo cáo

điều tra của dự án VIE/98/022/UNIDO, Hà Nội 1998, v.v… Các nghiên cứu

này đã đưa hệ thống các giải pháp cho phát triển nông nghiệp và nông thôn

Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, các giải pháp đưa ra cũng có đề

cập đến cơ chế chính sách mang tính bao quát định hướng, có tác động đến

khu vực LN, nhưng chưa tập trung nghiên cứu về môi trường chính sách với

phát triển các LN ở nước ta.

8

Thứ hai là nhóm các nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế trong đó có liên

quan đến sự phát triển của LN như các công trình nghiên cứu: “Chiến lược

cạnh tranh cho các doanh nghiệpvừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay” của TS

Phạm Thuý Hồng - Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2004, “Định hướng và

giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp

trong nông thôn tỉnh Hà Tây” - Luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Mạnh Hùng,

Hà Nội 2005, “Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị

hoá” của PGS.TS Trần Thị Minh Châu - NXB chính trị quốc gia, Hà Nội

2007, “Chiến lược phát triển và dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và

nhỏ: Các tài liệu của cuộc họp quốc tế giữa các chuyên gia” của UNTAC,

NewYork và Geneva 2000; “Khu vực tư nhân ở Việt Nam: Sự kiện, con số,

thay đổi chính sách và khảo sát các kết quả nghiên cứu” của Liesbet Steer,

CIE, 2001; v.v… Các nghiên cứu này đã có những đóng góp lý luận và thực

tiễn về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển ngành nghề thủ công;

phát triển nguồn nhân lực nông thôn v.v…Trong các nghiên cứu đó khía cạnh

cơ chế chính sách được đề cập có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát

triển các LN, nhưng vẫn chưa đi sâu bao quát được hết hoạt động ở các LN,

bao gồm các thành phần kinh tế, đa dạng về ngành nghề và phong phú các

lĩnh vực đời sống KT-XH.

Nhóm thứ ba là các công trình nghiên cứu về tình hình phát triển LN.

Đáng chú ý là “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh

đồng bằng sông Hồng” của GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh - Hà Nội 2005; “Phát

triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình công

nghiệp hoá, hiện đại hoá” - Luận án tiến sĩ của Trần Minh Yến, Hà Nội 2003;

“Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình CNH” của TS Dương

Bá Phương, NXB khoa học xã hội, Hà Nội 2001; “Phát triển làng nghề

truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của TS Mai Thế

9

Hởn, NXB chính trị quốc gia Hà Nội, 2003; “Làng nghề du lịch Việt Nam”

của GS.TS Hoàng Văn Châu, NXB Thống kê, Hà Nội 2007; “Tài liệu hội

thảo phát triển cụm công nghiệp làng nghề - thực trạng và giải pháp” của

viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, Hà Nội 12/2004; v.v… Ngoài ra, còn có

một số bài nghiên cứu trên các tạp chí, các bài tham luận tại các cuộc hội thảo

trong nước và quốc tế đề cập đến sự phát triển của các LN theo nhiều khía

cạnh khác nhau. Ở một số địa phương, chính quyền sở tại cũng đã có những

nghiên cứu, báo cáo và đề xuất một số giải pháp để phát triển LN trên địa bàn

mình như ở Hà Tây (tháng 8/2008 sát nhập về Hà Nội), Ninh Bình, Hải

Phòng, Hà Nội v.v…Những nghiên cứu trên đã đạt được nhiều kết quả nhất

định làm phong phú thêm lý luận cơ bản về LN, thực trạng phát triển LN ở

một số địa phương và từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho phát triển

LN. Tuy nhiên các nghiên cứu này, về cơ chế chính sách chỉ được nghiên cứu

như một nhân tố phát triển LN.

Nhóm thứ tư là các công trình nghiên cứu trực tiếp với đối tượng là

chính sách như: “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp tiêu thụ sản phẩm

của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010” của Bộ Thương

mại, Hà Nội 8/2003; “20 năm đổi mới cơ chế chính sách thương mại Việt

Nam, những thành tựu và bài học kinh nghiệm” Bộ Thương mại, Hà Nội

2006; “Đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Việt Nam đến năm 2005” của PGS.TS Nguyễn Cúc, NXB chính trị quốc gia,

Hà Nội 2000 v.v…Các nghiên cứu này đã đi sâu phân tích thực trạng và đưa

ra các giải pháp hoàn thiện chính sách trong phạm vi nghiên cứu của tác giả

mà chưa gắn kết trực tiếp hoặc đồng bộ tới sự phát triển của các LN. Hầu hết

các nghiên cứu chưa xác định được vị trí, vai trò và ý nghĩa tác động của nhân

tố chính sách đến quá trình phát triển LN, chưa khái quát đồng bộ các chính

sách công cơ bản tác động đến LN và những đề xuất trong hoạch định và

10

hoàn thiện về mặt chính sách của Nhà nước cho phát triển LN. Mặt khác,

chính sách luôn vận động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng giai

đoạn, từng khu vực, từng địa phương. Hơn nữa, Bắc Ninh nơi có nhiều LN

phát triển cũng chưa có công trình nghiên cứu sâu trên địa bàn về nó. Đó là lý

do NCS chọn đề tài “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát

triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003 - Thực trạng,

kinh nghiệm và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu

3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Từ nghiên cứu các chính sách của nhà nước và của địa phương tỉnh Bắc

Ninh có ảnh hưởng thúc đẩy phát triển LN và làm rõ kết quả, hạn chế, nguyên

nhân của hạn chế để rút ra những bài học kinh nghiệm trong phát triển LN ở

địa phương. Đó là cơ sở đề xuất những quan điểm, giải pháp và những kiến

nghị nhằm hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh

trong thời gian tới.

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống các chính sách của Nhà

nước (cả Trung ương và địa phương) đã tác động đến phát triển LN.

- Phạm vi nghiên cứu của luận án là các chính sách được triển khai tác

động đối với các LN ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến nay. Các chính sách

này cũng được giới hạn trong phạm vi các chính sách KT-XH. Hệ thống các

chính sách công này cũng chủ yếu tập trung nghiên cứu ở một số các chính

sách có ảnh hưởng nhiều và trực tiếp đến sự phát triển của các LN bao gồm:

Chính sách về đất đai; Chính sách về khuyến khích đầu tư; Chính sách về

thương mại, thị trường; Chính sách về thuế; Chính sách về tín dụng; Chính

sách về khoa học công nghệ; Chính sách về đào tạo và phát triển nguồn nhân

lực; Chính sách về bảo vệ môi trường.

11

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của

chủ nghĩa Mác - Lê Nin; kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic để

tiếp cận nghiên cứu và đánh giá các chính sách đã được thực hiện để phát triển

LN ở tỉnh Bắc Ninh. Luận án cũng sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích

tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia v.v… dựa trên các

nguồn số liệu, tư liệu thu thập được trong quá trình khảo sát thực tiễn, đồng thời

tiếp thu, kế thừa có chọn lọc quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu về LN.

Luận án cũng tham khảo những tài liệu của các cơ quan quản lý tại tỉnh

Bắc Ninh có liên quan đến phát triển LN như các Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tài

chính, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài

nguyên và Môi trường v.v…

6. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các chính sách đối với

sự phát triển các LN trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và

phát triển kinh tế thị trường.

- Phân tích làm rõ các chính sách của nhà nước và địa phương tác động

đến sự phát triển các LN ở tỉnh Bắc Ninh và rút ra những bài học kinh nghiệm.

- Đề xuất các quan điểm và các giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách

thúc đẩy phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới, đồng thời có một

số kiến nghị nhằm thúc đẩy các giải pháp trong hoàn thiện các chính sách

phát triển LN đáp ứng với yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương.

7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài mở đầu, kết luận, các phụ lục và các danh mục tài liệu tham

khảo, kết cấu của luận án được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các chính sách đối với sự phát

triển của làng nghề.

Chương 2: Thực trạng các chính sách đối với sự phát triển làng nghề ở

tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát

triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.

12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC CHÍNH SÁCH

ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

1.1. C¬ së lý luËn vÒ c¸c chÝnh s¸ch ®èi 1.1. C¬ së lý luËn vÒ c¸c chÝnh s¸ch ®èi 1.1. C¬ së lý luËn vÒ c¸c chÝnh s¸ch ®èi 1.1. C¬ së lý luËn vÒ c¸c chÝnh s¸ch ®èi víi sù ph¸t víi sù ph¸t víi sù ph¸t víi sù ph¸t

triÓn cña lµng nghÒtriÓn cña lµng nghÒtriÓn cña lµng nghÒtriÓn cña lµng nghÒ

1.1.1. Kh¸i niÖm, ®Æc ®iÓm, vai trß cña c¸c lµng nghÒ

1.1.1.1. Khái niệm làng nghề

Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời và gắn chặt với nông nghiệp

và kinh tế nông thôn. Do nhu cầu phát triển của xã hội, một số nghề phụ trong

các gia đình đã phát triển và dần dần hình thành “LN”. Ngày nay, ở nhiều địa

phương bên cạnh LNTT còn có những LN mới.

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về LN cũng như các quy định

khác nhau về tiêu chuẩn để công nhận LN giữa các địa phương trong nước.

Khái quát chung lại thì LN được hiểu là những làng ở nông thôn có một hay

một số nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng

thu nhập so với nghề nông.

Trong quá trình phát triển của kinh tế thị trường, ngày nay LN không bị

bó hẹp trong phạm vi một làng mà chúng lan toả ra thành nhiều làng, xã, vùng

cùng sản xuất các ngành nghề thủ công. Mặt khác ngành nghề ở các LN cũng

được mở rộng và phát triển cả về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các hoạt

động dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống con người với các loại hình SXKD

chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ. Các thành phần kinh tế không còn phổ biến là

các hộ gia đình mà đã đa dạng các thành phần, các tổ chức kinh tế như các tổ

hợp, hợp tác xã, các loại hình doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần,

công ty trách nhiệm hữu hạn...

LN thủ công truyền thống là những LN hình thành, tồn tại và phát triển

lâu đời ở nước ta, các kỹ nghệ tinh sảo được lưu truyền từ lâu đời, có nhiều

13

nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề, kỹ thuật và công nghệ khá ổn

định, mặc dù ngày nay một số nghề thủ công truyền thống đã được trang bị

máy móc hiện đại nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, sản xuất ra

những sản phẩm có tính mỹ nghệ độc đáo thể hiện những nét văn hoá đặc sắc

của dân tộc và đem lại thu nhập chính cho LN.

LN mới được hình thành trên cơ sở phát triển lan toả của nghề truyền

thống, việc truyền nghề, nhân cấy nghề mới sang các làng xã khác. Cùng với quá

trình CNH, HĐH đất nước và phát triển kinh tế thị trường đã hình thành các LN

hiện đại, SXKD đa dạng, kỹ thuật công nghệ hiện đại. Đó chính là những LN

mới ra đời trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. {6, tr.7}

1.1.1.2. Đặc điểm của làng nghề

- Làng nghề phát triển đa dạng trong nông thôn, một số làng nghề hoạt

động kinh tế vẫn gắn chặt với sản xuất nông nghiệp.

Do nhu cầu việc làm và thu nhập, người nông dân đã có nghề chính là

làm ruộng, nghề phụ là nghề thủ công. Vì vậy, trong sự phát triển một số LN

tách dần khỏi nông nghiệp nhưng không tách rời khỏi nông thôn. Thực tế ở

nhiều LN, người nông dân thường tự sản xuất, tự sửa chữa nhằm đáp ứng

phần lớn nhu cầu hàng tiêu dùng của mình. Đại bộ phận các hộ chuyên làm

nghề thủ công vẫn còn tham gia sản xuất nông nghiệp. Hầu hết các LN vẫn

còn một bộ phận ruộng đất và kinh tế nông nghiệp.

- Làng nghề có sản phẩm mang tính đơn chiếc, độc đáo có tính mỹ thuật

cao, là sản phẩm thủ công truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.

Các sản phẩm đều là sự kết giao phương pháp thủ công tinh xảo với sự

sáng tạo nghệ thuật. Các sản phẩm thủ công thường mang tính cá biệt và có

sắc thái riêng của mỗi LN. Ví dụ cũng là đồ gốm nhưng có thể dễ dàng phân

biệt được gốm Phù Lãng (Bắc Ninh) với gốm Thổ Hà (Bắc Giang) và gốm

Bát Tràng (Hà Nội), tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng

14

ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng tôn

giáo của dân tộc.

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề trước kia hầu hết

mang tính địa phương, nhỏ, hẹp, nhưng ngày nay đã được, tiêu thụ rộng rãi

trên phạm vi toàn quốc và trên thế giới

Sự ra đời của các LN là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu

dùng tại chỗ của các địa phương. Ngày nay các LN đã phát triển sang các LN

khác trong xã, trong vùng, hình thành nên các cụm công nghiệp LN (cụm

công nghiệp LN Đồng Quang, Đa Hội (Bắc Ninh), vùng nghề gốm sứ huyện

Gia Lâm (Hà Nội))...

Đặc biệt, các nghề thủ công truyền thống ngày càng mang tính xã hội cao.

Phạm vi hoạt động kinh doanh của các LN không chỉ dừng lại trong phạm vi

quốc gia mà còn vươn ra các nước trên thế giới. Một số LN đã tổ chức tìm kiếm

thị trường xuất khẩu và chủ động tổ chức xuất khẩu sản phẩm của mình.

- Công nghệ kỹ thuật sản xuất của các làng nghề, chủ yếu là kỹ thuật

thủ công, nhưng hiện nay kỹ thuật sản xuất của nhiều làng nghề đã được hiện

đại hoá, còn kết hợp với công nghệ truyền thống.

Công cụ lao động trong các LN thường mang tính đơn chiếc, sản phẩm

dựa vào bàn tay khéo léo của người thợ thủ công. Trong cơ chế thị trường, sự kết

hợp giữa công nghệ truyền thống thủ công thô sơ với công nghệ hiện đại như:

mô tơ điện, cưa máy, máy thái đất, máy se sợi... đã làm tăng năng suất, chất

lượng sản phẩm cao hơn. Với những tiến bộ của khoa học công nghệ, vừa phát

huy được tinh hoa của công nghệ truyền thống, vừa phải liên tục đổi mới công

nghệ để tăng năng suất lao động mà vẫn giữ được công nghệ truyền thống.

- Nguyên liệu để sản xuất của các làng nghề chủ yếu là có tại địa

phương hoặc vùng lân cận, ngày nay một số làng nghề còn nhập nguyên liệu

từ nước ngoài.

15

Các LNTT thường được hình thành xuất phát từ có sẵn nguồn nguyên

liệu tại chỗ, đặc biệt là những LN sản xuất sẩn phẩm tiêu dùng như mây tre

đan, chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng. Một số nghề

sử dụng những nguyên liệu có sẵn là những phế liệu, phế phẩm, chế thải của

sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và đời sống sinh hoạt.

Ngày nay cùng với sự phát triển và hội nhập, nhu cầu nguyên liệu lớn,

một số LN có nguồn nguyên liệu tại chỗ không thể đáp ứng được hoặc không

có để đáp ứng nên phương thức cung ứng nguyên liệu cũng có sự thay đổi từ

việc thu gom ở các địa phương khác đến việc nhập khẩu từ nước ngoài.

- Lao động trong các làng nghề vẫn phổ biến là lao động thủ công,

phương pháp dạy nghề theo phương thức truyền nghề.

Lao động chủ yếu là nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo. Hiện nay lao

động của các LN không chỉ bó hẹp trong phạm vi từng gia đình, dòng họ trong

làng mà việc thuê mướn lao động đã phổ biến, hình thành thị trường lao động.

Lao động trong các LN trước đây được dạy theo phương thức truyền thống

trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ trong phạm vi từng làng.

Hiện nay, nhiều cơ sở quốc doanh, hợp tác xã làm các nghề truyền

thống đã tổ chức các lớp dạy nghề tập trung làm cho các bí quyết nghề

nghiệp không còn như trước nữa. Trong nền kinh tế thị trường, việc phát

triển mạnh kinh tế tư nhân và hộ gia đình đã phục hồi phương thức dạy

nghề theo cách truyền nghề, kèm cặp của thợ cả đối với thợ phụ và thợ học

việc. Người thợ trong thời gian đào tạo vừa phải học, vừa phải làm. Đây là

nét chung nhất trong đào tạo nghề truyền thống. Như vậy tầng lớp nghệ

nhân và đội ngũ lao động lành nghề có vai trò rất to lớn đối với sự tồn tại

và phát triển trong các LN.

- Hình thức tổ chức sản xuất trong làng nghề trước đây chủ yếu là quy

mô hộ gia đình, ngày nay đã đa dạng các loại hình tổ chức sản xuất.

16

Với hình thức tổ chức sản xuất hộ gia đình, các thành viên trong hộ đều

được huy động vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất.

Người chủ gia đình là người thợ cả, thường là các nghệ nhân.

Mô hình này hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển SXKD. Mỗi gia

đình không đủ sức nhận hợp đồng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm, không

đủ tầm nhìn để định hướng nghề nghiệp hoặc vạch ra chiến lược kinh doanh.

Ngày nay, ở các LN các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm

hữu hạn, công ty cổ phần được phát triển từ một hoặc một số hộ gia đình đã

hình thành và phát triển mạnh ở một số LN. Tuy hình thức này không chiếm

tỷ trọng lớn nhưng đóng vai trò là trung tâm liên kết mà các hộ gia đình là các

vệ tinh, thực hiện các hợp đồng đặt hàng với các hộ gia đình, giải quyết đầu

vào, đầu ra, nơi sản xuất của các LN với các thị trường tiêu thụ khác nhau.

{13, tr.12-19}

1.1.1.3. Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn

- Giải quyết việc làm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nông thôn,

nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn.

Các làng nghề nước ta với nhiều ngành nghề, không đòi hỏi nhiều

vốn, yêu cầu kỹ thuật cao, chủ yếu là tận dụng lao động và có khả năng làm

việc phân tán trong từng hộ gia đình. Hơn nữa, giá trị lao động sống trong

giá thành sản phẩm chiếm tỉ lệ cao (thường chiếm khoảng 40-60%). Do

vậy, các LN ở nông thôn được phát triển mạnh mẽ thì thu hút được nhiều

lao động nông thôn. Bình quân mỗi cơ sở chuyên ngành nghề ở các LN tạo

việc làm ổn định cho 27 lao động, mỗi hộ ngành nghề cho 4-6 lao động.

Ngoài lao động thường xuyên, các hộ, các cơ sở ngành nghề ở các LN còn

thu hút lao động nhàn rỗi trong nông thôn (bình quân 2-5 người/hộ và 8-10

người/cơ sở). Nhiều LN đã thu hút trên 60% lao động vào các hoạt động

ngành nghề. {53, tr.7}

17

Mặt khác, việc phát triển các ngành nghề ở các LN ở nông thôn sẽ tận

dụng tốt thời gian lao động, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông

nghiệp, góp phần thực hiện phân bổ hợp lý lực lượng lao động nông thôn.

Nhiều hộ ở các LN sẽ kết hợp giữa phát triển sản xuất nông nghiệp với ngành

nghề phi nông nghiệp, thậm chí một số hộ chuyển hẳn sang làm nghề phi

nông nghiệp. Những cơ sở, những hộ kiêm và hộ chuyên sẽ là những trung

tâm thu hút lao động của địa phương và lao động những vùng xung quanh

trong phát triển các ngành nghề.

Hiện nay ở nước ta, các vùng nông thôn với 76% dân số và 70% lao động

của cả nước, đất đai canh tác lại bị hạn chế bởi giới hạn của tự nhiên - đây là một

thách đố lớn đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế ở nông thôn. Vấn đề đặt

ra là phải làm sao giải quyết được công ăn việc làm cho lực lượng lao động này,

đồng thời tăng thu nhập cho các hộ gia đình trong điều kiện sản xuất nông nghiệp

còn hết sức hạn chế. Theo tính toán của các chuyên gia thì hiện nay thời gian lao

động dư thừa trong nông thôn còn khoảng 1/3 chưa sử dụng. Nghĩa là có khoảng

trên 10 triệu lao động dư thừa. Do vậy vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho lao

động nông thôn trở nên hết sức khó khăn, đòi hỏi sự hỗ trợ về nhiều mặt và đồng

bộ của các ngành nghề và các lĩnh vực. Sự phát triển của các LNTT đã kéo theo

sự phát triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên

quan xuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động. Nghề chế

biến lương thực, thực phẩm không chỉ có tác dụng thúc đẩy nghề trồng các loại

cây phục vụ cho chế biến phát triển, mà còn tạo điều kiện cho chăn nuôi phát

triển. Ngoài các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất trực tiếp còn có một loại dịch

vụ khác nữa, đó là dịch vụ tín dụng, ngân hàng. Các loại dịch vụ này cũng được

phát triển do yêu cầu sản xuất trong các LN ngày càng tăng.

Vai trò tạo việc làm của các LN còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lan

toả sang các làng khác, vùng khác, đã giải quyết việc làm cho nhiều lao

18

động, tạo ra động lực cho sự phát triển KT-XH ở khu vực nông nghiệp và

nông thôn.

LN góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn. Ở nơi

nào có ngành nghề phát triển thì ở nơi đó có thu nhập cao và mức sống cao

hơn với các vùng thuần nông. Nếu so sánh với mức thu nhập của lao động

nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề cao hơn khoảng 2 đến 4

lần, đặc biệt là so với chi phí về lao động và diện tích sử dụng đất thấp hơn

nhiều so với sản xuất nông nghiệp. Có những LN có thu nhập cao như làng

gốm Bát Tràng: mức bình quân thu nhập của các hộ thấp cũng đạt 10 – 20

triệu đồng/ năm, của các hộ trung bình là 40 – 50 triệu đồng/năm, còn các hộ

có thu nhập cao đạt tới hàng trăm triệu đồng/năm. Thu nhập từ nghề sứ của

Bát Tràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của toàn xã. Vì vậy, thu nhập ở các

LN đã tạo ra sự thay đổi khá lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và của

địa phương.

- Các làng nghề đã bảo tồn và phát triển nhiều ngành nghề truyền

thống tạo điều kiện phát huy khả năng của đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi.

Các LNTT gắn liền với lịch sử phát triển của nền văn hoá Việt Nam.

Các sản phẩm LNTT chứa đựng những phong tục, tập quán, tín ngưỡng...

mang sắc thái riêng của dân tộc Việt Nam. Nhiều sản phẩm LN truyền thống

có giá trị minh chứng sự thịnh vượng của quốc gia, cũng như thể hiện những

thành tựu, phát minh mà con người Việt Nam đạt được. Cho đến nay, nhiều

sản phẩm LNTT là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo, độc đáo, đạt trình độ cao

về mỹ thuật còn được lưu giữ, trưng bày tại nhiều viện bảo tàng nước ngoài.

Sản phẩm của nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh lao động vật

chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo

của người thợ thủ công. Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao,

mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa đựng những nét đặc

19

sắc của văn hoá dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính

riêng của mỗi LN. Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là

những di sản quý giá mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho

các thế hệ sau.

Ngày nay, nền sản xuất công nghiệp hiện đại phát triển mạnh mẽ, các

sản phẩm công nghiệp được sử dụng và tiêu thụ ở khắp nơi. Tuy nhiên, các

sản phẩm thủ công truyền thống với tính độc đáo và độ tinh xảo của nó vẫn

rất cần thiết và có ý nghĩa đối với nhu cầu đời sống của con người. Những sản

phẩm này là sự kết tinh, sự bảo tồn các giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc, là

sự bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời

khác, tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba với những sản phẩm độc đáo

mang bản sắc riêng. Vì vậy, những công nghệ truyền thống quan trọng cần

được bảo lưu và phát triển theo hướng hiện đại trong quá trình CNH, HĐH

đất nước.

- Các làng nghề góp phần tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật và chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Trong quá trình vận động và phát triển, các LN đã có vai trò tích

cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công

nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỉ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từ

sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp

có thu nhập cao hơn. Thực tế trong lịch sử, sự ra đời và phát triển các LN

ngay từ đầu đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Sự tác động này đã

tạo ra một nền kinh tế đa dạng ở nông thôn, với sự thay đổi về cơ cấu,

phong phú, đa dạng về loại hình sản phẩm. LN không chỉ cung cấp tư liệu

sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu

trong nội bộ ngành nông nghiệp. Chẳng hạn khi ngành nghề chế biến phát

triển, yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp phải nhiều hơn, đa dạng hơn và

20

chất lượng cao hơn. Do vậy, trong nông nghiệp hình thành những khu vực

nông nghiệp chuyên môn hoá, tạo ra năng suất lao động cao và nhiều sản

phẩm hàng hoá.

Mặt khác, có thể thấy kết quả sản xuất ở các LN cho thu nhập và giá trị

sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Do từng bước tiếp cận

với nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên, người lao động

nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc

biệt là những ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường

trong nước và thế giới. Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp lại,

sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên. Sự phát triển này

đã khẳng định một hướng đi đúng, nó tạo ra cơ sở kinh tế ngoài nông nghiệp

cho nhiều vùng thuần nông trước đây.

LN phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng

quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động. Khác với sản xuất nông

nghiệp, sản xuất trong các LN là một quá trình liên tục, đòi hỏi thường xuyên

hoạt động dịch vụ trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Do đó

dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và phong

phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động.

Để tồn tại và phát triển, các cơ sở, các hộ SXKD ở các LN đã đầu tư

mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để từng bước giảm

bớt lao động ở những khâu công việc nặng nhọc hoặc lao động độc hại. Từ

đó, các công cụ sản xuất được tăng cường, đổi mới, kết cấu hạ tầng KT-XH ở

các LN cũng được nâng cấp hoàn thiện… góp phần làm tăng năng suất lao

động, cải thiện điều kiện sống của dân cư trong làng, trong vùng.

Các ngành nghề phi nông nghiệp ở các LN, nhất là các ngành nghề tiểu

thủ công nghiệp đã sử dụng các công nghệ truyền thống hoặc tiên tiến để chế

biến nông sản phẩm, tận dụng các nguồn tài nguyên, các phế phẩm phụ, phế

21

liệu để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất

khẩu. Thông qua quá trình đó làm tăng giá trị hàng hoá, tăng giá trị hàng xuất

khẩu. Từ đó, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch từ nông nghiệp là chủ yếu sang

cơ cấu kinh tế mới có công nghiệp và dịch vụ cùng phát triển và chiếm tỉ

trọng ngày càng cao ở các LN; tỷ trọng lao động nông nghiệp ngày càng giảm

xuống, tăng tương ứng lao động làm ngành nghề phi nông nghiệp. Mặt khác,

cũng trên cơ sở giá trị sản lượng từ hoạt động phi nông nghiệp của các LN

tăng lên, tạo điều kiện tăng tích luỹ và nguồn vốn đầu tư tại chỗ, nâng cấp và

xây dựng mới kết cấu hạ tầng, cải thiện đời sống dân cư trong làng, trong

vùng. Trong tương lai, nhiều cơ sở sản xuất ở các LN còn là vệ tinh cho các

doanh nghiệp lớn, hiện đại trong và ngoài nước ở nông thôn Việt Nam.

- Các làng nghề góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động, tiền

vốn, nguyên liệu… và gia tăng giá trị sản phẩm hàng hoá của nền kinh tế.

Các LN thông thường không đòi hỏi một số vốn đầu tư quá lớn, bởi

nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ mà những người thợ trong các

LN có thể tự sản xuất hoặc chế tạo được. Mặt khác, sản xuất trong các LN là

quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động

vốn và các nguồn lực vật chất khác của các hộ gia đình. Cũng từ đặc điểm của

LN là các nguyên liệu sẵn có kể cả việc tận dụng các loại phế liệu, phế thải…

nên chúng được sử dụng hiệu quả nhất. Các LN nơi sản xuất cũng là nơi ở của

họ nên lực lượng lao động được tận dụng và thu hút tối đa nhiều loại lao động

trong, trên, dưới độ tuổi lao động, tận dụng lao động thời vụ này nhàn, tranh

thủ các thời gian nhàn rỗi. Các yếu tố khác của quá trình sản xuất ở các LN

cũng được huy động phục vụ hiệu quả nhất như việc tận dụng đất đai, cơ sở

vật chất kỹ thuật, những kỹ năng, kỹ sảo của người lao động.

Ngày nay sản xuất của LN phát triển theo chiều hướng chuyên môn hoá,

đa dạng sản phẩm đã góp phần đáng kể vào thúc đẩy kinh tế hàng hoá ở nông

22

thôn. Với quy mô không lớn nhưng được phân bổ rộng khắp ở các vùng nông

thôn, hàng năm các LN sản xuất ra một khối lượng hàng hoá khá lớn đóng góp

đáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và từng địa phương nói riêng.

- Làng nghề đã tạo ra đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với quá

trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và tạo cơ sở vệ

tinh cho phát triển các doanh nghiệp hiện đại.

LN phát triển sẽ thu hút lực lượng lao động lớn và đồng thời cũng sẽ

tạo ra một đội ngũ lao động có tay nghề cao và lớp nghệ nhân mới. Chính

thông qua các lực lượng này để tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật,

công nghệ vào sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm, giảm giá thành nâng cao

khả năng cạnh tranh trên thị trường. Và khi đó tác phong công nghiệp, tính tổ

chức, tính kỷ luật… của đội ngũ lao động cũng được cải thiện thích ứng với

điều kiện và kỹ thuật mới.

Ngày nay với xu thế hội nhập, thị trường cạnh tranh, các hình thức liên

kết liên doanh, hợp tác… trở lên hết sức cần thiết đối với các LN. Sự liên kết

này có tác dụng và hiệu quả rõ rệt nhất là các LN làm gia công, sản xuất phụ

với tư cách là vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn. Các LN sản xuất các loại phụ

tùng, chi tiết sản phẩm, chế biến nông sản thực phẩm ở giai đoạn thô… cung

cấp cho các doanh nghiệp lớn lắp ráp, hoàn thiện, tinh chế các loại sản phẩm

bán ra thị trường trong nước và nước ngoài. Các LN sẽ được các doanh

nghiệp lớn này đảm bảo về thị trường đầu ra, đầu vào, cung cấp thiết bị công

nghệ, thậm chí cả vốn để tiến hành SXKD ổn định. Mặt khác bản thân các hộ

gia đình, các tổ hợp, doanh nghiệp nhỏ ở các LN do nhu cầu của sản phẩm

ngày một cao cả về số lượng, chất lượng và tính cạnh tranh, thị hiếu của sản

phẩm nên cũng phải tự đổi mới công nghệ, quản lý, đầu tư trang thiết bị hiện

đại, liên doanh, liên kết, chuyên môn hoá..v.v… để phát triển và sẽ hình thành

các doanh nghiệp lớn hiện đại. [28, tr.47-54].

23

Tuy nhiên, trong trong giai đoạn hiện nay, trong xu thế hội nhập kinh tế

quốc tế và tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là khi Việt Nam

gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã tác động không nhỏ đối với

sự phát triển của LN cũng như ảnh hưởng đến vai trò của nó đối với sự phát

triển kinh tế - xã hội nông thôn nói chung. Việc tự do hoá thương mại, tự do

hoá đầu tư đã khiến thị trường trong nước gắn chặt với thị trường thế giới.

Điều đó cho thấy LN và vai trò của nó đang đứng trước những cơ hội và thách

thức lớn khi chế độ bảo hộ thuế quan phải tiến tới xoá bỏ, khi cơ chế chính

sách ngoại thương và các chính sách kinh tế khác liên quan phải có những

thay đổi cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong xu thế ấy, hàng hoá nhiều

nước sẽ có mặt ở nước ta, vì vậy những sản phẩm của những LN nào độc đáo,

phù hợp sẽ tiếp tục phát triển, trong khi không ít LN sẽ gặp khó khăn và mai

một. Để LN tiếp tục phát triển và giữ được vai trò của nó trong nền kinh tế thị

trường, cạnh tranh và hội nhập cần phải chú trọng đa dạng hoá sản phẩm, đổi

mới công nghệ, hạ giá thành sản phẩm, sản phẩm gắn với nhãn hiệu hàng hoá;

công tác marketing, tăng cường xúc tiến thương mại, tạo lập môi trường thuận

lợi cho các LN phát triển và hội nhập cần có sự quan tâm hỗ trợ từ phía nhà

nước và chính quyền địa phương

1.1.2. Nh÷ng nh©n tè ¶nh h−ëng ®Õn sù ph¸t triÓn cña c¸c

lµng nghÒ

Thực tế, có nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển các LN và các

nhân tố này tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. Khái quát các nhân tố này theo 3

nhóm là các nhân tố về kinh tế, nhân tố về chính sách và nhóm các nhân tố về

điều kiện tự nhiên, văn hoá xã hội.

1.1.2.1. Các nhân tố về kinh tế

- Sự tồn tại và phát triển các LN phụ thuộc rất lớn vào sự biến đổi của

thị trường, những LN có khả năng đáp ứng và thích ứng với sự thay đổi nhu

24

cầu của thị trường thì có sự phát triển nhanh chóng. Chính thị trường đã tạo

định hướng cho phát triển của các LN. Các hộ, cơ sở SXKD của các LN phải

hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung cầu của hàng hoá dịch vụ, xuất

phát từ nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường để hoạch định, cải

tiến SXKD phù hợp. Ngày nay thị trường không còn bó hẹp là thị trường hàng

hoá dịch vụ mà các loại thị trường khác như: thị trường tài chính, thị trường

lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học - công nghệ… đều có

ảnh hưởng đến sự phát triển của các LN.

- Trình độ kỹ thuật và công nghệ: Nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất

khẩu ngày càng cao, sự cạnh tranh của cơ chế thị trường đòi hỏi phải đa dạng

hoá các sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Do vậy các LN

cũng phải không ngừng đổi mới trang thiết bị, công nghệ tiên tiến vào quá

trình SXKD. Trình độ kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp tới năng

suất, chất lượng, giá thành sản phẩm và do đó ảnh hưởng lớn đến năng lực

cạnh tranh của sản phẩm. Nó có thể quyết định sự tồn tại hay suy vong của cơ

sở sản xuất sản phẩm đó.

- Kết cấu hạ tầng: Các LN chỉ có thể phát triển mạnh ở những nơi có

hệ thống kết cấu hạ tầng đảm bảo và đồng bộ. Trong điều kiện hội nhập kinh

tế, cạnh tranh khốc liệt, thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng khắp, nguồn

nguyên liệu cũng phải vận chuyển nơi xa về thì nhu cầu về hệ thống giao

thông vận tải phát triển thuận lợi cho các LN giảm chi phí vận chuyển tạo

điều kiện giao lưu phát triển thị trường, ký kết hợp đồng, liên doanh liên kết

v.v… Hệ thống cung cấp điện, nước, thoát nước, bưu chính viễn thông v.v…

cũng có ảnh hưởng rất lớn tới phát triển của các LN, đặc biệt là quá trình

CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, những hạ tầng này tạo điều kiện cho

áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo

vệ sức khoẻ người lao động, góp phần phát triển KT-XH bền vững.

25

- Vốn cho SXKD: Đây là nguồn lực quan trọng của quá trình SXKD.

Các LN muốn đầu tư phát triển, mở rộng cơ sở sản xuất, đầu tư trang thiết bị

mới, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường v.v… đều phải cần đến nhu cầu

vốn. Vốn nhiều hay ít do nhu cầu quy mô, đặc điểm sản xuất sản phẩm các

ngành nghề ở từng LN. Ngày nay các LN đang phát triển theo xu thế hiện đại,

đa dạng, chuyên môn hoá, sản phẩm hàng loạt… thì nhu cầu về vốn là rất lớn.

Sự đáp ứng về vốn có một ý nghĩa quyết định cho sự hội nhập, cạnh tranh và

phát triển của các LN.

- Nguyên vật liệu: Sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương

trước đây là đặc điểm của LN và là nhân tố góp phần hình thành LN. Hiện

nay, do hội nhập kinh tế, CSHT giao thông, bưu chính viễn thông… thuận lợi,

nguồn nguyên vật liệu khác nhau cho sản xuất các sản phẩm. Vì vậy khối

lượng, chất lượng, chủng loại và khoảng cách nguồn nguyên vật liệu có ảnh

hưởng trực tiếp tới chất lượng, giá thành, lợi nhuận của các cơ sở sản xuất.

Việc sử dụng các loại nguyên vật liệu hợp lý, thay thế, giá rẻ phù hợp với quá

trình sản xuất là nhân tố tác động đến sự phát triển của các LN.

- Nguồn nhân lực: Những nghệ nhân, chủ cơ sở SXKD và những người thợ

thủ công có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển các LN.

Những nghệ nhân, những thợ thủ công lành nghề là những người truyền nghề, dạy

nghề, đồng thời là những người sáng tạo ra các sản phẩm độc đáo. Ngày nay việc

phát triển sản xuất theo hướng CNH, HĐH, hội nhập, thị trường cạnh tranh đòi

hỏi chất lượng nguồn nhân lực cao. Đó là đội ngũ các chủ cơ sở SXKD phải am

hiểu nhiều mặt KT-XH, lực lượng quản lý phải tinh thông, đội ngũ công nhân có

trình độ chuyên môn cao v.v… để đáp ứng nhu cầu của tình hình mới.

1.1.2.2. Nhân tố về chính sách

Quá trình hội nhập và phát triển đòi hỏi cùng với quá trình đổi mới

chính sách. Hệ thống các chính sách của nhà nước có những tác động to lớn

26

có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển KT - XH nói chung và các LN nói

riêng. Sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động SXKD trong điều kiện

phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu, mà các công cụ quan trọng nhất là

các chính sách, đặc biệt là các chính sách kinh tế. Các chính sách này có vai

trò trong việc hoạch định, hỗ trợ LN phát triển, tạo môi trường SXKD cho sự

phát triển của LN. Nhân tố này sẽ là trọng tâm nghiên cứu của luận án này,

vai trò của nó đối với sự phát triển LN sẽ được thể hiện rõ ở phần 1.3.

1.1.2.3. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên, truyền thống

- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, các nguồn tài

nguyên thiên nhiên là những nguồn lực và là cơ sở của lợi thế so sánh của mỗi

vùng, miền nói chung và các LN nói riêng. Các nhân tố này có thể trở thành

điều kiện để hình thành và phát triển LN, cũng có thể là đối tượng lao động để

các LN khai thác và chế biến. Vị trí địa lý thuận lợi cũng sẽ tạo cho sự giao

lưu kinh tế, mở rộng hợp tác, hội nhập kinh tế, phát triển thị trường… tạo điều

kiện cho các LN phát triển.

- Yếu tố truyền thống: Yếu tố này cũng có vai trò ảnh hưởng nhất

định đến sự phát triển LN. Trong các LNTT các nghệ nhân, thợ cả có tay

nghề cao là những hạt nhân để bảo tồn duy trì và phát triển LN. Những nét

độc đáo của sản phẩm truyền thống gắn với đặc trưng văn hoá của từng LN

là những giá trị vô hình tạo nên sự tồn tại phát triển của các LN. Những

luật lệ, quy ước, phong tục tập quán của các LN cũng tạo ra những phong

cách riêng về đạo đức nghề nghiệp và cũng có khi thúc đẩy LN và cũng có

thể kìm hãm sự phát triển các LN. Những yếu tố truyền thống phải được

kết hợp chặt chẽ với việc tiếp thu những yếu tố mới, đặc biệt là về khoa

học công nghệ, thị trường hội nhập và cạnh tranh… để các LN và sản phẩm

của nó vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc vừa được xã hội, thị trường

tiếp nhận và thúc đẩy phát triển.

27

1.1.3. ChÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ vµ vai trß cña nã ®èi

víi lµng nghÒ

1.1.3.1. Khái niệm và đặc trưng của chính sách phát triển làng nghề

Việc sử dụng thuật ngữ “chính sách” đã hiện hữu ở nước ta khá phổ

biến, nhưng khái niệm về chính sách còn được hiểu theo nhiều quan niệm

khác nhau:

- Thứ nhất: Chính sách có nghĩa là một cá nhân hay tổ chức đã quyết

định một cách thận trọng và có ý thức cách giải quyết các vấn đề tương tự.

Chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định. Chúng

vạch ra phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định nhằm hướng suy

nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện các

mục tiêu chung của tổ chức.{43, tr.21}

- Thứ hai: Chính sách được hiểu là những chuẩn tắc cụ thể để thực

hiện đường lối, nhiệm vụ, chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất

định trên những lĩnh vực nào đó. {42, tr.475}

- Thứ ba: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo

hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm

quyền của họ.{22, tr.37}

- Thứ tư: Chính sách là tổng thể các hành động, các quan điểm với công

cụ, phương tiện, biện pháp, kỹ thuật mà chủ thể ban hành chính sách sử dụng để

theo đuổi các mục tiêu đã định trong một khoảng thời gian xác định. {9, tr.25-26}

Thống nhất các quan niệm trên cho thấy chính sách bao hàm các yếu tố

cấu thành đó là chủ thể chính sách theo quan điểm chỉ đạo, mục tiêu của

chính sách, nguồn lực thực thi chính sách, môi trường chính sách và đối tượng

liên quan đến chính sách. Vì vậy cũng có thể hiểu một cách ngắn gọn chính

sách là những nỗ lực của chủ thể chính sách nhằm thực hiện các mục tiêu,

nhiệm vụ đã xác định.

28

Trong các chính sách thì chính sách KT-XH hay còn gọi là chính sách

công có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là tổng thể các quan điểm, tư tưởng,

các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể

KT-XH nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất

định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước.

Hiện nay, nghiên cứu về chính sách phát triển LN chưa thấy có một

khái niệm thống nhất. Chính sách phát triển LN là tổng hợp các chính sách

khác nhau, tác động phạm vi rộng, dài hạn đến sự phát triển của các LN. Các

chính sách này cũng sử dụng rất nhiều các công cụ, là hợp điểm của nhiều

chính sách bộ phận.

Vì vậy có thể hiểu chính sách phát triển LN là tổng thể các quan điểm,

biện pháp, mục đích nhằm phát triển LN theo định hướng chiến lược phát

triển bền vững.

Tuy nhiên theo phạm vi và mục đích nghiên cứu của luận án này thì các

chính sách phát triển LN được giới hạn ở tầm nhóm chính sách là chính sách

về đất đai, về khuyến khích đầu tư, về thương mại thị trường, về thuế, tín

dụng, về khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường.

Đây là những chính sách có tác động cơ bản tới sự phát triển của LN theo

hướng tăng trưởng về tốc độ phát triển, cơ cấu (tỷ trọng) tổng sản phẩm, thu

nhập và đảm bảo môi trường sinh thái ở các LN. Chính sách phát triển LN có

thể khái quát bởi các đặc trưng cơ bản như sau:

- Một là: Đối tượng tác động của chính sách phát triển LN là toàn bộ

các hoạt động SXKD và đời sống KT - XH của các LN. Để LN phát triển thì

nhà nước phải chủ động hoạch định các chính sách tác động vào các yếu tố

ảnh hưởng đến sự phát triển của các LN. Đối tượng của chính sách phát triển

LN không chỉ liên quan đến các hộ, cơ sở SXKD ngành nghề của LN mà còn

liên quan tới người tiêu dùng và môi trường sống của con người nói chung. Vì

29

vậy, bên cạnh các biện pháp, phương tiện kích thích sự phát triển tăng trưởng

về tốc độ, cơ cấu, thu nhập của LN, chính sách của Nhà nước cũng cần phải

kiểm soát, kiềm chế, khắc phục những hạn chế của phát triển LN, đặc biệt là

những vấn đề về trách nhiệm đối với xã hội, người tiêu dùng và môi trường.

- Hai là: Chính sách phát triển LN là tập hợp liên quan đến một hệ thống

rất nhiều các chính sách công khác nhau, đặc biệt là hệ thống các chính sách

về phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó có các LN như các chính sách

về ngành nghề nông thôn, chính sách đầu tư CSHT, chính sách đầu tư tín

dụng, chính sách về thương mại, khoa học công nghệ, đào tạo v.v... Môi

trường kinh doanh của các LN liên quan đến toàn bộ các yếu tố kinh tế, xã hội

tự nhiên tác động đến hoạt động SXKD ở các LN và đặc biệt quan trọng là thị

trường hàng hoá và thị trường của các yếu tố sản xuất như thị trường tài

chính, lao động, khoa học công nghệ... Các yếu tố, thị trường này nếu không

thuận lợi thì chính sách phát triển LN khó có thể phát huy được hiệu quả

mong muốn. Vì vậy cũng có thể nói kết quả chính sách phát triển LN là kết

quả tổng hợp của nhiều chính sách KT- XH.

- Ba là: Chủ thể trực tiếp hoạch định chính sách và thực thi chính sách

phát triển LN theo phân cấp về cấp độ ban hành các chính sách. Các chính

sách lớn thể hiện trong các hệ thống pháp luật như luật, pháp lệnh do Quốc

hội ra quyết định. Thông thường các chính sách phát triển LN do Chính phủ

và Bộ ngành TW quyết định như các Nghị định, Quyết định của Chính phủ,

các Thông tư, Quyết định của Bộ ngành. Trên cơ sở các chính sách của TW, ở

các địa phương căn cứ điều kiện, tình hình thực tế của mình, HĐND và

UBND địa phương cũng có thể ban hành các chính sách phù hợp. Với nước

ta, Đảng là Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện. Vì vậy, chính sách nói

chung và chính sách phát triển LN nói riêng còn chịu sự ảnh hưởng, chỉ đạo

bởi các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng. Việc thực hiện chính sách phát triển

30

LN phải có sự phối hợp chặt chẽ của hệ thống các cơ quan nhà nước liên quan

các cấp. Việc hoạch định và kết quả thực thi chính sách phát triển LN chịu

ảnh hưởng sâu sắc của cách hiểu, cách làm, cách ứng xử theo phân cấp của

các Bộ, ngành và chính quyền các địa phương.

- Bốn là: Chính sách phát triển LN có thể tác động theo cả 2 hướng

thúc đẩy và hạn chế phát triển. Chúng gồm 3 nhóm biện pháp: Về kinh tế là

các chính sách sử dụng các công cụ, đòn bẩy kinh tế tác động vào lợi ích của

các hộ, cơ sở SXKD trong các LN. Về hành chính là các luật pháp, thủ tục

hành chính. Về giáo dục tuyên truyền là các chính sách xúc tiến đầu tư, xúc

tiến thương mại, giáo dục, đào tạo...

Mặt khác, chính sách phát triển LN cũng có sự phân biệt đối xử thông

qua các tiêu chí về ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn, quy mô... để khuyến khích,

ưu đãi hoặc hạn chế.

- Năm là: Mục tiêu của chính sách phát triển LN là sự tăng trưởng về

tốc độ, cơ cấu và thu nhập. Nói cách khác là hướng tới bảo tồn và phát triển

các LN nhằm sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực ở nông thôn tăng giá trị sản

xuất của các LN, cải thiện cơ cấu tổng sản phẩm xã hội, giải quyết việc làm

và tăng thu nhập cho người lao động. Đồng thời đảm bảo phát triển bền vững,

bảo vệ môi trường và đa dạng hoá sinh học ở các LN góp phần đáng kể vào

quá trình CNH, HĐH đất nước.

1.1.3.2. Phân loại chính sách phát triển làng nghề

Cũng như các chính sách KT-XH nói chung, hệ thống các chính sách

phát triển LN rất đa dạng có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau:

- Theo cấp có thẩm quyền ban hành chính sách (cấp độ chính sách) phụ

thuộc vào chủ thể quyết định chính sách như:

+ Chính sách phát triển LN do Quốc hội ra quyết định là những vấn đề

cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, văn

31

hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường, an ninh quốc phòng, dân tộc,

tôn giáo, đối ngoại, tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ,

cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân mà có ảnh hưởng tới phát

triển LN.

+ Chính sách phát triển LN do chính phủ và các bộ ngành trung ương

quy định chi tiết và các biện pháp cụ thể để thi hành chính sách phát triển LN

do Quốc hội quy định.

+ Chính sách phát triển LN do địa phương (HĐND và UBND) quyết

định nhằm cụ thể hóa các chính sách do cấp trên ban hành và các chính sách

mang tính đặc thù với điều kiện KT - XH của địa phương phù hợp với chính

sách, pháp luật hiện hành.

- Theo nội dung của chính sách phát triển LN có thể phân loại 8 nhóm

chính là: chính sách về đất đai; chính sách về khuyến khích đầu tư; chính sách

về thương mại, thị trường; chính sách về thuế; chính sách về tín dụng, chính

sách về khoa học công nghệ; chính sách về đào tạo nguồn nhân lực; chính

sách về bảo vệ môi trường. Ngoài ra còn một số nhóm khác cũng ảnh hưởng

đến phát triển LN nhưng luận án này không đi sâu nghiên cứu như: chính sách

về xóa đói giảm nghèo; chính sách về văn hóa thông tin; chính sách về bảo

tồn và phát huy di sản và truyền thống dân tộc v.v…

- Ngoài hai tiêu chí phân loại trên còn có thể chia chính sách phát triển

LN theo tiêu chí khác là:

+ Theo thời hạn phát huy hiệu lực của chính sách gồm: chính sách dài

hạn, chính sách trung hạn và chính sách ngắn hạn.

+ Theo phạm vi ảnh hưởng của chính sách gồm: chính sách vĩ mô,

chính sách trung mô và chính sách vi mô.

+ Theo lĩnh vực tác động của chính sách gồm: chính sách kinh tế; chính sách

xã hội; chính sách văn hóa; chính sách đối ngoại; chính sách an ninh quốc phòng.

32

Như vậy có rất nhiều loại chính sách phát triển LN có cấu trúc đa dạng,

đan xen và lồng ghép vào nhau bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh

tế - xã hội của LN. Mỗi một chính sách đều có mối liên hệ với các chính sách

khác và đều có những ảnh hưởng nhất định đến mục tiêu chung của xã hội nói

chung và phát triển LN nói riêng.

1.1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng chính sách phát triển

làng nghề

Chính sách có thể tác động thúc đẩy hoặc có thể cản trở sự phát triển

của LN hoặc không mang lại những tác dụng mong muốn. Điều này phụ

thuộc vào quá trình chính sách, đó là hoạch định chính sách, tổ chức thực thi

chính sách và phân tích chính sách để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện

chính sách. Vì vậy chất lượng của chính sách phát triển LN chịu ảnh hưởng

bởi nhiều nhân tố, trong đó một số nhân tố cơ bản là:

- Đường lối chính trị và quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước.

Trong giai đoạn hiện nay chính sách phải hướng tới đẩy mạnh công cuộc đổi

mới toàn diện và đồng bộ do Đảng Cộng sản khởi xướng, thúc đẩy phát triển

kinh tế thị trường định hướng XHCN, đảm bảo tăng trưởng nhanh, hiệu quả

và bền vững KT-XH.

- Những quy định về pháp luật hiện hành: Hệ thống pháp luật ở nước ta

đang trong quá trình hoàn thiện, thống nhất và từng bước phù hợp với định

hướng XHCN, tạo cơ sở pháp lý hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta.

Các chính sách KT-XH là sự cụ thể hoá đường lối pháp luật, vì vậy phải căn

cứ vào chúng khi hình thành các chính sách cụ thể.

- Điều kiện và tình hình thực tế phát triển KT-XH của đất nước: Các

điều kiện kinh tế về trình độ phát triển, tốc độ tăng trưởng, cơ cấo kinh tế, sự

phát triển và nhu cầu từng lĩnh vực KT-XH v.v…đều ảnh hưởng tới hình

thành chính sách. Những hoàn cảnh lịch sử trong giai đoạn cũng ảnh hưởng

33

rất lớn tới chính sách. Nước ta đang trong quá trình đổi mới toàn diện KT-XH

và hội nhập kinh tế thế giới, vì vậy chính sách KT-XH phải phù hợp với thực

tế và thông lệ quốc tế cũng như các cam kết song phương và đa phương…

- Xu thế phát triển của chính sách KT-XH thế giới: Trong giai đoạn

hiện nay toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu, tác

động đến tất cả các quốc gia. Nó vừa là sự lựa chọn, vừa là sức ép, áp lực phải

chấp nhận sân chơi chung của toàn thế giới, nó vừa mang lại cơ hội vừa là

thách. Vì vậy các chính sách khi hình thành phải xét đến khả năng tận dụng

cơ hội vượt qua thách thức để đảm bảo xu thế chung toàn cầu.

- Điều kiện cụ thể, đặc thù của địa phương: Các điều kiện về kinh tế, xã

hội của tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, có cơ cấu kinh tế chuyển dịch

tích cực với các điều kiện tự nhiên khá thuận lợi về địa lý, cơ sở hạ tầng…,

trình độ dân trí khá cao, thu nhập, đời sống nhân dân khá v.v… là những yếu

tố tác động mạnh mẽ đến việc thực thi chính sách, từ đó ảnh hưởng trực tiếp

đến chất lượng của chính sách. Mặt khác những đặc điểm của LN ở địa

phương cũng tác động đến chất lượng của chính sách, các chính sách phải phù

hợp với các đặc điểm này. Ví dụ như chính sách phải góp phần cải thiện môi

trường ở các LN, đổi mới khoa học công nghệ thay cho thủ công lạc hậu,

khuyến khích các mô hình sản xuất lớn thay cho manh mún nhỏ bé v.v…

- Bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ hoạch định và thực thi chính sách:

Thành công của chính sách phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và sự hoạt động

của cơ quan và cán bộ hoạch định và thực thi chính sách đó. Phải có bộ máy

hiệu lực và cán bộ có đủ trình độ, năng lực, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các

cơ quan chức năng, giữa các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương,

giữa nhà nước và nhân dân, thì mới có thể làm tốt công tác phân tích, dự báo,

nêu sáng kiến lựa chọn phương án tối ưu để xây dựng ban hành chính sách, tổ

chức các hình thức cơ cấu thực hiện chính sách như hướng dẫn, đào tạo tập

34

huấn, xây dựng các chương trình, dự án cụ thể hóa để thực hiện chính sách, tổ

chức kiểm tra, phân tích đánh giá để có những tổng kết, điều chỉnh, hoàn

thiện chính sách.

- Thủ tục hành chính và kinh phí: Các thủ tục hành chính tạo ra môi

trường cho quá trình chính sách, quy định những đòi hỏi và bước đi cần thiết

cho quá trình chính sách tạo ra trình tự ổn định và rành mạch cho hoạt động

quản lý tối ưu. Mặt khác để có một chính sách và chính sách đó đi vào cuộc

sống đòi hỏi phải có một nguồn kinh phí nhất định từ NSNN; từ các tổ chức

và nhân dân đóng góp, đầu tư; từ tài trợ, ủng hộ của tổ chức, nhân dân trong

và ngoài nước.

- Công tác tuyên truyền, thái độ và hành động của nhân dân: Để chính

sách đi vào cuộc sống cần tổ chức phối hợp các ngành, các cấp trong việc

hướng dẫn, tập huấn, huy động sự vận hành của hệ thống thông tin đại chúng

v.v… nhưng đồng hành với nó thì chính sách đó phải nhận được thái độ và

hành động ủng hộ và hưởng ứng của người dân. Nếu chính sách không đem

lại lợi ích cho họ hoặc người dân chưa hiểu đúng ý đồ và lợi ích của chính

sách đó thì họ sẽ không ủng hộ và nảy sinh những khó khăn trong thực hiện

chính sách.

1.1.3.4. Vai trò của chính sách đối với sự phát triển các làng nghề

Chính sách có 4 chức năng cơ bản, đó là chức năng định hướng, chức

năng điều tiết, chức năng tạo tiền đề cho sự phát triển và chức năng khuyến

khích sự phát triển. Vì vậy, nhân tố chính sách có một vai trò đặc biệt quan

trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của các LN. Điều này có

thể thấy thông qua thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập của Nhà nước,

thông qua chính sách phát triển các thành phần kinh tế, thông qua một loạt các

văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý và môi trường SXKD cho các LN

phát triển. Đặc biệt là các chính sách về tài chính, tín dụng, đất đai, khoa học

35

công nghệ và các chính sách thị trường v.v... Mặt khác bản thân chính sách là

ý thức mong muốn chủ quan của Nhà nước tác động vào tất cả các yếu tố ảnh

hưởng đến phát triển LN. Các yếu tố này (ví dụ như vốn, thị trường, nguồn

nhân lực v.v...) không thể phát huy hiệu quả sự ảnh hưởng tác động đến phát

triển LN nếu chính trong các yếu tố này không có khung pháp lý, cơ chế

chính sách tác động. Xét ở góc độ khác thì có thể nói cơ chế chính sách là

nhân tố quyết định và mở đường cho các nhân tố khác phát huy hiệu quả ảnh

hưởng đến phát triển LN. Cụ thể là:

- Kích thích thu hút vốn đầu tư, tăng khả năng tích luỹ và huy động vốn

cho phát triển làng nghề.

Để đáp ứng nhu cầu tình hình mới về hội nhập, khi thị trường cạnh tranh

và phát triển đòi hỏi một lượng vốn lớn cho các LN đổi mới trang thiết bị, công

nghệ mở rộng SXKD. Bằng các chính sách tín dụng thông qua công cụ lãi suất

để ưu đãi cho các LN vay vốn tạo điều kiện cho cơ sở SXKD giảm chi phí đầu

tư, tăng lợi nhuận, tăng tích luỹ, hạ giá thành sản phẩm. Mặt khác, thông qua các

kênh tài chính khác, nhà nước có những chính sách kiểm soát và các cơ chế điều

hành để các cơ sở SXKD huy động thêm nguồn vốn từ việc phát hành các chứng

chỉ có giá như phát hành trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu. Đối với từng nguồn vốn

cụ thể áp dụng biện pháp lãi suất ưu đãi có phân biệt bằng cách cấp tín dụng ưu

đãi, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư... để khuyến khích việc đầu tư vốn cho các LN, đặc

biệt là phục vụ các mục tiêu tạo việc làm, khôi phục tài nguyên, xoá đói giảm

nghèo, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa... Thông qua chính sách thuế như

miễn giảm đối với một số lĩnh vực, ngành nghề hay các doanh nghiệp mới thành

lập đã khuyến khích các cơ sở SXKD, nhà đầu tư tích tụ vốn, mở rộng SXKD...

Nhà nước cũng có thể thực thi chính sách đảm bảo tín dụng cho các hộ SXKD

và các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua việc thành lập các quỹ cho vay giải

quyết việc làm, quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ v.v...

36

Các quỹ này sẽ góp phần khơi thông thêm nguồn vốn tín dụng, tăng khả năng

vay vốn của các hộ, cơ sở SXKD ở các LN, giúp họ thực thi có hiệu quả hơn

phương án đầu tư, tăng cường năng lực tài chính để phát triển SXKD theo mục

tiêu mong muốn.

- Góp phần định hướng và điều tiết hoạt động các làng nghề.

Nhà nước có thể sử dụng các chính sách tài chính về ưu đãi, miễn giảm

thuế, các chính sách tín dụng, các chính sách phát triển ngành nghề để định

hướng các hộ, tổ chức SXKD phát triển những ngành nghề ưu tiên phát triển,

những vùng hải đảo, miền núi xa xôi hẻo lánh để khai thác tiềm năng nhỏ bé

tại địa phương, góp phần xoá bỏ sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị,

giữa đồng bằng và miền núi...

Bên cạnh chính sách thuế và chính sách tín dụng, chính sách đầu tư

cũng được Nhà nước sử dụng như một công cụ quan trọng để định hướng phát

triển các LN. Chính sách đầu tư thường bao hàm hai nội dung chủ yếu là khai

thác huy động vốn và phân phối sử dụng vốn. Nguồn vốn cho đầu tư phát

triển nền kinh tế quốc dân bao gồm hai nguồn vốn trong nước và vốn nước

ngoài. Về cơ bản lâu dài, nguồn vốn cho sự phát triển kinh tế mỗi nước là

nguồn vốn trong nước. Việc huy động vốn trong nước được thực hiện thông

qua đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, trong đó đầu tư trực tiếp vào SXKD là

một hướng quan trọng, tạo ra hiệu quả trực tiếp cho sự tăng trưởng kinh tế đất

nước. Để thực hiện việc khuyến khích đầu tư trực tiếp, ngoài các biện pháp ưu

đãi về đầu tư đối với người bỏ vốn đầu tư trực tiếp, cần áp dụng các chính

sách tài chính hợp lý và các biện pháp khác để khuyến khích nhân dân chuyển

từ đầu tư vào bất động sản, dự trữ ngoại tệ, vàng sang đầu tư trực tiếp vào

SXKD, chẳng hạn như đánh thuế cao vào thu nhập từ buôn bán bất động sản.

Việc phân bổ sử dụng vốn đầu tư giữ một vị trí quan trọng trong thực

hiện chính sách đầu tư để tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý về ngành nghề và khu

37

vực trong một chỉnh thể thống nhất của nền kinh tế quốc gia. Trong nền kinh

tế kế hoạch tập trung, Nhà nước là người đầu tư chủ yếu. Trong nền kinh tế

thị trường, Nhà nước chủ yếu giữ vai trò là người điều hành nền kinh tế thông

qua các công cụ quản lý vĩ mô, mà trực tiếp là chi đầu tư của Nhà nước. Vốn

đầu tư phát triển của Nhà nước được xem như một công cụ nhằm khuyến

khích, tạo điều kiện, môi trường và định hướng đầu tư cho các nguồn vốn

khác, mà trước hết là đầu tư cho việc xây dựng và cải thiện kết cấu hạ tầng.

Bên cạnh đó, đầu tư của Nhà nước là đầu tư có tính chất châm ngòi. Ngoài

việc đầu tư vào việc phát triển hạ tầng, Nhà nước tập trung đầu tư và hỗ trợ

vào những ngành mũi nhọn, những doanh nghiệp có tầm quan trọng nhằm tạo

đà cho các doanh nghiệp nhỏ, các LN phát triển kéo theo và trở thành vệ tinh

của các doanh nghiệp lớn.

- Tạo lập môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi nhằm nâng cao sức

cạnh tranh của các làng nghề.

Quá trình SXKD các hộ, các cơ sở sản xuất trong LN phải tuân thủ quy

định của các luật, văn bản, chính sách do Nhà nước ban hành có liên quan. Các

chính sách này có thể khuyến khích một số ngành nghề nhưng lại hạn chế, thậm

chí cấm không cho phát triển một số ngành nghề. Nhà nước thông qua việc xây

dựng và ban hành chính sách, pháp luật nhằm tạo lập môi trường kinh doanh

thuận lợi cho các hộ và các doanh nghiệp hoạt động đồng thời giúp đỡ hỗ trợ về

vật chất để tăng cường năng lực của các cơ sở, hộ gia đình trong SXKD ở các

LN. Cùng với các yếu tố khác về tổ chức bộ máy quản lý, cơ chế vận hành, điều

kiện truyền thống văn hoá từng vùng và các quan hệ ứng xử của cơ sở SXKD và

các hộ gia đình trong LN sẽ tạo nên một môi trường SXKD thuận lợi và dĩ nhiên

qua đó nâng cao sức cạnh tranh của các LN.

Cùng với chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đầu tư xây dựng CSHT

tạo môi trường SXKD thuận lợi, Nhà nước còn sử dụng các chính sách tài trợ

38

trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong

các LN như trợ giá xuất khẩu, hỗ trợ đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ

thuật, hỗ trợ về công nghệ, xúc tiến thương mại... nhằm giúp các LN nâng cao

khả năng hoạt động SXKD và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Hỗ trợ xuất khẩu là biện pháp tài trợ trực tiếp và gián tiếp của Nhà

nước cho các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu khi giá hàng xuất khẩu trên

thị trường thế giới xuống quá thấp. Biện pháp này được nhiều nước thực hiện

nhằm giúp cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn khi thị trường xuất khẩu

hàng hoá biến động theo hướng bất lợi.

Hỗ trợ về đào tạo là biện pháp tài trợ có tính chất gián tiếp nhằm giúp

cho các hộ gia đình và các cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa

nâng cao trình độ quản lý, trình độ tay nghề của người lao động. Chính phủ

nhiều nước đã thực hiện các chương trình đào tạo bồi dưỡng miễn phí hoặc tài

trợ một phần. Thông qua các chương trình đào tạo này, tay nghề của người

lao động được nâng lên và cuối cùng với việc áp dụng các công nghệ quản lý

tiên tiến, hiện đại, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, tăng cường

khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Hỗ trợ về công nghệ chủ yếu được thực hiện thông qua các trung tâm

khoa học công nghệ quốc gia. Chính phủ các nước thường thông qua các

trung tâm này để tư vấn, phổ biến thông tin khoa học công nghệ cho các

doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các LN và trong một số trường hợp, các doanh

nghiệp nhỏ và vừa còn được chuyển giao công nghệ miễn phí hoặc với mức

giá ưu đãi v.v...

Hiện nay, Việt Nam đã ra nhập WTO và đang từng bước hội nhập sâu

rộng vào kinh tế thế giới. Thực tế cho thấy thị trường nước ta và thị trường

nước ngoài tiếp tục được mở rộng. Điều đáng chú ý là để sản phẩm của các

LN có sức cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là để xâm nhập vào thị trường

39

nước ngoài thì sản phẩm xuất khẩu của LN phải đảm bảo những yêu cầu rất khắt

khe của những nước nhập khẩu, trong đó có những thị trường rất khắt khe ở một

số nước phát triển như EU, Mỹ, Nhật ... để thúc đẩy LN phát triển, trong chính

sách nhà nước cần chú trọng đến hỗ trợ chuyển giao, cải tiến công nghệ sản xuất

để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, giảm thiểu ô nhiễm

môi trường, cải tiến chính sách xúc tiến thương mại, chiến lược xây dựng sản

phẩm, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ... nhằm hỗ

trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các LN phát triển và hội nhập.

1.2. ChÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ ë mét sè n−í1.2. ChÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ ë mét sè n−í1.2. ChÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ ë mét sè n−í1.2. ChÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ ë mét sè n−íc c c c

ch©u ¸ vµ bµi häc kinh nghiÖmch©u ¸ vµ bµi häc kinh nghiÖmch©u ¸ vµ bµi häc kinh nghiÖmch©u ¸ vµ bµi häc kinh nghiÖm

1.2.1. ChÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ ë mét sè n−íc Ch©u ¸¸¸¸

Hiện nay, việc phát triển LN ở các nước trên thế giới là một trong

những giải pháp tích cực góp phần giải quyết những vấn đề KT-XH trong quá

trình công nghiệp hoá nông thôn. Một số nước châu Á đã có những thành

công từ những chính sách phù hợp phát triển LN vì vậy để rút ra những bài

học kinh nghiệm cho Việt Nam cần phải tìm hiểu các chính sách, giải pháp

phát triển LN ở các nước này.

1.2.1.1. Trung Quốc

Nghề thủ công ở Trung Quốc có từ rất lâu và rất nổi tiếng như: đồ gốm,

dệt vải, dệt tơ lụa, luyện kim, làm giấy... Trung Quốc phát triển từ những

người làm nghề thủ công thành các tổ chức, thành hợp tác xã, sau này phát

triển thành các xí nghiệp hương trấn. Xí nghiệp hương trấn là một hình thức

mới của công nghiệp hoá nông thôn mang đặc sắc Trung Quốc. Nó chiếm một

vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Từ khi thực hiện cải

cách mở cửa đến nay, xí nghiệp hương trấn phát triển đã làm lớn mạnh thực

lực kinh tế quốc dân, thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, thúc đẩy cải cách

kinh tế Trung Quốc.

40

Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến việc phát triển các ngành nghề

trong các xí nghiệp hương trấn, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan

trọng của công cuộc công nghiệp hoá nông thôn Trung Quốc. Trước hết là có

những cải cách về thể chế và phi thể chế đối với những vùng nông thôn để

phát triển kinh tế thị trường.

Chính sách quan trọng khác của chính phủ là phân cấp và tăng quyền tự

chủ hơn cho chính quyền địa phương đặc biệt là việc phân cấp về quản lý chi

tiêu ngân sách chính quyền địa phương, có quyền và trách nhiệm chi tiêu

ngân sách để phát triển địa phương mình, đặc biệt là đầu tư cho CSHT.

Chính phủ đã ban hành chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và phát

triển nông thôn như tăng đầu tư cho sản xuất hàng nguyên liệu và sơ chế, trợ

giá hàng nông sản và có chính sách chỉ phát triển các xí nghiệp chế biến thực

phẩm ở vùng nông thôn.

Chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp cụ thể

đã tác động mạnh đến sự phát triển các xí nghiệp hương trấn:

- Chính sách thuế: Quy định chính sách thuế khác nhau cho các vùng

nghề khác nhau, ưu tiên các xí nghiệp hương trấn, hạ mức thuế áp dụng cho

các xí nghiệp hương trấn, miễn tất cả các loại thuế trong 3 năm.

- Chính sách tín dụng: Cung cấp tín dụng cho xí nghiệp hương trấn,

một số ngân hàng hàng đầu đã tham gia vào việc cho vay đối với các xí

nghiệp hương trấn.

- Chính sách xuất khẩu: Tạo điều kiện cho các xí nghiệp hương trấn

tham gia vào các hoạt động của thị trường xuất khẩu, từ đó tạo ra sự phát triển

vượt bậc của nhiều xí nghiệp hương trấn.

- Chính sách kích cầu: Thành tựu chủ yếu mà kinh tế Trung Quốc đạt

được là nâng cao thu nhập cho người nông dân, tăng nhu cầu tiêu dùng, từ đó

mở ra cơ hội thuận lợi cho xí nghiệp hương trấn và ngành nghề phát triển.

41

- Chính sách bảo hộ hàng nội địa: Cấm nhập khẩu những mặt hàng

công nghệ sản xuất trong nước có thể giải quyết được để tạo điều kiện cho các

xí nghiệp hương trấn khai thác, thị trường trong nước.

- Chính sách công nghệ: Chính phủ đã đề ra chương trình “đốm lửa”

nhằm chuyển giao công nghệ và khoa học ứng dụng tiến bộ khoa học công

nghệ đến những vùng nông thôn, kết hợp khoa học với các hoạt động kinh tế.

Bằng những chính sách đó, các xí nghiệp hương trấn có sự đóng góp

tích cực vào tăng trưởng kinh tế Trung Quốc làm thay đổi diện mạo KT-XH

nông thôn. Năm 2006, công nghiệp nông thôn chiếm 20% GDP và thu hút

khoảng 160 triệu lao động nông thôn. Cơ cấu kinh tế nông thôn có sự thay đổi

tích cực theo hướng công nghiệp hoá, ngành nghề trong nông thôn đa dạng

hơn. {19, tr.117-138}

1.2.1.2. Nhật Bản

Nhật Bản là nước đầu tiên ở châu Á từ một nước nông nghiệp lạc hậu

thực hiện quá trình công nghiệp hoá đất nước, trở thành một cường quốc kinh

tế với nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Ở Nhật Bản, nhiều vùng

trên đất nước đã tồn tại các LN với các nghề thủ công đa dạng và phong phú:

đan lát, dệt chiếu, dệt lụa, may áo kimônô, rèn kiếm, chế biến lương thực,

thực phẩm, các nghề thủ công mỹ nghệ. Ngày nay đã xuất hiện những ngành

nghề mới trong nông thôn.

Các LN phát triển đã có những tác động quan trọng tới sự phát triển

kinh tế - xã hội nông thôn Nhật Bản. Chính phủ Nhật bản rất chú trọng tới

việc khôi phục và phát triển nghề thủ công truyền thống của các tỉnh, các

vùng khác nhau của đất nước. Một loạt những quy định của pháp luật ra đời

nhằm khôi phục và phát triển nghề sản xuất thủ công mỹ nghệ truyền thống

gọi tắt là “Luật nghề truyền thống”. Đây là một luật pháp đặc biệt để khôi

phục và phát triển nghề thủ công truyền thống vốn ít được quan tâm trong

42

chính sách phát triển KT - XH từ trước tới nay của Nhật bản. Đồng thời CP

cũng khuyến khích phát triển các ngành nghề mới trong nông thôn.

- Chính sách tín dụng: Thành lập hệ thống bảo lãnh tín dụng và bảo

hiểm tín dụng để giúp đỡ các LN vay vốn không cần tài sản thế chấp với lãi

suất thấp. Hỗ trợ, giúp đỡ về mặt tài chính, vốn cho phát triển các LN.

- Đặc biệt, Nhật Bản có chính sách trợ giúp theo kế hoạch khôi phục và

phát triển LNTT:

+ Các tổ chức của những người sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền

thống lập kế hoạch khôi phục và phát triển nghề thủ công mỹ nghệ truyền

thống trên cơ sở thực tế và nhu cầu cần đáp ứng. Từ đó, Nhà nước sẽ trợ giúp,

hỗ trợ kinh phí, đảm bảo vốn thực hiện kế hoạch đó.

+ Chính phủ còn tạo thêm điều kiện thành lập hiệp hội khôi phục và

phát triển LNTT nhằm khôi phục và chấn hưng ngành sản xuất hàng thủ công

mỹ nghệ truyền thống trong cả nước, đồng thời làm cho các tầng lớp nhân dân

hiểu đúng và rõ về hàng công nghệ truyền thống bằng các biện pháp:

+ Công nhận các danh hiệu các “nghệ nhân công nghệ truyền thống”;

Thực hiện các chính sách khen thưởng; Phát hành giấy chứng nhận hàng công

nghệ truyền thống cho các sản phẩm truyền thống đạt tiêu chuẩn kiểm tra; Tổ

chức triển lãm, hội thi, xây dựng phim về công nghệ sản phẩm truyền thống,

quảng cáo ở báo chí, sách v.v...; Thành lập trung tâm thủ công truyền thống

quốc gia với chức năng thông tin tổng hợp về công nghệ sản phẩm truyền

thống v.v...

- LN ở Nhật Bản đóng vai trò làm gia công, vệ tinh của các công ty lớn,

khu công nghiệp tập trung và cung cấp những sản phẩm trung gian cho chúng.

Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho công nghiệp hoá ở đô thị và công nghiệp

nông thôn cùng phát triển, đưa nước Nhật Bản trở thành nước công nghiệp

hiện đại và cường quốc kinh tế thứ 2 trên thế giới. {13, tr.56-60}

43

1.2.1.3. Thái Lan

Thái Lan là quốc gia có nhiều ngành nghề phát triển thủ công nghiệp và

LN. Ở đó, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như chế tác vàng

bạc, đá quý, đồ trang sức được duy trì và phát triển tạo ra nhiều hàng hoá xuất

khẩu đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới.

Chính phủ Thái Lan đã đề ra chính sách “một làng, một sản phẩm”,

chính sách này không chỉ phát triển những sản phẩm hay dịch vụ đặc thù địa

phương mà còn phát triển ngành nghề đa dạng khác mà mục tiêu của nó có

tính toàn diện trên cơ sở phát triển có kế thừa văn hoá địa phương và các kiến

thức truyền thống cùng với những kinh nghiệm lâu đời để lại. Để quốc sách

“mỗi làng một sản phẩm” với những kỹ năng và kiến thức truyền thống đem

lại nguồn bền vững, chính phủ Thái Lan đã đề ra các chính sách hỗ trợ.

- Chính sách tín dụng: Thiết lập hệ thống tín dụng nông thôn, từng

bước giúp người lao động tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức để khuyến

khích đầu tư phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn. Cung cấp vốn

cho việc hình thành các doanh nghiệp cộng đồng, để người nông dân tận dụng

được thế mạnh của mình như lao động có tay nghề, có kỹ năng, có nguồn tài

nguyên tại chỗ phong phú và bí quyết nghề nghiệp của địa phương.

Khuyến khích các doanh nghiệp dành những hợp đồng phụ cho các

hoạt động thủ công nghiệp ở nông thôn, đồng thời giúp đỡ về kỹ thuật và đào

tạo thị trường cho người lao động, giúp họ nâng cao về kỹ thuật, chuyên môn

và kiến thức thị trường, SXKD.

- Chính sách đào tạo: Chính phủ chú trọng các hình thức đào tạo: đào

tạo tại chỗ, mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn tại địa phương và đào tạo

thông qua các trung tâm, các trường dạy nghề để đáp ứng được việc kết hợp

giữa kỹ năng tinh xảo với kỹ nghệ tiên tiến.

Chính phủ đầu tư một khoản vốn nhất định để xây dựng trung tâm dạy

nghề truyền thống cho những nông dân nghèo. Các trung tâm dạy nghề hàng

năm thu hút nhiều thanh niên ở các địa phương về học nghề, được cấp học

44

bổng và các điều kiện học tập. Không phải đóng học phí hay bất kỳ khoản lệ

phí nào. Kết thúc khoá học họ được giới thiệu trả lại địa phương và được tạo

điều kiện để hành nghề.

- Chính sách xuất khẩu: Thái Lan rất chú trọng phát triển các LN

truyền thống có sản phẩm xuất khẩu: gốm sứ và đồ trang sức mỹ nghệ được

làm từ vàng bạc, đá quý. Đây là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng giúp

chính phủ thu được nguồn ngoại tệ lớn.

- Chú trọng phát triển các LN có những sản phẩm có giá trị xuất khẩu

cao. Thái Lan đã thực hiện các chính sách:

+ Mời chuyên gia nước ngoài để tư vấn cho các nhà sản xuất.

+ Quảng cáo kỹ thuật trạm trổ và giá cả hợp lý của sản phẩm.

+ Hội thảo, huấn luyện cho các nhà sản xuất, xuất khẩu để nâng cao sự

hiểu biết của thị trường nước ngoài.

+ Hỗ trợ các nhà sản xuất, xuất khẩu về tài chính và nhiều đặc quyền khác.

+ Tham dự hội chợ thương mại quốc tế về nữ trang và đá quý.

- Chính sách mới lấy một sản phẩm tiêu biểu cho một chiến lược cấp quốc

gia về phát triển và quảng bá sản phẩm trong nước, xây dựng một hình ảnh Thái

Lan trên thị trường toàn cầu như một đất nước có những nét văn hoá đặc trưng.

Nó tiêu biểu cho liên kết có hiệu quả giữa chính phủ, địa phương và cộng đồng

người dân để khai thác nguồn nội lực từ cộng đồng nhân dân. Sử dụng thương

mại điện tử như một công cụ hữu hiệu để phát triển các sản phẩm truyền thống

giúp phát triển dân trí và kinh tế vùng nông thôn. {13, tr.49-51}

1.2.1.4. Ấn Độ

Ấn Độ là một nước rộng lớn, đông dân thứ 2 trên thế giới. Vì vậy nhu

cầu giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là một vấn đề rất cấp thiết.

(Phát triển công nghiệp nông thôn, công nghiệp làng xóm với các nghề thủ

công truyền thống là một giải pháp quan trọng để giải quyết vấn đề đó).

45

Ấn Độ là nước có nền văn minh, văn hoá dân tộc lâu đời được thể hiện

rất rõ trên các sản phẩm thủ công truyền thống, đồng thời cũng là nơi có nhiều

ngành nghề và LN truyền thống. Ở Ấn độ có nhiều ngành sản xuất hàng tiêu

dùng cao cấp như kim hoàn vàng, bạc, ngọc ngà, đồ mỹ nghệ, tơ lụa... Những

mặt hàng này được xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới và đem lại cho Ấn

Độ nguồn thu ngoại tệ lớn.

Chính phủ Ấn Độ rất chú trọng phát triển các nghề truyền thống và các

nghề mới trong nông thôn bằng các chính sách cụ thể:

- Chính sách tài chính, tín dụng: Thực hiện chính sách cấp tín dụng cho

nông dân nghèo thông qua chiến lược phát triển nông thôn tổng hợp, thúc đẩy

ngành nghề công nghiệp để tạo việc làm, tăng thu nhập.

Nhà nước cho các LN truyền thống vay vốn trung hạn và dài hạn từ 5-

10 năm với lãi suất thấp để mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ.

- Chính sách đào tạo: Chính phủ Ấn Độ đã thành lập 450 trung tâm đào

tạo nghề ở các vùng trong cả nước, 13 trung tâm đào tạo nâng cao tay nghề

cho thợ cả về các nghề thủ công mỹ nghệ cao cấp như: đồ ngà, đồ kim hoàn,

gốm sứ nhằm giữ gìn, khôi phục các nghề thủ công cổ truyền đặc sắc. Ngoài

ra còn có các trung tâm phát triển công nghệ, thiết kế mẫu mã kiểu mới để

đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và quốc tế. Chính phủ có chính sách

đầu tư cho giáo dục để nâng cao trình độ văn hoá, dân trí từ đó tiến hành đào

tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động.

- Chính sách đầu tư: Chính phủ tăng cường đầu tư cho CSHT, nhất

là đầu tư vào giao thông đã làm tăng cơ hội việc làm phi nông nghiệp

trong đó bao gồm cả các nghề truyền thống. Đây là giải pháp có ý nghĩa

quan trọng để mở rộng ngành nghề truyền thống trên cả hai phương tiện

sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, từ đó thu hút lao động trực tiếp hay gián

tiếp phục vụ cho LN.

46

1.2.1.5. Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, các ngành nghề thủ công truyền thống cũng được phát

triển rộng khắp. Đây là loại hình SXKD khá phổ biến ở nông thôn. Chính phủ

Hàn Quốc cũng đã chú trọng đến công nghiệp hoá nông thôn, trong đó có

ngành nghề thủ công và LN truyền thống như; hàng thủ công mỹ nghệ, hàng

thủ công dịch vụ du lịch, xuất khẩu...Ở Hàn Quốc cũng xuất hiện những LN

mới. Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành nhiều chính sách để phát triển các

LNTT như:

- Chính sách thuế: Miễn giảm thuế thu nhập, thuế lợi tức công ty, thuế tài

sản... đối với các xí nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn, mức miễn giảm từ 3-5 năm.

- Chính sách tín dụng: Các hộ làm nghề được ngân hàng cung cấp vốn

tín dụng với lãi đầu ưu đãi để mua nguyên liệu sản xuất và giúp đỡ LN truyền

thống tiêu thụ sản phẩm. Chính phủ đã thành lập các hãng thương mại để kinh

doanh những mặt hàng truyền thống này.

Với các chính sách khuyến khích đó, Hàn Quốc đã thúc đẩy phát triển

các LN, góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn, tăng cường liên kết kinh tế giữa

thành thị và nông thôn. {13, tr.55-56}

1.2.1.6. Inđônêxia

Chính phủ Inđônêxia rất quan tâm đến việc phát triển ngành nghề tiểu

thủ công nghiệp ở nông thôn. Do vậy, Chính phủ có chính sách và giải pháp

tác động và LN như:

- Xây dựng các xưởng và trung tâm để bán sản phẩm tiểu thủ công nghiệp.

- Thực hiện các dự án hướng dẫn và phát triển công nghiệp nhỏ nhằm

giáo dục đào tạo, mở mang các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp của

những doanh nghiệp nhỏ.

- Chính phủ đứng ra tổ chức một số cơ quan để quản lý, chỉ đạo, hướng

dẫn nghiệp vụ cung cấp vật tư thiết bị, tiêu thụ sản phẩm.

47

Ngoài ra Chính phủ còn ban hành một số chính sách khuyến khích hỗ

trợ công nghiệp nhỏ phát triển. Thành lập mạng lưới ngân hàng nông thôn

quy mô nhỏ ở khắp mọi miền đất nước để tạo điều kiện cung cấp tín dụng cho

nông thôn, chủ yếu cho những người nghèo thiếu việc làm. Ưu đãi về thuế với

các doanh nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu. Tổ chức “Hội đồng thủ công

nghiệp quốc gia” nhằm thúc đẩy ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển

như: Tổ chức thiết kế mẫu mã, hội chợ triển lãm ở nông thôn. Những chính

sách đó đã đem lại sự phát triển các ngành nghề truyền thống, LN thủ công

của Inđônêxia.

1.2.2. Bµi häc kinh nghiÖm vÒ chÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ

Thực tế cho thấy, ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ,

Hàn Quốc và Inđônêxia đã thu được nhiều kết quả quan trọng trong việc phục

hồi, mở mang và phát triển các LN. Để đạt được kết quả ấy, cần phải có

những chính sách, giải pháp tích cực từ phía nhà nước để kích thích và phát

huy mọi nguồn lực của các LN cho phát triển các ngành nghề. Việc ban hành

các quy định pháp chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho SXKD, hỗ trợ về

tài chính và tiếp cận nguồn vốn cùng hàng loạt các chính sách khác tác động

vào các yếu tố chi phối sự phát triển của ngành nghề nông thôn đã tạo tiền đề

và động lực cho sự phát triển của các LN.

Sự phát triển LN ở một số nước khu vực châu Á có nhiều điểm tương

đồng với nước ta. Qua nghiên cứu kinh nghiệm về chính sách phát triển LN ở

một số nước châu Á, sẽ góp phần hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển

LN ở nước ta, đó là:

1.2.2.1. Phát triển làng nghề cần gắn với quá trình công nghiệp hoá nông thôn

Quá trình CNH, đô thị hoá, thương mại hoá ở các nước, đã có lúc làm

cho yếu tố độc đáo, tinh xảo của LN bị phai nhạt, lu mờ. Nhưng nói chung

các nước đã chú trọng và coi LN là bộ phận của quá trình công nghiệp hoá

48

nông thôn. Do vậy, khi tiến hành CNH, họ thường kết hợp thủ công với kỹ

thuật cơ khí hiện đại, tuỳ điều kiện cơ sở vật chất của mỗi nước mà áp dụng

công nghệ cổ truyền hay công nghệ hiện đại. Đồng thời bố trí các cơ sở sản

xuất gần vùng nguyên liệu và đặt tại LN để thuận tiện cho việc phát triển sản

xuất, giao lưu hàng hoá. Ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Inđônêxia, người

ta cho rằng muốn đẩy mạnh CNH nông thôn, trước hết phải chú ý tới ngành

nghề truyền thống. Từ đó tạo ra thị trường nông thôn rộng lớn cho sản phẩm

phi nông nghiệp và dịch vụ, góp phần thúc đẩy LN phát triển theo hướng

CNH. Nhiều ngành nghề cổ truyền đã được trang bị máy móc, thiết bị cơ khí,

nửa cơ khí, kết hợp với bàn tay điêu luyện và óc sáng tạo của các nghệ nhân.

Vì thế ngành nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền đang có điều kiện phát triển

mạnh. Về chế tác kim cương ở Ấn Độ, chế tác đá quý và hàng mỹ nghệ ở

Thái Lan đã tạo ra mặt hàng có giá trị kinh tế cao phục vụ cho du lịch, và xuất

khẩu. Chính điều này đã tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận với kỹ thuật tiên

tiến, làm quen với tác phong sản xuất công nghiệp.

1.2.2.2. Chú trọng đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, kỹ thuật cho

nguồn nhân lực ở nông thôn

Việc đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn có vai trò quan

trọng đối với sự nghiệp phát triển của LN. Vì thế các nước đều chú ý đầu tư cho

giáo dục và đào tạo tay nghề cho người lao động để họ tiếp thu được kỹ thuật

tiên tiến, bởi vì, việc hình thành một đội ngũ lao động có tay nghề cao là rất quan

trọng. Nếu thiếu yếu tố này thì việc tiếp thu khoa học công nghệ sẽ không thành

công như mong đợi. Nhìn chung, các nước đều triệt để sử dụng nhiều hình thức

đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động như: Bồi dưỡng tại chỗ, bồi

dưỡng tập trung, bồi dưỡng ngắn hạn, theo phương châm thiếu gì huấn luyện

lấy. Xúc tiến thành lập các trung tâm, các viện nghiên cứu để đào tạo nhân lực

một cách có hệ thống bài bản đáp ứng nhu cầu của các cơ sở sản xuất hoặc địa

49

phương. Hầu hết các nước nói trên đều rất chú trọng kinh nghiệm thực tiễn, mời

những nhà kinh doanh, những nhà quản lý có kinh nghiệm trong việc CNH nông

thôn để báo cáo một số chuyên đề, hoặc mang sản phẩm đi triển lãm, trao đổi.

Họ rất chú ý hình thức tiến hành hoạt động công nghiệp cộng đồng (gia đình,

làng xóm, hương trấn, phường hội) để phổ biến kỹ thuật.

Ở Nhật Bản, chính phủ có chính sách đầu tư để đào tạo các cố vấn. Nhờ

các dịch vụ cố vấn, các nhà cố vấn giỏi đã giúp đỡ về kỹ thuật và quản lý nên

ngành nghề truyền thống, LNTT ở Nhật đã phát triển nhanh chóng.

Ở Ấn Độ có các trung tâm dạy nghề rải rác trong cả nước để đào tạo

cho người lao động. Các trung tâm này có nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng

công nghệ mới, tạo ra những mẫu mã mới, đa dạng, hợp với thị hiếu nhiều

mặt của khách hàng trong và ngoài nước. Cùng với đào tạo nghề cho thợ,

chính phủ còn đặc biệt quan tâm đến thợ làm nghề thợ cả có nhiều kinh

nghiệm. Mở các trung tâm đào tạo có nhiệm vụ chuyên lo việc nâng cao tay

nghề cho thợ cả, nhằm giữ gìn, khôi phục các nghề thủ công cổ truyền đặc sắc

có nguy cơ bị mai một, thất truyền và bồi dưỡng tay nghề cho các nghệ nhân

đặc biệt tài hoa. Thợ cả, những nghệ nhân tài giỏi được coi như vốn quý của

quốc gia, được Nhà nước chú ý quan tâm cả về vật chất lẫn tinh thần.

Trong khi đó, Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới nhưng trình

độ văn hoá ở nông thôn vào loại thấp. Số công nhân làm việc trong các xí

nghiệp tập thể ở xã và thôn đạt trình độ đại học rất thấp, số người có trình độ

văn hoá thấp là một trong những nguyên nhân làm cản trở việc phát triển LN,

rõ rệt nhất là mô hình xí nghiệp hương trấn.

1.2.2.3. Nhà nước cần có chính sách cụ thể hỗ trợ về tài chính cho làng nghề

Trong quá trình SXKD của LN, vài thập kỷ gần đây các Nhà nước rất

quan tâm và có nhiều chủ trương chính sách phát triển ngành nghề thủ công

truyền thống và các ngành nghề mới ở nông thôn. Trong đó, sự hỗ trợ về tài

50

chính, tín dụng đóng vai trò hết sức quan trọng (thông qua các dự án cấp vốn,

bù lãi suất cho ngân hàng hoặc bù giá đầu ra cho người sản xuất). Nhờ có sự

hỗ trợ này mà các LN lựa chọn kỹ thuật gắn với lựa chọn hướng sản xuất.

Nhà nước tạo điều kiện cho ngành nghề thủ công truyền thống đổi mới công

nghệ, mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, nâng cao sức cạnh

tranh trên thị trường.

Kinh nghiệm của Hàn Quốc là ngay từ đầu Nhà nước đã chú ý đến phát

triển ngành nghề ở nông thôn. Bởi vì các ngành nghề ở nông thôn sử dụng

nguồn lực tại chỗ là chủ yếu. Công nghiệp đơn giản và nguồn nguyên liệu sẵn

có tại địa phương sản xuất với quy mô phù hợp. Tạo ra nhiều việc làm cho

người lao động. Vì vậy, các hộ nông dân làm ngành nghề được Nhà nước

đứng ra hướng dẫn, tổ chức thành những đơn vị nhỏ, được ngân hàng cung

cấp vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi để mua nguyên liệu sản xuất và giúp đỡ

LN tiêu thụ sản phẩm.

Ở Ấn Độ, Chính phủ đã thực hiện chương trình phát triển nông thôn tổng

hợp, thúc đẩy ngành nghề tiểu thủ công nghiệp để tạo việc làm tăng thu nhập cho

dân cư ở nông thôn. Chương trình này đã tập trung chủ yếu vào công việc cung

cấp tín dụng cho nông dân nghèo. Đồng thời còn cho các LN vay vốn trung hạn

và dài hạn từ 5-10 năm với lãi suất thấp để mua sắm máy móc thiết bị. Mặt khác,

chương trình cũng rất chú trọng đến việc phổ biến hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp

vật tư, nâng cao tay nghề, hỗ trợ dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm cho LN.

Ở Nhật Bản và Thái Lan, Chính phủ cho thành lập hệ thống bảo lãnh

vốn và bảo hiểm tín dụng để giúp đỡ LN vay vốn không cần tài sản thế chấp.

Các công ty đã cho các xí nghiệp tiểu thủ công nghiệp và LN vay vốn để

SXKD hay mua sắm thiết bị trong kỳ hạn từ 3-5 năm với lãi suất thấp.

Chính phủ các nước đã thành lập nhiều công ty hỗ trợ kinh doanh có

chức năng đầu tư hoặc giúp vốn cho những doanh nghiệp mới thuộc ngành kỹ

51

thuật phức tạp và có thể chịu sự rủi ro, đặc biệt là vào thời kỳ đầu với điều

kiện dễ dàng hoặc ưu đãi, thủ tục đơn giản, lãi suất thấp và thời gian dài có

thể đến 15 năm.

1.2.2.4. Nhà nước có chính sách thuế và phát triển thị trường phù hợp để

thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu

Đi đôi với việc hỗ trợ tài chính, tín dụng là chính sách thuế và thị

trường của Nhà nước để khuyến khích LN phát triển. Bởi vì chính sách thuế

được coi như phương tiện để kích thích sự phát triển của LN, và đóng góp vai

trò thúc đẩy sự tiến bộ xã hội; còn thị trường là điều kiện tốt nhất cho sự tồn

tại của mỗi xí nghiệp trong mỗi LN. Thị trường không chỉ là nơi mua bán vật

tư, nguyên liệu và sản phẩm của LN truyền thống mà còn là nơi cung cấp cả

những thông tin phản hồi về vấn đề kỹ thuật, các dịch vụ và nhiều lĩnh vực

quý giá khác.

Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành nhiều chính sách thuế ưu đãi khác

nhau như: Miễn giảm thuế thu nhập, thuế đăng ký kinh doanh, thuế tức lợi

công ty, thuế tài sản và thuế địa phương đối với các xí nghiệp vừa và nhỏ ở

nông thôn. Mức miễn giảm thuế từ 3-5 năm kể từ ngày ngành nghề mới

thành lập.

Để khắc phục tình trạng thuế suất cao ở những sản phẩm trung gian,

các nguyên liệu thô và máy móc do chiến lược thay thế nhập khẩu đem lại.

Chính phủ Thái Lan đã có chính sách giảm thuế hàng loạt đối với phụ kiện,

linh kiện và có luật khuyến khích các LN hiện đại hoá sản xuất với những tiêu

chuẩn được xác định rõ ràng. Nếu như các cơ sở nào đổi mới công nghệ phù

hợp với những tiêu chuẩn quy định sẽ được giảm thuế. Còn những cơ sở sản

xuất nào quá manh mún nhỏ lẻ thì được khuyến khích cho giải thể để thành

lập xí nghiệp mới, nhà nước sẽ có khoản vốn cho vay để kích thích việc kết

hợp và miễn thuế cho khoản đầu tư đó.

52

1.2.2.5. Khuyến khích sự kết hợp giữa đại công nghiệp với tiểu thủ công

nghiệp và trung tâm công nghiệp với làng nghề

Sự kết hợp giữa đại công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp và trung tâm

công nghiệp với LN là thể hiện sự phân công hợp tác lao động thông qua sự

hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau. Nhất là các vấn đề lựa chọn kỹ thuật. Lựa chọn

hướng sản xuất. Để tạo dựng cho mối quan hệ này, hầu hết các nước đều thiết

lập chương trình kết hợp các trung tâm công nghiệp với LN.

Ở Nhật Bản, LN đóng vai trò làm gia công, vệ tinh của các công ty lớn,

khu công nghiệp tập trung và cung cấp những sản phẩm trung gian cho chúng.

Trên cơ sở đó, tạo điều kiện cho công nghiệp ở đô thị và công nghiệp nông

thôn cùng phát triển.

Chương trình này được thể hiện ở Inđônêxia là: Các trung tâm công

nghiệp có trách nhiệm giúp đỡ LN nâng cao năng lực quản lý, quy trình công

nghệ Marketing, cung cấp tài chính, mua nguyên liệu thô và đứng ra đảm bảo

cho LN vay vốn ngân hàng, còn LN có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ. Đồng thời

làm nhiệm vụ gia công cho trung tâm công nghiệp lớn. Thậm chí có lúc trung

tâm công nghiệp lớn còn đứng ra giúp đỡ LN bán sản phẩm của mình trên thị

trường quốc tế hoặc thường xuyên trao đổi cung cấp những thông tin cần thiết

về thị trường xuất khẩu, những mặt hàng đang được ưa chuộng và có nhu cầu

lớn trên thị trường.

Ở Thái Lan, các trung tâm công nghiệp đứng ra đấu thầu công việc. Sau

đó một phần công việc nhận thầu được đưa về cho LN gia công, chẳng hạn

như một số chi tiết của sản phẩm. Công việc đấu thầu được phát triển khá

mạnh và chiếm tỷ lệ lớn trong các ngành như: sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ chiếm

tới 70%, công nghiệp dệt 55%, hoá chất 45%, sản xuất máy móc và các thiết

bị 35% (31, tr 78).

53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:

Luận án đã hệ thống hoá và bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò

của các chính sách đối với sự phát triển của các LN. Từ khái quát những đặc

điểm, vai trò và đặc biệt là các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các

LN, luận án đã làm rõ vai trò của chính sách đối với việc phát triển của LN

trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và tình trạng cạnh tranh ngày càng

gay gắt. Về phương diện lý luận, vấn đề quan trọng nhất của luận án là đưa ra

khái niệm về chính sách phát triển LN và làm rõ được các đặc trưng cơ bản

của chính sách cũng như vai trò của nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển

các LN. Đồng thời, luận án đã nghiên cứu các chính sách đã thực thi trong

phát triển LN ở một số nước châu Á để rút ra các bài học kinh nghiệm có ý

nghĩa về lý luận và thực tiễn. Những kinh nghiệm đó sẽ là cơ sở cho quá trình

hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển LN trong công cuộc CNH, HĐH đất

nước cùng với những thay đổi trong đời sống KT-XH nông thôn hiện nay.

54

Chương 2

THỰC TRẠNG CÁC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI

SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở TỈNH BẮC NINH

GIAI ĐOẠN 1997 ĐẾN NAY

2.1. kh¸i qu¸t ®iÒu kiÖn tù nhiªn2.1. kh¸i qu¸t ®iÒu kiÖn tù nhiªn2.1. kh¸i qu¸t ®iÒu kiÖn tù nhiªn2.1. kh¸i qu¸t ®iÒu kiÖn tù nhiªn,,,, kinh tÕ kinh tÕ kinh tÕ kinh tÕ –––– x· héi tØnh x· héi tØnh x· héi tØnh x· héi tØnh

b¾c ninhb¾c ninhb¾c ninhb¾c ninh

2.1.1. §iÒu kiÖn tù nhiªn

Bắc Ninh xưa là tỉnh có từ lâu đời, bao gồm cả quận Long Biên, huyện

Đông Anh (Hà Nội), huyện Văn Giang (Hưng Yên) ngày nay. Sau năm 1963,

do yêu cầu phát triển KT - XH, tỉnh Bắc Ninh được hợp nhất với tỉnh Bắc

Giang thành tỉnh Hà Bắc. Để phù hợp với tình hình mới, Quốc Hội khoá IX -

Kỳ họp thứ 10 (10/1996) đã có Nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc thành 2 tỉnh Bắc

Ninh và Bắc Giang. Ngày 1/1/1997 tỉnh Bắc Ninh được tái lập và đi vào hoạt

động theo đơn vị hành chính mới.

Bắc Ninh là tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, nằm gọn trong vùng châu

thổ sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng -

Quảng Ninh. Bắc Ninh có vị trí địa lý nằm giữa 210 và 2105’’ vĩ độ Bắc,

105045’’ và 106015’’ Kinh Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Nam giáp

tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây giáp thủ đô Hà Nội.

Các tuyến đường giao thông quan trọng như quốc lộ 1A, quốc lộ 18, quốc lộ

38, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và các tuyến đường sông như sông Đuống,

sông Cầu, sông Thái Bình. Bắc Ninh cũng có vị trí nằm gần cảng hàng không

Nội Bài, cảng biển Cái Lân, Hải Phòng và gần các nguồn năng lượng lớn như

thuỷ điện Hoà Bình, nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí và mỏ than Quảng Ninh.

Với vị trí thuận lợi của tỉnh Bắc Ninh như một trung điểm giao tiếp giữa các

tỉnh phía Bắc và Đông Bắc với Hà Nội đã tạo cho Bắc Ninh thành một địa bàn

55

mở thuận lợi cho việc giao lưu, hợp tác kinh tế, mở rộng thị trường để phát

triển kinh tế - xã hội nói chung và LN nói riêng.

Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ hẹp, tổng diện tích đất tự nhiên là

82.271 ha. Hiện trạng sử dụng đất đai phần lớn là đất nông nghiệp chiếm

54,4%, còn lại là đất lâm nghiệp, đất ở v.v..(xem biểu 2.1). Vì vậy đòi hỏi địa

phương cần phải có chính sách, kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất đai hiệu quả

đồng thời với việc phát triển các ngành nghề ở nông thôn để giải quyết việc

làm, đời sống dân cư.

Biểu 2.1: Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Bắc Ninh

STT Các loại đất sử dụng Diện tích (ha) Tỷ trọng (%)

Tổng số toàn tỉnh 82.271 100

1 Đất nông nghiệp 44.749 54,8

2 Đất nuôi trồng thuỷ sản 5.104 6,2

3 Đất lâm nghiệp 622 0,8

4 Đất chuyên dùng 15.694 19,0

5 Đất ở 9.831 11,9

6 Đất chưa sử dụng 641 0,8

7 Đất khác còn lại 5.630 6,8

Nguồn: Niên giám Thống kê Bắc Ninh 2007

2.1.2. §iÒu kiÖn kinh tÕ - x· héi

- Về dân số và lao động: Theo kết quả điều tra dân số và được công bố

tại Niên gián thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2007, tổng dân số Bắc Ninh là

1.028.844 người. Trong đó nam là 501.739 người, nữ là 527.105 người. Phân

theo khu vực thì ở thành thị là 138.666 người, ở nông thôn là 890.178 người

chiếm tới 86,5 % dân số toàn tỉnh. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,02%. Mật

độ dân số trung bình là 1.250 người/km2 là rất cao, thách thức đối với việc

giải quyết việc làm và quản lý KT - XH. Hiện nay số lao động đang làm việc

56

trong các ngành kinh tế (từ 10 tuổi trở lên) là 566.374 người chiếm 56 % dân

số (xem biểu 2.2).

Biểu 2.2. Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế

tỉnh Bắc Ninh 2006

STT Các ngành kinh tế Số người

(người)

Tỷ trọng

(%)

1

2

Tổng số

Khu vực sản xuât

- Nông - lâm nghiệp

- Công nghiệp chế biến

- Xây dựng

Khu vực dịch vụ

- Thương nghiệp

- Khách sạn, nhà hàng

- Vận tải, truyền thông

- Giáo dục đào tạo

- Quản lý Nhà nước và sự nghiệp quốc phòng

- Y tế, cứu trợ xã hội

- Các lĩnh vực khác

582.161

479.306

312.127

142.412

24.767

102.855

45.086

9.251

11.523

18.030

4.886

3.940

10.139

100

82,3

53,6

24,5

4,2

17,7

7,7

1,6

2,0

3,1

0,8

0,7

1,7

Nguồn: Niên gián Thống kê tỉnh Bắc Ninh 2007

- Về kinh tế: Cùng với sự phát triển của cả nước, trong những năm qua,

kinh tế Bắc Ninh có những bước phát triển đáng kể. Tổng sản phẩm trong tỉnh

(GDP) theo giá cố định 1994 của năm 2007 là 6.352.732 triệu đồng. Tốc độ

tăng trưởng GDP bình quân 10 năm từ 1997 đến năm 2007 là 13,4 % trong đó

nông lâm nghiệp tăng bình quân là 5,67%, công nghiệp xây dựng là 21,64%

và dịch vụ là 13,3%. (Xem bảng 2.3 và đồ thị 2.1).

57

Biểu 2.3: Tổng sản phẩm tỉnh Bắc Ninh theo giá so sánh 1994

Đơn vị: Triệu đồng

Trong đó Năm Tổng số

Nông - lâm nghiệp Công nghiệp-xây dựng Dịch vụ

1996 1.548.304 712.913 372.400 462.991

1997 1.706.669 762.641 417.265 526.763

1998 1.840.472 810.928 473.881 555.663

1999 2.133.972 865.416 670.518 598.038

2000 2.488.274 937.369 880.210 670.695

2001 2.838.384 970.184 1.053.624 814.576

2002 3.231.970 1.039.018 1.282.491 910.461

2003 3.671.860 1.096.516 1.554.084 1.021.260

2004 4.179.418 1.151.095 1.853.347 1.174.976

2005 4.766.106 1.206.126 2.195.525 1.364.455

2006 5.493.067 1.237.990 2.640.802 1.614.275

2007 6.352.732 1.184.785 3.240.529 1.927.419

Nguồn: Niên gián Thống kê Bắc Ninh 2007

107,84

115,25

115,65

114,04

113,82

113,61

113,87

114,07

116,60115,95

110,23

102

104

106

108

110

112

114

116

118

1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

Năm

T ố

c đ

ộ t

ăn g

t rư

ở n

g (

% )

Đồ thị 2.1: Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong tỉnh Bắc Ninh

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng giá trị tổng

sản phẩm của lĩnh vực nông lâm nghiệp giảm từ 45,05% năm 1997 xuống còn

58

18,65% năm 2007, công nghiệp xây dựng tăng từ 23,77% năm 1997 lên

51,01% năm 2007. (Xem đồ thị 2.2).

30,3431,18

18,65

45,05

51,01

23,77

0

10

20

30

40

50

60

1997 2007 Năm

%

Dịch vụ

Nông-Lâm nghiệp

Công nghiệp-Xây dựng

Đồ thị 2.2: Cơ cấu kinh tế Bắc Ninh 1997, 2007

Như vậy xem xét động thái tốc độ phát triển kinh tế và sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nêu trên đã phản ánh tính quy luật trong CNH, HĐH của nền

kinh tế đất nước và các địa phương.

Hiện nay, Bắc Ninh có 62 LN phân bổ rộng khắp trên phạm vi toàn tỉnh

và tập trung nhiều ở huyện Từ Sơn, Yên Phong. Các LN hàng năm thu hút

hàng vạn lao động nông thôn. Hiện nay ước tổng số lao động ở các LN tỉnh

Bắc Ninh 50.000 người. Sự phát triển mạnh mẽ của các LN tỉnh Bắc Ninh

trong những năm qua đã nâng giá trị sản xuất của LN từ 923.610 triệu đồng

năm 2001 lên 4.899.140 triệu đồng năm 2007 và đã đóng góp trên 30% giá trị

sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh, đồng thời góp phần tăng nhanh hàng xuất

khẩu, cải thiện đời sống nhân dân của tỉnh.

- Về CSHT: Bắc Ninh có hệ thống giao thông thuận tiện gồm 4 tuyến

quốc lộ; 2 tuyến quốc lộ 1A, tuyến quốc lộ 18 và quốc lộ 38 với chiều dài 135

km. Đường tỉnh lộ gồm 12 tuyến, chiều dài 255 km trong đó đã được dải nhựa

chiếm 88%, đường huyện và đường đô thị dài 295 km trong đó được dải nhựa

chiếm 53%, đường xã và đường thôn dài 3147 km trong đó được ứng hoá

59

70%. Đường sông có 3 sông lớn là sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình và

3 cảng lớn trên sông Cầu. Đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn chạy qua 20 km với

4 nhà ga. Hệ thống điện và bưu chính viễn thông tương đối hoàn chỉnh, 100%

thôn xã có điện lưới, tỷ lệ máy điện thoại cố định trên 100 dân năm 2007 là

13,9 cái. Các điều kiện về hạ tầng là khá thuận lợi cho phát triển các LN. Các

lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế văn hoá, thông tin, thể dục thể thao đều khá

phát triển, đáng chú ý là các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, trung học

chuyên nghiệp và dạy nghề phát triển mạnh. Trên địa bàn 1 trường đại học, 5

trường cao đẳng và 4 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Ngoài ra

trên các địa bàn huyện, thành phố thuộc tỉnh đều có các trung tâm dạy nghề

thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội.

2.1.3. C¸c ®iÒu kiÖn kh¸c

Bắc Ninh có môi trường chính trị xã hội khá ổn định. Đảng bộ và chính

quyền địa phương đều hết sức quan tâm đến phát triển nông nghiệp và nông

thôn nói chung và các LN nói riêng. Bộ máy Nhà nước của tỉnh cũng được

củng cố và đang trong quá trình cải cách hành chính mạnh mẽ từ các thiết chế

phân cấp, phân quyền, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tạo điều

kiện thuận lợi cho chỉ đạo thực thi chính sách Nhà nước cũng như hoạch định,

xây dựng các chính sách của địa phương.

Về văn hoá, truyền thống: Bắc Ninh là tỉnh có nền văn hiến lâu đời.

Mật độ phân bố các di tích lịch sử, văn hoá khá dày đặc, chỉ đứng sau thủ đô

Hà Nội. Đến nay có tới 233 di tích lịch sử văn hoá được cấp bằng công nhận

di tích cấp quốc gia và cấp địa phương. Trong đó có những di tích, có những

giá trị lịch sử, văn hoá có ý nghĩa quốc gia và quốc tế như các di tích đền Đô,

chùa Dâu, Bút Tháp, Phật Tích, văn miếu... (Xem biểu 2.4).

60

Biểu 2.4: Số lượng di tích lịch sử văn hoá tỉnh Bắc Ninh

Địa điểm Tổng số Xếp hạng

quốc gia

Xếp hạng

địa phương

Toàn tỉnh 233 162 71

1. TP Bắc Ninh 27 20 7

2. Huyện Từ Sơn 51 37 14

3. Huyện Tiên Du 34 23 11

4. Huyện Quế Võ 22 16 6

5.Huyện Thuận Thành 20 16 4

6. Huyện Lương Tài 18 8 10

7. Huyện Gia Bình 18 8 10

8. Huyện Yên Phong 46 37 9

Nguồn: Sở Văn hoá - Thông tin Bắc Ninh.

Bắc Ninh cũng là tỉnh có nhiều lễ hội truyền thống có những nét văn

hoá đặc sắc. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong

năm được duy trì. Trong đó có những lễ hội có ý nghĩa đặc biệt và có tầm ảnh

hưởng lớn như: Hội Lim, hội chùa Dâu, hội đền Đô, hội đền Bà Chúa Kho

v.v... Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng và tạo thuận lợi cho việc phát triển

các LN, đặc biệt là các LNTT trên cơ sở gắn kết du lịch văn hoá, lịch sử với

tham quan du lịch LN.

Như vậy các điều kiện và nguồn lực kinh tế - văn hoá và xã hội của tỉnh

Bắc Ninh về cơ bản là có nhiều tiềm năng và lợi thế cho sự phát triển các LN

trong quá trình CNH, HĐH ở địa phương. Thực tế cho thấy những hạn chế về

đất chật, người đông, điểm xuất phát về kinh tế thấp, hạ tầng chưa đáp ứng...

cũng phần nào ảnh hưởng tới quá trình phát triển các LN. Tuy nhiên sự phát

triển của các LN chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố chính

sách. Vấn đề đặt ra là cần có những chính sách phù hợp để thúc đẩy các LN

phát triển nhanh chóng, bền vững theo mục tiêu và yêu cầu của tình hình mới

ở địa phương và cả nước hiện nay.

61

2.2. Thùc tr¹ng mét sè chÝnh s¸ch nhµ n−íc vµ ®Þa 2.2. Thùc tr¹ng mét sè chÝnh s¸ch nhµ n−íc vµ ®Þa 2.2. Thùc tr¹ng mét sè chÝnh s¸ch nhµ n−íc vµ ®Þa 2.2. Thùc tr¹ng mét sè chÝnh s¸ch nhµ n−íc vµ ®Þa

ph−¬ng ¶nh h−ëng ®Õn ph¸t triÓn cña lµng nghÒ ë b¾c ph−¬ng ¶nh h−ëng ®Õn ph¸t triÓn cña lµng nghÒ ë b¾c ph−¬ng ¶nh h−ëng ®Õn ph¸t triÓn cña lµng nghÒ ë b¾c ph−¬ng ¶nh h−ëng ®Õn ph¸t triÓn cña lµng nghÒ ë b¾c

ninh gininh gininh gininh giai ®ai ®ai ®ai ®o¹n tõ 1997 ®Õn nayo¹n tõ 1997 ®Õn nayo¹n tõ 1997 ®Õn nayo¹n tõ 1997 ®Õn nay

2.2.1. VÒ chñ tr−¬ng, chÝnh s¸ch cña §¶ng vµ nhµ n−íc

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã mở ra giai đoạn đổi

mới phát triển kinh tế đất nước. Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc

dân được thừa nhận tồn tại và phát triển. Nghị quyết 10 của Bộ chính trị

(5/4/1988) đã chủ trương: “Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vận

tải và dịch vụ ở nông thôn dưới nhiều hình thức, trong từng vùng và tiểu

vùng. Tận dụng và phát huy các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,

nông, lâm, thuỷ sản hiện có, xây dựng những cơ sở chế biến quy mô vừa và

nhỏ nhưng kỹ thuật hiện đại, công nghệ thích hợp để tạo ra những hàng tiêu

dùng trong nước và xuất khẩu có giá trị cao”. Chủ trương này đã mở ra cho

nông thôn Việt Nam phát triển đa dạng, phong phú và trước tiên là lĩnh vực

chế biến với những cơ sở có quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu. {13, tr.67-68}

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (6/1991) đã thông qua Cương lĩnh

xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, chiến lược ổn định và phát

triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Trong đó, khẳng định phát triển nền kinh

tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhưng chỉ đến khi sửa đổi Hiến pháp Việt Nam năm 1992 thì những

đảm bảo pháp lý cơ bản cho sự phát triển một cách lâu dài và bình đẳng của

các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh mới thực sự đi vào đời sống kinh tế

nước ta, mới tạo điều kiện để phát triển sản xuất ở các LN.

Hiến pháp đã thừa nhận và bảo hộ thành phần kinh tế cá thể và tư bản

tư nhân, tức là sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

đã được thừa nhận một cách hợp pháp. Nhà nước ghi nhận nền kinh tế Việt

62

Nam là nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của

chính sách kinh tế là “làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt

nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân”. Nhà nước thừa nhận sự tồn tại

khách quan của nhiều hình thức sở hữu, bảo hộ vốn và tài sản hợp pháp của

người kinh doanh làm cho công dân Việt Nam yên tâm bỏ vốn đầu tư vào

kinh doanh, có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật. Những

quy định của Hiến pháp năm 1992 đã đặt những nền móng vững chắc và đầy

đủ cho sự phát triển lâu dài và ổn định của các thành phần kinh tế.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996) chủ trương đẩy

mạnh phát triển kinh tế tư nhân. Chính sách phát triển LN được thể hiện ở Hội

nghị Trung ương 4 (khoá VIII) khá rõ ràng và được nhấn mạnh: hoàn thiện

môi trường kinh doanh hợp pháp, tạo điều kiện và khuyến khích các doanh

nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển, mở rộng các hình thức

hợp tác, liên kết giữa các thành phần kinh tế.

Thời kỳ này, các luật và văn bản luật liên quan đến SXKD ở các LN

tiếp tục được ban hành theo hướng tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các

nhà đầu tư. Luật Doanh nghiệp được Quốc hội ban hành ngày 12/6/1999 và

có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2000 thay thế Luật Doanh nghiệp, Luật Công ty

(1990), trong đó cũng cho phép các hộ kinh doanh cá thể có quy mô lớn

đang hoạt động theo Nghị định 66/HĐBT ngày 2/3/1992 của Hội đồng Bộ

trưởng được chuyển thành doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và hoạt động

theo luật này.

Luật Doanh nghiệp 1999 là cơ sở pháp lý quan trọng cho các doanh

nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ở các LN. Nội

dung cơ bản của Luật Doanh nghiệp 1999 được thể hiện ở những điểm:

- Về cơ bản, công dân được quyền tự do kinh doanh những ngành, nghề

mà pháp luật không cấm.

63

Đây được coi là một tác động tích cực và nổi trội nhất của Luật Doanh

nghiệp. Thông qua luật này, tư duy sáng tạo về ý tưởng kinh doanh và phương

thức tổ chức kinh doanh được giải phóng. Luật đã tạo ra sự thay đổi tích cực

trong quan niệm xã hội của doanh nhân đang ngày càng được nâng cao. Nó

bước đầu khơi dậy, tạo không khí phấn chấn kinh doanh, khuyến khích và cổ

vũ được tinh thần kinh doanh, ý chí làm giàu cho mình và cho đất nước, củng

cố và tăng thêm được lòng tin của người đầu tư và kinh doanh vào đường lối

đổi mới của Đảng, luật pháp và chính sách của Nhà nước.

- Góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất và tăng trưởng kinh tế.

Thực tế cho thấy, Luật Doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong

việc giải phóng và phát triển được sức sản xuất, huy động và phát huy được

nội lực vào xây dựng và phát triển KT-XH. Qua đó, góp phần đáng kể vào

phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân

sách, tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội khác.

- Thúc đẩy mạnh mẽ việc hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Bằng việc đơn giản hoá thủ tục thành lập doanh nghiệp, bãi bỏ hàng

trăm giấy phép và quy định pháp luật không còn phù hợp về điều kiện kinh

doanh và thiết lập một hệ thống văn bản mới hướng dẫn thi hành, Luật Doanh

nghiệp và việc thực hiện luật đã thực sự tạo ra bước đột phá trong cải cách

hành chính, góp phần hạn chế tham nhũng, nâng cao đáng kể tính nhất quán,

tính thống nhất, minh bạch và bình đẳng của khuôn khổ pháp luật về kinh

doanh ở nước ta.

Luật Doanh nghiệp và việc thực hiện luật đã tạo ra bước tiến vượt bậc

trong việc tạo ra “một sân chơi” bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với

các loại hình doanh nghiệp. Từ đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp với các

loại hình sở hữu khác nhau chuyển sang hoạt động theo luật Doanh nghiệp.

64

Luật Doanh nghiệp đã và đang làm tăng đáng kể mức độ cạnh tranh,

một nhân tố cơ bản không thể thiếu của nền kinh tế thị trường. Đồng thời, nó

đang đặt ra yêu cầu thúc đẩy phát triển không chỉ thị trường sản phẩm, dịch

vụ mà cả các loại thị trường khác, nhất là thị trường vốn, thị trường lao động

và thị trường bất động sản.

Quyền tự do kinh doanh được thừa nhận và bảo đảm kết hợp với những

thay đổi tích cực nói trên của hệ thống pháp luật về kinh doanh đã tạo điều kiện

tích cực để Việt Nam chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới, khu vực.

- Góp phần đổi mới một bước cơ bản phương thức và công cụ quản lý

Nhà nước đối với doanh nghiệp.

Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, phương thức quản lý Nhà nước

theo hướng kiểm tra, kiểm soát là chủ yếu đang từng bước được thay thế bằng

phương thức hợp tác và tạo điều kiện là chủ yếu. “Chế độ tiền kiểm” đang

được chuyển sang “hậu kiểm”. Hiệu lực quản lý Nhà nước đối với doanh

nghiệp đang ngày càng được nâng cao. Với những nỗ lực và phối hợp có hiệu

quả giữa các cơ quan có liên quan, hiện tượng thành lập doanh nghiệp không

nhằm mục đích kinh doanh, nhất là để mua bán hoá đơn, đã được đẩy lùi về

căn bản. Những thay đổi nói trên thúc đẩy thêm công cuộc cải cách hành

chính và nâng cao năng lực bộ máy hành chính nhà nước phù hợp hơn với yêu

cầu của thể chế kinh tế thị trường.

Ngoài Luật Doanh nghiệp, trong thời kỳ (1996-2000), Quốc hội cũng

ban hành một số luật liên quan đến phát triển LN như Luật thương mại

(1997), Luật các tổ chức tín dụng (1997), Luật thuế giá trị gia tăng (1997),

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (1997), Luật khuyến khích đầu tư trong

nước (có sửa đổi năm 1997)..., Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật

lao động, Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập

khẩu và các văn bản dưới luật khác. Các văn bản pháp luật này tạo hành lang

65

pháp lý và môi trường luật pháp cho các hoạt động kinh doanh và tiêu thụ sản

phẩm ở nông thôn và các LN.

Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001), Đảng ta tiếp tục

khẳng định kinh tế tập thể “phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng,

trong đó hợp tác xã là nòng cốt”, kinh tế cá thể tiểu chủ được “Nhà nước tạo

điều kiện và giúp đỡ để phát triển”, kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích

phát triển rộng rãi “trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp

luật không cấm”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 đã đề ra

phương hướng: “Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại

về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn

lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần

kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau”. Chính sách phát triển các LN

được thể hiện rõ trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung

ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh

tế tập thể, kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 13 - NQ/TW và 14 - NQ/TW ngày

18/3/2002). Theo đó, kinh tế tập thể có mục tiêu là “thoát ra khỏi những yếu

kém, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao, tiến tới có tỷ trọng ngày càng lớn

hơn trong GDP của nền kinh tế” và phát triển kinh tế tư nhân “là vấn đề

chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng

xã hội chủ nghĩa, được đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo

hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp” {14, tr.21-22}

Tháng 5/2002, hội nghị TW 5 (khoá IX) tiếp tục cụ thể hoá Nghị quyết

của đại hội Đảng IX, chỉ ra những quan điểm cụ thể của Đảng để phát triển

các LN trong tình hình mới. Nghị quyết khẳng định tiếp tục đổi mới cơ chế,

chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp, góp

phần giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, huy động các nguồn lực vào

sản xuất, kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo

66

thêm việc làm, cải thiện đời sống nội dung, thúc đẩy phân công lao động xã

hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá,

phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đã nêu ra 2 nhóm giải pháp lớn là tạo lập môi trường thể

chế và tâm lý xã hội thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế tư nhân và sửa đổi

bổ sung một số cơ chế chính sách để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tư

nhân trong nước, trong đó cấp bách nhất là chính sách đất đai, tài chính - tín

dụng, lao động tiền lương, chính sách hỗ trợ về đào tạo, khoa học công nghệ,

chính sách hỗ trợ về thông tin, xúc tiến thương mại.

Đến Đại hội X của Đảng, quan điểm phát triển kinh tế tư nhân đạt tới

mức độ cao khi Đảng ta cho phép Đảng viên được làm kinh tế tư nhân và tạo

mọi điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển.

Quốc hội đã thông qua 2 đạo luật được đánh giá là “bước ngoặt” đối với

các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, thuộc tất cả các thành phần kinh tế ở Việt

Nam: Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 là một

bước đột phá mới nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế,

các loai hình doanh nghiệp, tạo khung khổ pháp lý thống nhất về quản lý mọi

loại hình doanh nghiệp, đầu tư và xây dựng làm nền tảng để phát triển các LN.

Đơn giản hoá các thủ tục, giảm rào cản ra nhập thị trường, loại bỏ về cơ bản

những khống chế về mức sở hữu đối với đầu tư nước ngoài. Không hạn chế quy

mô, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn của các loại hình kinh tế tư nhân phát triển,

các cơ sở SXKD được tiếp cận với nguồn vốn tại các tổ chức tín dụng của Nhà

nước, được đáp ứng nhu cầu sử dụng đất làm mặt bằng SXKD v.v... đã đóng góp

lớn vào cải thiện môi trường kinh doanh. Đây được coi là bước đột phá mớii về

nhận thức phát triển kinh tế, là nền tảng để phát triển nhanh, bền vững các LN.

Hiện nay, Nhà nước cũng đã và đang sửa đổi bổ sung, một số luật đã

ban hành đồng thời xây dựng hệ thống luật mới nhằm đáp ứng yêu cầu của

67

tình hình mới về hội nhập quốc tế. Những chủ trương chung của Đảng và Nhà

nước là tiền đề và là cơ sở cho việc ban hành một loạt các văn bản nhằm thực

thi các chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và LN

nói riêng. Cụ thể một số nhóm chính sách cơ bản như sau:

2.2.1.1. Chính sách đất đai

Chính sách đất đai được thể hiện tập trung chủ yếu thông qua các quy

định của Luật Đất đai. Luật Đất đai ban hành đầu tiên năm 1987 và thay thế

bởi luật năm 1993 và sau đó năm 1998 sửa đổi, ban hành luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật Đất đai. Ở thời kỳ này, Luật đã đưa ra các quy định liên

quan đến quyền sử dụng đất, quyền chuyển nhượng, quyền thế chấp, quyền sử

dụng đất của các doanh nghiệp và cá nhân, nhưng do chế độ quản lý đất theo

mục đích, việc chuyển mục đích sử dụng đất rất khó khăn, đất giao cho tư

nhân sử dụng chủ yếu là đất nông nghiệp và đất ở, nên thị trường bất động sản

không linh hoạt, vấn đề mặt bằng SXKD của các hộ gia đình SXKD, các cơ

sở doanh nghiệp trong nước rất nan giải. Việc thương mại hoá quyền sử dụng

đất hầu như rất khó thực hiện. Nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp,

Luật Đất đai 2003 đã ra đời. Luật này đã tác động mạnh mẽ đến tình hình phát

triển KT-XH nói chung và các LN nói riêng, đặc biệt là thúc đẩy việc tạo lập

kết cấu hạ tầng và mặt bằng SXKD cho các hộ, cơ sở SXKD của các LN.

Luật đã rỡ bỏ được nhiều rào cản, vướng mắc cho doanh nghiệp, tạo thuận lợi

cho các cơ sở SXKD tiếp cận với đất đai, tạo sự bình đẳng hơn giữa các loại

hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Chính sách đất đai được cải

tiến phù hợp hơn, được phân cấp cụ thể hơn. Các khâu trung gian và thời gian

làm thủ tục hành chính trong việc giao đất, thuê đất làm mặt bằng SXKD

được rút ngắn, các cơ sở SXKD trong các LN được phép tự thoả thuận với

người có đất nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Nhiều địa phương cũng

đã ban hành các quy định thông thoáng, minh bạch, đơn giản hơn về quy

68

trình, thủ tục giao đất, cho thuê đất, quy trình đền bù thực hiện giải phóng mặt

bằng, quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất v.v... Qua đó đã tạo

điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết vấn đề bức xúc tồn tại nhiều năm nay

về mặt bằng SXKD và vấn đề ô nhiễm môi trường ở các LN do nguyên nhân

mặt bằng chật hẹp, góp phần sử dụng hiệu quả quỹ đất và phát triển LN.

Về chính sách đất đai có rất nhiều các văn bản dưới luật của Nhà nước

hướng dẫn, cụ thể hoá. Trong đó đáng chú ý có một số văn bản tác động mạnh

đến sự phát triển của các LN là: Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004

của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;

Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường hỗ

trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày

3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; Các Nghị định số

17/2006/NĐ-CP ngày 27 /01/2006, Nghị định số 123/ 2007/NĐ-CP ngày

27/7/2007 của Chính phủ về hướng dẫn sửa đổi bổ sung một số vấn đề của

các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003.

2.2.1.2. Chính sách tín dụng

Các chính sách vốn tín dụng đã có nhiều đổi mới rất cơ bản góp phần

tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp

trong các LN hoạt động SXKD.

- Đổi mới chính sách huy động và sử dụng vốn là việc tạo môi trường

thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế đều có thể tiếp cận các nguồn vốn,

thông qua một loạt các chính sách và biện pháp như:

+ Cải cách hệ thống ngân hàng, mở rộng và phát triển hệ thống thu hút

và cung ứng vốn của các ngân hàng thương mại, ngân hàng cổ phần, các hợp

tác xã tín dụng, ngân hàng nước ngoài.

+ Mở rộng đối tượng cho vay, ban hành thể lệ tín dụng đối với doanh

nghiệp trong các LN. Chính sách tín dụng chuyển từ cho vay có phân biệt với

69

8 mức ưu tiên sang tín dụng cho vay thống nhất tất cả các thành phần kinh tế

kể từ năm 1991 và được mở rộng bởi Luật Ngân hàng và Luật các tổ chức tín

dụng công bố ngày 26/12/1997.

+ Phát triển các tổ chức tài chính khác: Công ty bảo hiểm, Công ty cho

thuê tài chính.

+ Chấn chỉnh hoạt động của hệ thống tài chính phi chính phủ, mở rộng

điều kiện cầm cố, hạn chế cho vay nặng lãi.

+ Cho phép các doanh nghiệp huy động vốn bằng phát hành trái phiếu,

cổ phiếu để bổ sung vốn cũng như vay vốn nước ngoài.

+ Xúc tiến hình thành thị trường vốn trung hạn, dài hạn, thị trường

chứng khoán.

- Từ năm 1990 đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định

về chính sách tín dụng đối với khu vực nông thôn liên quan đến tiêu thụ sản

phẩm của khu vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó có các LN như:

+ Chỉ thị 202/CT ngày 28/06/1991 của Chính phủ về thí điểm mô hình

cho vay đến hộ nông dân, trong đó giao cho hệ thống Ngân hàng nông nghiệp

và phát triển nông thôn là kênh chính yếu cung cấp tín dụng cho các hộ gia

đình ở nông thôn. Những năm gần đây, trong tổng dư nợ của hệ thống ngân

hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, tỷ trọng cho vay đối với các hộ

nông dân ngày càng tăng. Từ năm 1996 đến nay, hệ thống ngân hàng nông

nghiệp và phát triển nông thôn đã tập trung thực hiện cho vay theo chương

trình, dự án mục tiêu trong đó có chương trình xây dựng và đổi mới công

nghệ chế biến nông - lâm - hải sản đã tác động hỗ trợ về tài chính các LN chế

biến nông sản - thực phẩm.

+ Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng

Chính phủ về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông

nghiệp và nông thôn. Chính sách này đã quy định việc Nhà nước hỗ trợ tài

70

chính dưới hình thức tín dụng ngân hàng với lãi suất ưu đãi cho phát triển

nông nghiệp, nông thôn trên nhiều kênh khác nhau như: ngân hàng nông

nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng cho người nghèo, ngân hàng công

thương, đồng thời đa dạng hoá các nguồn vốn tín dụng theo các kênh như:

quỹ tín dụng nhân dân, các ngân hàng cổ phần, các hợp tác xã tín dụng. Với

chính sách này đã mở rộng phạm vi và cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng hỗ

trợ của Nhà nước cho các hộ và các doanh nghiệp ở các LN.

+ Quyết định 178/1998/QĐ-TTg ngày 19/9/1998 của Chính phủ về hỗ

trợ lãi suất vay vốn ngân hàng đối với một số mặt hàng xuất khẩu, trong đó có

mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của các LN. Thực hiện chủ trương của

Chính phủ về khuyến khích xuất khẩu, góp phần hỗ trợ về vốn cho những

doanh nghiệp SXKD những mặt hàng xuất khẩu, Chính phủ đã cho vay với lãi

suất thấp hơn 0,2%/tháng so với mức lãi suất cho vay xuất khẩu mà ngân

hàng thương mại áp dụng. Chính sách này cũng đã tạo điều kiện đầu tư ứng

trước cho các cơ sở sản xuất ở các LN để đầu tư phát triển sản xuất, cải tiến

công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.

+ Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 của Chính phủ về tín

dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Theo Nghị định này thì lãi suất vay ưu

đãi được xác định tại thời điểm năm 1999 là 9%/năm và có thể thay đổi khi

lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thay đổi (theo cơ chế hiện

nay, đối với mỗi dự án, mức lãi suất vay vốn được xác định tại thời điểm ký

hợp đồng tín dụng). Để được hưởng nguồn vốn với lãi suất ưu đãi nêu trên thì

các dự án đầu tư nói chung, dự án sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng phải

được xác định là có hiệu quả KT-XH, đảm bảo hoàn trả được vốn vay và phải

được quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển tham gia thẩm định phương án tài chính,

phương án trả nợ vốn vay và chấp thuận cho vay trước khi quyết định đầu tư.

+ Các cơ sở kinh doanh trong các LN được Quỹ hỗ trợ phát triển cho

vay tín dụng đầu tư, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo hành tín dụng đầu tư.

71

Trong nhiều năm qua, Chính phủ đã có nhiều biện pháp để hỗ trợ vốn

đối với các doanh nghiệp trong các LN như thành lập một số tổ chức như quỹ

hỗ trợ đầu tư Quốc gia, quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương, quỹ cho vay theo

các chương trình hỗ trợ phát triển: Triển khai các chương trình tín dụng hỗ trợ

giải quyết việc làm, triển khai các chương trình cho vay tín dụng từ nguồn tài

trợ của các nước đối với một số đối tượng đặc biệt.

Chính phủ đã ban hành một số quyết định mở rộng đối tượng được uỷ

thác thực hiện tác nghiệp của Quỹ bảo lãnh cho Quỹ hỗ trợ phát triển; giao

hoặc uỷ thác cho quỹ đầu tư tài chính địa phương; Ngân hàng Nhà nước và

các Ngân hàng thương mại cũng đã có các quy định thông thoáng hơn, tạo

điều kiện cho các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể, chủ trang trại tiếp

cận thuận lợi hơn với các nguồn vốn tín dụng. Vì vậy, số lượng các doanh

nghiệp, hộ kinh doanh cá thể tiếp cận được với các nguồn vốn tín dụng chính

thức đã tăng lên đáng kể.

2.2.1.3. Chính sách khuyến khích đầu tư

Bước vào thời kỳ đổi mới, chính sách khuyến khích đầu tư được thể

hiện rõ qua luật khuyến khích đầu tư trong nước 1994. Luật này đã chính thức

tách một phần chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân trong nước ra khỏi các

văn bản luật nặng tính chất đảm bảo môi trường đầu tư, đã quy định chính

sách ưu đãi cho các dự án kinh doanh thuộc các ngành nghề, các vùng khó

khăn, đặc biệt khó khăn cần được ưu đãi đầu tư. Nhằm khuyến khích đầu tư

mạnh hơn, phù hợp với tình hình thực tế đặc biệt là Luật Thuế thu nhập doanh

nghiệp và Luật Thuế giá trị gia tăng năm 1997.

Chính phủ đã ban hành các Nghị định 07/1998/NĐ-CP ngày

15/11/1998, Nghị định 51/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 quy định chi tiết thi

hành luật. Luật khuyến khích đầu tư 1998 có những đổi mới cơ bản là:

- Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư được mở rộng hơn đến tất cả các

loại hình SXKD trong nước.

72

- Nhà nước cam kết về sự ổn định của các chính sách đã ban hành.

- Quy hoạch sử dụng đất, kèm theo danh mục dự án kêu gọi đầu tư

được công khai tuyên truyền để nhà đầu tư tham gia. Nhà nước có những đảm

bảo về đất đai theo như luật đất đai sửa đổi.

- Nhà nước tạo điều kiện về kết cấu hạ tầng, đầu tư xây dựng hoặc hỗ

trợ xây dựng hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

- Nhà nước góp vốn vào các cơ sở SXKD ở các vùng khó khăn thông

qua doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tín dụng nhà nước. Nhà nước

thành lập Quỹ Hỗ trợ đầu tư để khuyến khích các nhà đầu tư bằng cách cho

vay ưu đãi, trợ cấp một phần lãi suất, bảo lãnh tín dụng đầu tư.

- Nhà nước khuyến khích phổ biến chuyển giao công nghệ, lập quỹ

phát triển khoa học công nghệ để cho vay ưu đãi phát triển công nghệ.

- Nhà nước khuyến khích các hoạt động hỗ trợ đầu tư tư nhân: tư vấn,

đào tạo, tiếp thị, thành lập các hiệp hội ngành nghề...

- Bổ sung thêm một số ngành nghề được ưu đãi đầu tư: trong đó đáng

chú ý ảnh hưởng tới LN ở Bắc Ninh là đầu tư xây dựng dây truyền sản xuất,

mở rộng quy mô đổi mới công nghệ cải thiện sinh thái, vệ sinh môi trường, di

chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi đô thị, đa dạng hoá ngành nghề sản phẩm và sử

dụng nhiều lao động.

- Đổi mới nội dung ưu đãi đầu tư: thông qua chính sách miễn giảm tiền

thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi thuế xuất thu nhập doanh

nghiệp.

Bước vào giai đoạn từ năm 2000 đến nay, chính sách ưu đãi đầu tư của

Nhà nước được thể hiện ở một số văn bản chính sau:

Trước tiên là Luật Doanh nghiệp năm 1999 và hệ thống các văn bản

quy định chi tiết và hướng dẫn liên quan. Ngoài việc tạo ra môi trường thuận

lợi thông thoáng cho hoạt động kinh doanh của tư nhân, tạo bước đột phá về

73

cải cách hành chính... thì về mặt khuyến khích đầu tư, các quy định của chính

sách đã giải quyết được cơ bản vấn đề quyền kinh doanh, quyền đầu tư, quyền

gia nhập thị trường và đi vào khuyến khích đầu tư ở mức độ sâu hơn như hỗ

trợ các nhà đầu tư tiếp cận với các yếu tố sản xuất, cụ thể hoá và bổ sung

thêm các cơ chế khuyến khích đầu tư ở giai đoạn trước.

Thứ hai là Quyết định 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ

tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các ngành nghề nông

thôn, Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp

phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó các quy định quan trọng là:

Chính sách hỗ trợ đầu tư hình thành các cụm công nghiệp, khu công nghiệp,

thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ mặt bằng sản xuất, hỗ trợ xúc tiến

xuất khẩu, hỗ trợ thông tin, tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực tài chính, các

giải pháp về tổ chức như cho phép thành lập các trung tâm xúc tiến thương

mại, các hiệp hội, câu lạc bộ trợ giúp doanh nghiệp v.v...

Thứ ba là Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ

về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Quyết định số

08/2007/QĐ-BTC ngày 2/3/2007 của bộ trưởng Bộ Tài chính về lãi suất cho

vay tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, đã khuyến khích các

doanh nghiệp mở rộng đầu tư xuất khẩu.

Thứ tư là Thông tư 79/2001/TT-BTC ngày 28/9/2001 hướng dẫn cơ chế

tài chính để thực hiện các dự án CSHT giao thông nông thôn, kiên cố hoá

kênh mương, CSHT LN và nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài các nguồn vốn đóng

góp của nhân dân, ngân sách nhà nước hỗ trợ thì các dự án này còn được vay

ưu đãi trong thời gian 4 đến 5 năm với lãi suất bằng không (0%).

Đặc biệt là Luật đầu tư năm 2005 có hiệu lực thi hành từ 1/7/2006

nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh phong trào kinh tế - xã hội và hội nhập sâu

rộng hơn nền kinh tế khu vực và thế giới, tạo ra những xung lực mới cho phát

74

triển kinh tế trong nước trong đó có các LN ở tỉnh Bắc Ninh. Trong đó đáng

lưu ý các nội dung tích cực là:

- Xoá bỏ tối đa sự phân biệt đối xử theo thành phần kinh tế, tạo sự bình

đẳng cả về pháp lý và điều kiện đầu tư, phù hợp các cam kết WTO.

- Quyền tự do đầu tư được mở rộng trừ một số lĩnh vực hạn chế và cần đảm

bảo phù hợp với cam kết quốc tế, bổ sung và mở rộng các hình thức đầu tư...

- Cải cách đáng kể về thủ tục tài chính đối với hoạt động đầu tư theo

hướng giảm thiểu cơ chế “xin cho”, minh bạch hoá, hợp lý hoá và phân cấp

mạnh mẽ cho địa phương quản lý, giảm đáng kể thủ tục đầu tư của các nhà

đầu tư nước ngoài.

- Tái khẳng định các nguyên tắc về đảm bảo đầu tư và ưu đãi đầu tư

đồng thời cụ thể hoá hơn các biện pháp đảm bảo và ưu đãi đầu tư nhằm giúp

các nhà đầu tư yên tâm hơn khi họ huy động bỏ vốn ra đầu tư.

- Quy định việc giải quyết tranh chấp liên quan đến nhà đầu tư nước

ngoài. Những thay đổi trong Luật Đầu tư 2005 đóng vai trò rất quan trọng

trong việc tạo lập môi trường đầu tư tự do, minh bạch ổn định, bình đẳng,

thuận lợi, phù hợp các nguyên tắc của WTO, có sức hấp dẫn với các nhà đầu

tư trong và ngoài nước, qua đó góp phần khai thác một cách có hiệu quả các

nguồn lực vào mục tiêu phát triển KT-XH nói chung và các LN nói riêng.

2.2.1.4. Chính sách thuế, phí, lệ phí và giá cả

Chính sách thuế của Nhà nước được cải cách mạnh mẽ xuất phát từ chủ

trương của Đảng nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển... có tầm nhìn

dài hạn trong chính sách thu, tính đến nhu cầu chi cấp thiết trước mắt, nhưng

phải chú trọng bồi dưỡng nguồn thu lâu dài. Đổi mới chính sách thuế theo

hướng đơn giản, ổn định, công bằng, khuyến khích làm ăn hợp pháp, đảm bảo

tỷ lệ động viên hợp lý vào ngân sách đồng thời tạo điều kiện cho các doanh

nghiệp tích tụ vốn để đầu tư phát triển. Thực hiện chính sách ưu đãi hơn nữa

75

đối với đầu tư phát triển và đối với từng vùng còn nhiều khó khăn. Trên tinh

thần này mà năm 1997 luật thuế giá trị gia tăng và luật thuế thu nhập doanh

nghiệp đã ra đời thay thế cho luật thuế doanh thu và thuế lợi tức trước đó.

Đồng thời thực hiện sửa đổi luật thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế

nhập khẩu, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế tài nguyên và thuế thu nhập

đối với người có thu nhập cao. Hệ thống chính sách thuế này đã trở thành

công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế thúc đẩy SXKD

phát triển, khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, thúc đẩy

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

góp phần xoá đói giảm nghèo. Đồng thời đã từng bước xoá bỏ chênh lệch về

nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế, thu hẹp khoảng cách về nghĩa vụ

thuế giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài... tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng trong cơ chế thị trường

và từng bước phù hợp với lộ trình cam kết tự do hoá thương mại.

Để tạo điều kiện cho các cơ sở ngành nghề nông thôn trong đó có các

LN tăng thêm nguồn vốn tích luỹ để đầu tư mở rộng SXKD, Thủ tướng Chính

phủ có Quyết định 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2004 quy định cho các sở

này được hưởng mức thuế ưu đãi theo chính sách pháp luật về khuyến khích

đầu tư và về thuế tài nguyên theo quy định của pháp luật thuế tài nguyên.

Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ về phí, lệ phí đã

bãi bỏ và nghiêm cấm việc thu phí, lệ phí khác trái với pháp luật đối với các

cơ sở ngành nghề nông thôn. Và gần đây theo chỉ thị số 24/2007/CT-TTg

ngày 01/11/2007, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu tất cả địa phương rà soát

để bãi bỏ một số khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp như: lao động công

ích, giao thông nông thôn, lệ phí tuyển sinh v.v... đồng thời thực hiện miễn

giảm một số loại phí, lệ phí như: phí an ninh, lệ phí địa chính, lệ phí hộ tịch,

hộ khẩu v.v...

76

Về giá, từ sau năm 1989, nhà nước đã xoá bỏ cơ chế định giá cứng để

chuyển sang quy định giá giới hạn (giá trần hoặc giá sàn) Nhà nước thông qua

chế độ phân cấp quản lý giá cụ thể để quyết định giá một số mặt hàng có ảnh

hưởng lớn tới các cân đối lớn của nền kinh tế cả nước. Đối với một số LN, giá

một số yếu tố đầu vào của hoạt động SXKD dịch vụ đang chịu sự quản lý của

Nhà nước về giá như: giá điện, nước sạch, xăng dầu, tiền lương tối thiểu, giá

đất đai, đơn giá thuê đất v.v... Các chính sách về giá này được thể hiện rõ

trong các quy định của Nghị định 170/2003/NĐ-CP ngày 15/12/2003 của

Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh giá và một số

văn bản liên quan khác.

2.2.1.5. Chính sách thương mại

Chính sách thương mại sau năm 1997 được thể hiện trong Luật Thương

mại 1997, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1998. Luật này đã tác động rất lớn đến

việc mở rộng thị trường cả đầu vào và đầu ra, phát triển các LN ở Bắc Ninh.

Bởi nó quy định rõ quyền hoạt động thương mại của thành phần kinh tế tư

nhân: cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện theo quy

định của pháp luật được hoạt động thương mại trong các lĩnh vực, tại các địa

bàn mà pháp luật không cấm. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện mở rộng

lưu thông hàng hoá, phát triển dịch vụ thương mại mà pháp luật không hạn

chế hoặc không cấm.

Để hướng dẫn luật thương mại, Chính phủ đã ban hành Nghị định

11/1999/NĐ-CP ngày 3/3/1999 về hàng hoá cấm lưu thông, dịch vụ thương

mại cấm thực hiện, hàng hoá dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh và kinh

doanh có điều kiện.

Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách về việc bãi bỏ một số loại

giấy phép liên quan đến Luật Thương mại và Luật Doanh nghiệp: Nhằm tiếp

tục đổi mới sâu rộng hơn nữa, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số

77

311/QĐ-TTg ngày 20/3/2003 phê duyệt đề án “Tiếp tục tổ chức thị trường

trong nước, tập trung phát triển thương mại nông thôn thời kỳ đến năm 2010”

và Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 31/3/2004 về việc thực hiện một số giải pháp

chủ yếu nhằm phát triển mạnh thị trường nội địa.

Nhà nước cũng ban hành các chính sách phát triển và quản lý kết cấu hạ

tầng thương mại như: Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 về phát

triển và quản lý chợ, Quyết định số 559/QĐ-TTg ngày 31/5/2004 của Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển chợ đến 2010, Thông tư

06/2003/TT-BTM ngày 15/8/2003 của Bộ Thương mại về ban quản lý chợ,

Quyết định số 0772/QĐ-BTM ngày 24/6/2003/TT-BTC ngày 11/7/2003 của

Bộ trưởng Bộ Thương mại về nội quy mẫu về chợ, Thông tư 07/2003/TT-

KHĐT ngày 11/7/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ tài chính của chợ...

đã hình thành khuôn khổ pháp lý để phát triển và quản lý chợ góp phần phát

triển mạnh thị trường nội địa đặc biệt vùng nông thôn, trong đó có các LN.

Về chính sách ngoại thương, Luật Thương mại và các văn bản quy định

chi tiết và hướng dẫn liên quan đều xoanh quanh quy định: Nhà nước thống

nhất quản lý ngoại thương, có chính sách mở rộng giao lưu hàng hoá với nước

ngoài trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi theo

hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, khuyến khích các thành phần kinh tế sản

xuất hàng xuất khẩu và tham gia xuất khẩu theo quy định của pháp luật, có

chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xuất khẩu, tạo những mặt hàng xuất khẩu có

sức cạnh tranh, tăng xuất khẩu dịch vụ thương mại, hạn chế nhập khẩu các

mặt hàng trong nước đã sản xuất được và có khả năng đáp ứng nhu cầu, bảo

hộ hợp lý sản xuất trong nước, ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị, công nghệ

cao, kỹ thuật hiện đại để phát triển sản xuất phục vụ sản xuất công nghiệp hoá

hiện đại hoá đất nước. Hiện nay, hầu hết hàng xuất khẩu có thuế suất bằng 0,

thuế xuất hàng nhập khẩu được giảm dần theo lộ trình cam kết trong hội nhập

78

quốc tế (AFTA và WTO). Nhà nước cũng có những quy định về mở rộng

quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, gia công cho thương nhân nước ngoài, thuê

gia công hàng hoá ở nước ngoài, đại lý bán hàng hoá cho thương nhân nước

ngoài và thuê đại lý bán hàng ở nước ngoài.

Về chính sách hội nhập kinh tế quốc tế là: chủ động chuẩn bị các điều

kiện về cán bộ, luật pháp, về sản phẩm có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị

trường khu vực và quốc tế. Chúng ta đã tham gia Diễn đàn hợp tác Á - Âu

(ASEM) 1996; được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình

Dương (APEC) 1998; là thành viên của ASEAN ký kết hiệp định Thương mại

Việt Nam - Hoa Kỳ, đang trong quá trình hoàn thành các cam kết AFTA; gia

nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO).

2.2.1.6. Chính sách đào tạo nguồn nhân lực

Chính sách đào tạo nguồn nhân lực được Nhà nước đặc biệt quan tâm

trong những năm gần đây. Trước năm 2000 chưa thấy có chính sách cụ thể về

đào tạo nguồn nhân lực cho các LN một cách rõ ràng, nhất quán. Do vậy, chỉ

một số ít dự án đào tạo dạy nghề ở một số địa bàn được sự tài trợ của các tổ

chức nước ngoài hoặc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách nhà nước. Chỉ đến khi

có Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính

phủ về một số chính sách phát triển ngành nghề nông thôn thì chính sách hỗ

trợ, khuyến khích và mở rộng các hình thức đào tạo nghề mới được quy định

rõ: Cho phép các nghệ nhân được tổ chức truyền nghề trực tiếp, được thu tiền

của người học nghề và được miễn các loại thuế trong hoạt động dạy nghề;

khuyến khích các tổ chức,hợp tác xã, các hiệp hội mở các lớp truyền nghề,

dạy nghề cho người lao động. Nhà nước cũng có các chính sách khuyến khích

đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đào tạo như các chính sách về ưu đãi đầu tư,

chính sách thuế, chính sách xã hội hoá, các chính sách trợ giúp khuyến công,

khuyến nông...như các Thông tư liên tịch số 36/TTLT-BTC-BCN ngày

79

16/5/2005 về quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp đối với hoạt động khuyến

công, Thông tư liên tịch số 50/2007/TTLT-BCT-Bắc NinhN &PTNT-BTS

ngày 21/5/2007 về kinh phí đối với hoạt động khuyến nông, khuyến

ngư...Nhà nước cũng ưu tiên đào tạo nghề trong các cơ sở dạy nghề của Nhà

nước, đào tạo về thiết kế mẫu mã, tạo dáng sản phẩm thuộc các mặt hàng thủ

công mỹ nghệ, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nghệ nhân,

chuyên gia nước ngoài phổ biến kinh nghiệm và truyền thụ bí quyết sản xuất

các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp. Nhà nước cũng có các chính sách tôn vinh

các nghệ nhân, thợ giỏi có công đào tạo, giữ gìn và truyền dạy nghề, các chủ

sở có nhiều sản phẩm ngành nghề được thị trường chấp nhận, thu hút nhiều

lao động và đóng góp nhiều ngân sách cho Nhà nước như các Thông tư liên

tịch số 41/2002/TTLT/Bắc NinhN - BLĐTBXH - BVHTT ngày 30/5/2002

hướng dẫn tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận danh hiệu và một số chính sách

đối với nghệ nhân, Thông tư 01/2007/BCN ngày 12/1/2007 của Bộ công

nghiệp hướng dẫn tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tăng danh hiệu

nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú...

Ngoài ra thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm

nghèo, Quỹ hỗ trợ quốc gia về việc làm, dự án nâng cao năng lực dạy nghề

thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục đào tạo 2006-2010, Nhà nước

đã chú trọng bố trí kinh phí ngân sách nhà nước nhằm hỗ trợ cho công tác đào

tạo dạy nghề như nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy nghề,

đào tạo công nhân, thợ lành nghề, đào tạo cán bộ quản lý hợp tác xã và các cơ

sở ngành nghề nông thôn.

Đặc biệt là từ năm 2005 lại đây Nhà nước đã thấy rõ tầm quan trọng và

nhu cầu cấp thiết cho đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn. Thủ tướng Chính

phủ đã có quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 về chính sách hỗ

trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn và được hướng dẫn tại Thông

80

tư liên bộ số 06/2006/TTLB-BTC-BLĐTBXH ngày 19/1/2005 của Liên Bộ

Tài chính - Bộ lao động TBXH. Trong đó mức hỗ trợ tối đa 300.000đ/ người/

tháng và không quá 1.500.000 đ/người khoá học nghề cho các đối tượng nông

thôn theo thủ tục ưu tiên cho lao động thuộc các hộ bị Nhà nước thu hồi đất

canh tác, các lao động thuộc đối tượng chính sách, lao động nữ, lao động

thuộc các LN, vùng chuyên canh…Với chính sách này các LN ở tỉnh Bắc

Ninh đã phát triển mạnh mẽ với một đội ngũ nguồn nhân lực khá dồi dào.

2.2.1.7. Chính sách bảo vệ môi trường và khoa học công nghệ

Vấn đề môi trường vừa là vấn đề kinh tế vừa là vấn đề xã hội,bảo vệ

môi trường là bảo vệ sản xuất và môi trường sinh tồn của con người. Vì vậy,

trong chiến lược đẩy mạnh CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa,

xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công

nghiệp đã được Đại hội IX (4/2001) của Đảng ta thông qua, có nêu rõ quan

điểm phát triển của 10 năm tới đây là: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,

tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ

môi trường. Để thực hiện đường lối chủ trương này cần phát triển KT - XH

nói chung và LN nói riêng phải gắn chặt với bảo vệ môi trường và cải thiện

môi trường, đảm bảo sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường

thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học. Chủ động phòng tránh và hạn chế tác

động xấu của thiên tai, khí hậu… Bảo vệ và cải tạo môi trường là trách nhiệm

của toàn xã hội, tăng cường quản lý Nhà nước đi đôi với nâng cao ý thức

trách nhiệm của mọi người dân.Với các LN do đặc điểm của nó mà tình trạng

ô nhiễm môi trường là khá phổ biến và khá trầm trọng. Nhà nước đã ban hành

nhiều chính sách nhằm bảo vệ môi trường, trong đó một số văn bản đáng chú

ý là: Luật Bảo vệ môi trường 1993, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi 2005 và

các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường; Quyết định

174/2006/QĐ-TTg ngày 28/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án

81

tổng thể bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái, cảnh quan lưu

vực sông Cầu.

Ngoài ra, các chính sách bảo vệ môi trường và khoa học công nghệ còn

được thể hiện trong “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”

theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính

phủ hay còn gọi tắt là “Chương trình Nghị sự 21”. Trong đó một trong những

mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng

tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý

và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống…,

khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.

Về chính sách khoa học công nghệ ảnh hưởng đến phát triển các LN

được đề cập trong một số các văn bản của Nhà nước đáng chú ý là:

- Quyết định 132/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/11/2000

về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn.

- Nghị định 134/2004/NĐ-CP ngày 9/6/2004 của Chính phủ về khuyến

khích phát triển công nghệ nông thôn.

Những nội dung cơ bản của các chính sách này về khía cạnh khuyến

khích phát triển khoa học công nghệ được tập trung ở một số quy định sau:

+ Lập Quỹ hỗ trợ khoa học và công nghệ quốc gia nhằm hỗ trợ nghiên

cứu áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, chuyển giao công nghệ.

+ Bộ khoa học công nghiệp tổ chức chỉ đạo và dành nguồn kinh phí cần

thiết trong kế hoạch hàng năm cho việc nghiên cứu, đổi mới công nghệ, cải

tiến mẫu mã sử dụng các nguồn nguyên liệu trong nước, hướng dẫn việc áp

dụng các loại công nghệ phù hợp để nâng cao năng suất lao động, hạ giá

thành, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao giá trị thẩm mỹ và độ tinh sảo của sản

phẩm các LN, nghiên cứu chuyển giao công nghệ xử lý chất thải, giải quyết

tình trạng ô nhiễm môi trường trong các LN ở nông thôn.

82

+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Bộ văn hoá thông

tin, liên minh hợp tác xã Việt Nam hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân, tổ chức

đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn trong việc chọn lọc, hoàn thiện bảo

tồn các công nghệ truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Nhà nước

có chính sách khen thưởng và trợ giúp cá nhân, tổ chức triển khai các hoạt

động nghiên cứu, thiết kế, cải tiến mẫu mã, tạo dáng sản phẩm, chuyển giao

công nghệ trong các gia đình, tổ chức đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn,

nhất là ở các LN theo đúng quy định của pháp luật về sử hữu trí tuệ và khoa

học công nghệ của Nhà nước. Nhà nước khuyến khích các cơ sở ngành nghề

nông thôn nhập khẩu máy móc, trang thiết bị, dây truyền công nghệ tiên tiến

để hiện đại hoá sản xuất.

+ Cơ sở ngành nghề nông thôn phải có biện pháp xử lý chất thải, bảo

đảm vệ sinh môi trường, thực hiện việc di chuyển cơ sở gây ô nhiễm môi

trường đến địa điểm thích hợp.

+ Các cơ sở ngành nghề nông thôn phải không ngừng nâng cao chất

lượng, đa dạng hoá sản phẩm làm cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ ngày càng

tinh xảo hơn, thể hiện đậm đà bản sắc văn hoá, truyền thống dân tộc, nâng cao

sức cạnh tranh, tự chịu trách nhiệm với người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm

do mình sản xuất ra, có trách nhiệm đăng ký tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm do

mình sản xuất ra, có trách nhiệm đăng ký tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, mẫu

mã, bao bì, kiểu dáng công nghiệp với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

+ Các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn có ứng dụng thiết bị công

nghệ mới, vật liệu mới hoặc đầu tư vào thiết bị công nghệ tự động hoá, công

nghệ xử lý nguồn, kiểm soát ô nhiễm, sử dụng năng lượng, tái tạo nguồn nước

công nghiệp sẽ được ảnh hưởng chính sách hỗ trợ thuộc các chương trình kỹ

thuật kinh tế như công nghệ thông tin, công nghệ tự động hoá, công nghệ sinh

học, công nghệ vật liệu và tiết kiệm năng lượng.

83

Ngoài ra chính sách khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường còn thể

hiện trong quá trình ngân sách nhà nước với chỉ tiêu ngân sách cho khoa học

công nghệ là pháp lệnh toàn quốc để đảm bảo một tỷ trọng cơ cấu chi nhất

định trong ngân sách nhà nước, chỉ tiêu ngân sách cho bảo vệ môi trường

cũng đã được xác định riêng trong dự toán ngân sách các cấp bắt đầu từ thời

kỳ ổn định ngân sách 2007-2010. Nhà nước cũng xác định tỷ lệ % hỗ trợ của

ngân sách các cấp cho một số nội dung của các dự án xã hội hoá về bảo vệ và

xử lý rác thải, môi trường sinh thái.

Nhìn chung với hệ thống chính sách mà nhà nước ban hành đã tạo môi

trường thuận lợi cho sự mở mang phát triển LN (LNTT và LN mới). Tuy

nhiên những chính sách đó còn có những khía cạnh phảu hoàn thiện để đáp

ứng với yêu cầu phát triển của các LN hiện nay trong điều kiện phát triển kinh

tế thị trường và quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

2.2.2. VÒ mét sè chÝnh s¸ch cña tØnh B¾c Ninh

Trên cơ sở các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, những

yếu tố đặc thù tình hình thực tế về điều kiện tự nhiên, đặc điểm KT - XH của

tỉnh, Đảng bộ và chính quyền địa phương theo thẩm quyền được phân cấp

theo quy định của pháp luật đã ban hành một số các chính sách riêng cho phát

triển LN và một số chính sách liên quan đến phát triển KT-XH nói chung.

Điểm xuất phát và là cơ sở cho các chính sách phát triển LN của tỉnh

Bắc Ninh từ 1997 đến nay là Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 25/5/1998 của

Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển LN tiểu thủ công nghiệp

trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Nội dung chủ yếu của Nghị quyết là xác định

phương hướng phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh theo 3 hướng:

- Củng cố LN hiện có, tập trung đầu tư phát triển các LN có điều kiện

phát triển tốt. Khôi phục LN cũ và xây dựng các LN mới gắn với kinh doanh

làng văn hoá - du lịch. Hình thành các cụm công nghiệp theo ngành hàng,

trước mắt là các cụm hàng thủ công mỹ nghệ.

84

- Quá trình sản xuất vừa phải tập trung khai thác triệt để thị trường nội

địa vừa phải chú ý hướng ra thị trường thế giới, phấn đấu nâng cao dần tỷ

trọng hàng hoá xuất khẩu.

- Phát triển LN theo hướng đa dạng hoá hình thức sở hữu, kết hợp giữa

công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, đảm bảo môi trường sinh

thái, giữ gìn cảnh quan thôn xóm và sức khoẻ cho nhân dân.

Nghị quyết này cũng đã đưa ra một số chủ trương về bảy giải pháp phát

triển LN là: Quy hoạch và tạo mặt bằng cho sản xuất; về vốn đầu tư phát

triển, nguyên liệu cho sản xuất và thị trường tiêu thụ, tổ chức sản xuất và

phát triển nguồn nhân lực, về thuế, phí và lệ phí, tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng đối với việc khôi phục, củng cố phát triển và mở rộng LN và đẩy mạnh

công tác quản lý nhà nước đối với các LN.

Thời gian qua, các chính sách của tỉnh Bắc Ninh ảnh hưởng tích cực

đến sự phát triển của các LN theo các nhóm chính sách như sau:

*Một là, chính sách tác động đến đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh

của các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh ở làng nghề:

- Nghị quyết số 02/NQ-TW ngày 4/5/2001 của Tỉnh uỷ Bắc Ninh về xây

dựng và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc

Ninh với mục tiêu chủ yếu là: Phấn đấu đến năm 2005, lấp đầy 50-60% diện

tích đã quy hoạch của 2 khu công nghiệp tập trung. Mỗi huyện có ít nhất 1 cụm

công nghiệp. Lấp đầy các cụm công nghiệp đã được phê duyệt, các cụm khác có

từ 5-10 nhà đầu tư thuê mặt bằng SXKD. Đồng thời đưa ra 12 nhiệm vụ và giải

pháp chủ yếu, trong đó chú ý là công tác hoàn chỉnh quy hoạch, chỉ đạo công tác

giải phóng mặt bằng, các chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư, cải cách hành

chính v.v… Việc quy hoạch và phát triển các cụm công nghiệp làng nghề là một

vận dụng sáng tạo của tỉnh Bắc Ninh trong việc thực hiện chủ trương phát triển

nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH đất nước.

85

- Các Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh về quy định khung giá mức

bồi thường các loại đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh như: Quyết định 84/CT ngày

3/6/1997; Quyết định 36/1998/QĐ-UB ngày 13/6/1998, Quyết định 74/1998/QĐ-UB

ngày 11/9/1998; Quyết định 69/2004/QĐ-UB ngày 28/12/2004; Quyết định số 225/QĐ-UB

ngày31/12/2004; Quyết định 123/2006/QĐ-UBND ngày 8/12/2006 v.v…

Trong đó mức giá quy định vừa đảm bảo phù hợp đặc điểm từng vùng, vừa

đảm bảo đền bù đất thoả đáng cho người bị thu hồi đất nhưng cũng đảm bảo

sức hút cho các nhà đầu tư.

- Các Chỉ thị, Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh về cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính…như: Chỉ thị 12/UB-CT

ngày 24/12/1997, Quyết định 945/1998/QĐ-UB ngày 01/10/1998; v.v… nhằm tạo

điều kiện cho việc quản lý đất đai trên địa bàn hiệu quả minh bạch.

- Quyết định số 128/2005/QĐ-UB ngày 10/10/2005 về việc ban hành

quy chế quản lý các khu công nghiệp nhỏ và vừa, các cụm công nghiệp LN

trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Liên Sở Công nghiệp - Sở Tài nguyên môi trường

cũng có hướng dẫn liên ngành số 142/HD-LN ngày 12/6/2001 về việc xét

duyệt các đối tượng thuê đất và lập hồ sơ xin thuê đất của các tổ chức kinh tế

và các hộ gia đình trong các khu, cụm công nghiệp LN theo hướng đơn giản,

thuận tiện cho các nhà đầu tư.

- Quyết định số 38/QĐ-UB ngày 11/4/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh

về việc ban hành quy định phân công, phân cấp quản lý quy hoạch xây dựng

trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cho các cơ quan và các cấp ở địa phương về nhiệm

vụ, thẩm quyền trong công tác lập, thẩm định, phê duyệt, nhiệm vụ và đồ án

quy hoạch xây dựng, về quản lý thực hiện quy hoạch xây dựng.

*Hai là, các chính sách về thu hút, khuyến khích đầu tư:

- Quyết định 60/2001/QĐ-UB ngày 26/6/2001 của UBND tỉnh về việc

ban hành quyết định ưu đãi, khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

86

nhằm ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các Công ty đầu tư phát triển hạ

tầng trong các khu công nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước

và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là một chính sách có tính

đột phá mở đường cho thu hút đầu tư mạnh mẽ của tỉnh Bắc Ninh. Tỉnh Bắc

Ninh ưu đãi về giá thuê đất, hỗ trợ tiền đền bù thiệt hại về đất, miễn giảm

hoặc chậm nộp tiền thuê đất, tạo điều kiện cho vay vốn để đầu tư CSHT khu

công nghiệp, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách địa phương cho đầu tư hạ tầng khu

công nghiệp, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ các công trình hạ

tầng ngoài hàng rào các khu, cụm công nghiệp, hỗ trợ đào tạo nghề, xúc tiến

thương mại, tiếp cận thị trường…

- Quyết định 104/2002/QĐ-UB ngày 30/8/2002 của Uỷ ban nhân dân

tỉnh về việc bổ sung quy định về ưu đãi khuyến khích đầu tư: đã bổ sung các

chính sách ưu đãi khuyến khích hơn đối với các dự án chế biến nông sản thực

phẩm, các dự án thu hút nhiều lao động, có hiệu quả KT-XH và tác động lớn

đến phát triển kinh tế nông thôn, các dự án đầu tư vào các vùng khó khăn là

các huyện Nam sông Đuống. (Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành).

- Quyết định 107/2002/QĐ-UB ngày 30/8/2002 của Uỷ ban nhân dân

tỉnh ban hành quy định về ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các khu du lịch

trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

*Ba là, các chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề:

- Hỗ trợ xây dựng đường giao thông nông thôn theo Quyết định số

39/QĐ-UB ngày 21/4/2000; Quyết định số 66/QĐ-UB ngày 18/7/2001; Quyết

định 170/QĐ-UB ngày 22/12/2005. Theo đó Nhà nước hỗ trợ 20% giá trị khối

lượng hoàn thành, xã khó khăn là 40%; từ năm 2006 tỷ lệ hỗ trợ 40% giá trị

hoàn thành các dự án xây dựng đường giao thông nông thôn.

- Hỗ trợ đầu tư xây dựng kiên cố hoá kênh mương cấp 3 của các xã

theo Quyết định số 902/QĐ-CT ngày 13/10/1999, Nghị định số 11/2000/NQ-

87

HĐND, ngày 26/4/2000. Theo đó, Nhà nước hỗ trợ 50% giá trị tổng mức đầu

tư, riêng đối với các xã khó khăn là 70% giá trị tổng mức đầu tư.

- Hỗ trợ đầu tư xây dựng, cơ sở vật chất các trường mầm non dân lập,

các trường tiểu học, trung học cơ sở công lập theo Quyết định số

110/2002/QĐ-UB ngày 6/9/2002.

- Hỗ trợ đầu tư xây dựng trụ sở xã, nhà sinh hoạt nông thôn theo Quyết

định số 140/2003/QĐ-UB ngày 31/12/2003: Nhà nước hỗ trợ 30% giá trị

quyết toán đối với trụ sở xã, các xã khó khăn là 45%, hỗ trợ 20% giá trị hoàn

thành quyết toán đối với nhà sinh hoạt thôn.

- Ngoài ra, tỉnh cũng đã có các Quyết định hỗ trợ từng năm cho xây

dựng hạ tầng chợ nông thôn, các cơ sở khác như trạm y tế, hạ tầng thể thao,

văn hoá ở cơ sở từ nguồn ngân sách tỉnh. Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng đã có

Quyết định số 134/2002/QĐ-UB ngày 30/7/2004 về quy trình thực hiện các

dự án sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng CSHT tỉnh Bắc Ninh nhằm tạo điều

kiện cho các cấp khai thác quỹ đất tạo vốn xây dựng CSHT.

Các chính sách hỗ trợ cơ sở hạ tầng nông thôn trong đó có LN là một trong

những chính sách quan trọng của tỉnh Bắc Ninh làm thay đổi diện mạo nông thôn,

góp phần quan trọng phát triển KT-XH của tỉnh theo hướng CNH, HĐH.

*Bốn là, các chính sách tác động đến bảo vệ môi trường ở các làng nghề

gồm các công văn chủ yếu là:

- Quyết định 203/UB ngày 6/9/1997 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về đánh giá

tác động môi trường các dự án phát triển kinh tế - xã hội và SXKD trên địa bàn.

- Quyết định số 71/2000/QĐ-UB ngày 4/7/2000 của Uỷ ban nhân dân

tỉnh về chế độ khuyến khích và biện pháp quản lý hoạt động khoa học công

nghệ và bảo vệ môi trường.

- Quyết định số 76/2000/QĐ-UB ngày 26/7/2000 của Uỷ ban nhân dân

tỉnh về quy chế bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Ninh.

88

- Quyết định số 106/2005/QĐ-UB ngày 16/8/2005 của Uỷ ban nhân

dân tỉnh về việc hỗ trợ đầu tư chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường

nông thôn giai đoạn 2006-2010 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

- Quyết định số 2218/QĐ-CT ngày 1/11/2005 của Chủ tịch Uỷ ban

nhân dân tỉnh Bắc Ninh về phê duyệt quy hoạch môi trường tỉnh Bắc Ninh

giai đoạn 2006-2010 và kế hoạch bảo vệ môi trường giai đoạn 2006-2010.

Các chính sách trên của địa phương đã phần nào ngăn chặn được sự ô

nhiễm ở các LN trong tỉnh.

*Năm là, các chính sách tác động hỗ trợ quá trình sản xuất kinh doanh,

tiêu thụ sản phẩm, phát triển các làng nghề là:

- Hỗ trợ khuyến khích phát triển công nghiệp theo QĐ số

105/2002/QĐ-UB ngày 30/8/2002 và Quyết định số 87/2004/QĐ-UB về

thành lập, quản lý, sử dụng quỹ khuyến nông. Ngân sách tỉnh hỗ trợ kinh phí

theo các nước khác nhau cho các đơn vị sản xuất công nghiệp trong tỉnh có dự

án đầu tư mới, mở rộng, đầu tư chiều sâu, áp dụng công nghệ mới, sử dụng

nguyên liệu là nông sản thực phẩm trong tỉnh, cơ sở sản xuất thu hút nhiều lao

động, cơ sở đưa sản phẩm đi dự hội chợ triển lãm trong và ngoài nước v.v…

- Hỗ trợ xuất khẩu theo các Quyết định 106/2002/QĐ-UB ngày

30/8/2002 và Quyết định số 88/2004/QĐ-UB ngày 10/6/2004 của Uỷ ban

nhân dân tỉnh về quy chế hình thành, sử dụng và quản lý quỹ hỗ trợ xuất khẩu

nhằm hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng cho các cơ sở có hợp đồng mua hàng nông

sản thực phẩm của nông dân trong tỉnh để xuất khẩu, hỗ trợ các cơ sở xuất

khẩu đầu tư mở rộng, chiều sâu nâng cao chất lượng sản phẩm, hỗ trợ tìm

kiếm thị trường xuất khẩu, hỗ trợ quảng cáo sản phẩm xuất khẩu v.v…

- Quyết định số 23/2002/QĐ-UB ngày 22/2/2002 của Uỷ ban nhân dân

tỉnh quy định về thưởng cho các đơn vị sản xuất nâng cao chất lượng sản

phẩm và hỗ trợ đối với các sản phẩm mới.

89

*Sáu là, một số các chính sách khác liên quan tới phát triển làng nghề ở

Bắc Ninh:

- Chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực như: Quyết định số

84/2003/QĐ-UB ngày 17/9/2003 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt

đề án quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề tỉnh Bắc Ninh giai đoạn

2003-2010. Sau Quyết định này là một loạt các Quyết định của Chủ tịch Uỷ

ban nhân dân tỉnh thành lập hoặc cho phép thành lập các trung tâm, các

trường dạy nghề cả công lập và ngoài công lập trên địa bàn tỉnh, Quyết định

số 60/2005/QĐ-UB ngày 6/6/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về chế độ, chính

sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng nhân tài tỉnh Bắc Ninh.

- Chính sách hỗ trợ khoa học công nghệ như Quyết định số

104/2004/QĐ-UB ngày 2/7/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc bán hàng

quy định quản lý, tổ chức triển khai các dự án, đề tài khoa học công nghệ và

các chính sách về khuyến công, khuyến khích ưu đãi đầu tư v.v…

- Các chính sách liên quan đến cải cách hành chính nhằm thuận tiện

cho các cơ sở SXKD LN đầu tư phát triển như Quyết định số 117/2000/QĐ-

UB ngày 20/11/2000 quy định thủ tục hồ sơ, quy chế phối hợp cấp giấy phép

đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư, Quyết định 13/2004/QĐ-UB ngày 16/2/2004

phê duyệt chương trình cải cách hành chính tỉnh Bắc Ninh và một loạt các

Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh về ban hành quy trình, thủ tục, trình tự,

thời gian giải quyết các lĩnh vực công việc áp dụng thực hiện cơ chế một cửa

tại các cơ quan như Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tài nguyên môi trường, Sở Xây

dựng, ban quản lý các khu công nghiệp…

- Chính sách hỗ trợ về tín dụng:

Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 25/2/2008 của UBND tỉnh Bắc

Ninh về việc thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và

vừa tỉnh Bắc.

90

Quỹ bảo lãnh tín dụng Bắc Ninh là một tổ chức tài chính thực hiện

chính sách giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của Bắc Ninh thông qua

việc bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại các tổ chức tín

dụng khi không đủ tài sản bảo lãnh.

- Các chính sách khác về phân cấp quản lý ngân sách, định mức phân

bổ ngân sách năm đầu thời kỳ ổn định đều xác định hệ số phân bổ riêng cho

các LN đối với một số định chi về sự nghiệp kinh tế, bảo vệ môi trường…

Ngoài ra, Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng đã quyết định thành lập một loạt

các trung tâm nhằm trợ giúp các cơ sở SXKD trên nhiều lĩnh vực như: Trung

tâm Tư vấn đầu tư (Sở Kế hoạch đầu tư), Trung tâm Khuyến công và Tư vấn

phát triển công nghiệp (Sở Công nghiệp), Trung tâm xúc tiến việc làm (Sở

Tài nguyên môi trường), Trung tâm Phát triển Quỹ đất (Sở Tài nguyên môi

trường), Trung tâm tư vấn, chuyển giao khoa học công nghệ (Sở Khoa học

công nghệ) v.v…

Nhìn chung, trên cơ sở chính sách và luận pháp của nhà nước, tỉnh

Bắc Ninh đã tiếp tục cụ thể hoá các chính sách đó trong quá trình thực

hiện. Đồng thời, từ điều kiện KT-XH của tỉnh, từ đặc điểm các LN, Bắc

Ninh đã có một số chính sách và biện pháp tác động vào sự phát triển

của LN nhằm hướng tới mục tiêu tỉnh Bắc Ninh là tỉnh công nghiệp vào

năm 2015.

2.3. t¸c ®éng chÝnh s¸ch ®Õn sù ph¸t triÓn c¸c lµng 2.3. t¸c ®éng chÝnh s¸ch ®Õn sù ph¸t triÓn c¸c lµng 2.3. t¸c ®éng chÝnh s¸ch ®Õn sù ph¸t triÓn c¸c lµng 2.3. t¸c ®éng chÝnh s¸ch ®Õn sù ph¸t triÓn c¸c lµng

nghÒ vµ kinh tÕ nghÒ vµ kinh tÕ nghÒ vµ kinh tÕ nghÒ vµ kinh tÕ –––– x· héi tØnh b¾c ninh tõ 1997 x· héi tØnh b¾c ninh tõ 1997 x· héi tØnh b¾c ninh tõ 1997 x· héi tØnh b¾c ninh tõ 1997 ®Õn nay ®Õn nay ®Õn nay ®Õn nay

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước kể cả trung ương và

địa phương trong thời gian qua đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển

KT-XH nói chung và LN nói riêng ở tỉnh Bắc Ninh. Qua nghiên cứu thực

trạng làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh có thể thấy một số kết quả và hạn chế sau:

91

2.3.1. KÕt qu¶

2.3.1.1. Tạo lập được hệ thống kết cấu hạ hầng và mặt bằng sản xuất

kinh doanh cho các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh

Thông qua các chính sách về đất đai, khuyến khích ưu đãi đầu tư mà hiện nay

Bắc Ninh đã có một hệ thống kết cấu hạ tầng và mặt bằng SXKD khá lớn cho các hộ,

doanh nghiệp SXKD. Để chuyển mục đích sử dụng đất, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện tốt

công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để trình Chính phủ phê duyệt.

Ngoài việc đến nay đã quy hoạch, đầu tư xây dựng và hình thành 4 khu công

nghiệp tập trung là khu công nghiệp Tiên Sơn, khu công nghiệp Quế Võ, khu công

nghiệp Đại Đồng - Hoàn Sơn, khu công nghiệp Yên Phong với diện tích quy hoạch

trên 2000 ha, thì Bắc Ninh đã quy hoạch và đầu tư xây dựng tổng số 26 khu công

nghiệp nhỏ và vừa, cụm công nghiệp LN với tổng diện tích là 661,4 ha. Bao gồm:

- 7 khu, cụm công nghiệp đã đầu tư xong hạ tầng và cho thuê hết 100%

diện tích: Cụm công nghiệp LN Châu Khê, Đồng Quang, khu công nghiệp

nhỏ và vừa Lỗ Xung, Mả Ông (Huyện Từ Sơn), cụm công nghiệp LN Phong

Khê (Yên Phong), khu công nghiệp Võ Cường (thành phố Bắc Ninh), cụm

công nghiệp LN Đại Bái (Gia Bình).

- 11 khu, cụm công nghiệp đang vừa tiến hành đầu tư vừa cho thuê đất

để các doanh nghiệp đầu tư xây dựng và sản xuất, khu công nghiệp Tân Hồng

- Đồng Quang, Đồng Nguyên, cụm công nghiệp LN Tương Giang (Từ Sơn ),

cụm công nghiệp LN Phú Lâm, khu công nghiệp Khắc Niệm, Hạp Lĩnh (Tiên

Du), khu công nghiệp Táo đôi - Lâm Bình (Lương Tài).

- 8 khu, cụm công nghiệp đang tiến hành đầu tư gồm: Khu công nghiệp đạt

tiêu chuẩn môi trường Đồng Quang, cụm công nghiệp Châu Khê mở rộng, khu

công nghiệp công nghệ cao Tam Sơn, khu công nghiệp Phù Chẩn, khu công nghiệp

Lỗ Xung mở rộng (Từ Sơn), cụm công nghiệp LN Đông Thọ (Yên Phong), khu

công nghiệp Lạc Vệ (Tiên Du), cụm công nghiệp LN Quảng Phú (Lương Tài).

92

Trong tổng số 26 khu công nghiệp, cụm công nghiệp LN tính đến thời

điểm tháng 6/2007 theo báo cáo của Sở Công nghiệp Bắc Ninh thì đã có 18

khu,cụm công nghiệp có các doanh nghiệp đi vào đầu tư SXKD. Cụ thể là đã

có 756 cơ sở SXKD thuê đất trong các khu, cụm công nghiệp LN với tổng

diện tích là 175 ha bao gồm 229 tổ chức kinh tế là các loại hình doanh nghiệp,

hợp tác xã và 527 hộ gia đình kinh doanh cá thể. Với tổng số vốn đầu tư đăng

ký là 2569 tỷ đồng, trong đó đã thực hiện 1827,6 tỷ đồng (xem biểu 2.5).

Biểu 2.5: Kết quả thuê đất và đầu tư các khu công nghiệp nhỏ và vừa,

cụm công nghiệp làng nghề tỉnh Bắc Ninh từ 1997-6/2007

Diện tích (ha)

Số cơ sở thuê đất

Tổng vốn đầu tư (Tỷ đồng)

TT Tên khu,

cụm công nghiệp Tổng

Cho thuê

Tổ chức

Hộ cá thể

Đ. ký

Đã đầu tư

LĐ sử dụng (người)

1 Cụm CN Châu Khê 13,5 6,68 5 154 175 150 3.360

2 Cụm CN Đồng Quang 12,7 8,04 71 167 150 200 2.271

3 Khu CN Lỗ Xung 9,7 6,68 15 150 90 651

4 Khu CN Mả Ông 5,05 3,87 24 1 100 70 1.341

5 Khu CN Tân Hồng - Đồng Quang 17,87 12,1 22 120 100 865

6 Cụm CN Phong Khê 12,7 8,3 20 43 240 220 3.250

7 Cụm CN Đại Bái 6,5 4,6 2 162 65 6,5 67

8 Khu CN Võ Cường 8 3,8 12 90 80 250

9 Cụm CN Phú Lâm 18,2 6,5 12 90 90 461

10 Khu CN Hạp Lĩnh 72,5 4 4 100 89,8 318

11 Khu CN Khắc Niệm 93,2 36,2 11 250 130 550

12 Khu CN Thanh Khương 11,4 2,62 4 15 10 70

13 Khu CN Xuân Lâm 49,5 23,2 7 85 60,8 410

14 Cụm CN Phố Mới 15,2 3,2 2 40 32 85

15 Khu CN Táo Đôi 12,9 3,5 1 25 25 175

16 Khu CN Lâm Bình 50 12 1 300 215 375

17 Khu CN Đồng Nguyên 73,9 18,3 10 327 167,5 520

18 Khu CN Lạc Vệ 28,8 11,2 6 247 91 318

Tổng cộng 75 229 527 2569 1828 15.337

Nguồn: Báo cáo của Sở Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh.

93

Ngoài các khu công nghiệp tập trung, các cụm công nghiệp LN, nhiều

cơ sở SXKD đã được tỉnh cho thuê đất mở rộng đầu tư SXKD tách rời ngoài

các khu, cụm công nghiệp và nằm rải rác khắp các địa bàn và chủ yếu là ở

xung quanh các LN, các khu đô thị. Tỉnh từ 1997 đến tháng 6/2007 đã có 150

tổ chức kinh tế thuê với diện tích 262,73 với vốn đăng ký 1.916,7 tỷ đồng và

đã thực hiện 871,4 tỷ đồng (xem biểu 2.6).

Biểu 2.6: Các tổ chức thuê rời để phát triển công nghiệp

(Từ năm 1997 đến hết 6/2007)

Theo dự án đầu tư Kết quả thực hiện

STT Tên huyện,

thị xã

Tổng

số tổ

chức

DT

thuê

(ha)

Vốn

(tỷ đồng)

Lao

động

Vốn

(tỷ đồng)

Lao

động

1 TX Bắc Ninh 16 24,56 279,26 3.150 236,51 1.950

2 Tiên Du 22 48,43 127,70 3.192 87,76 808

3 Yên Phong 18 36,14 132,52 1.348 76,37 818

4 Từ Sơn 38 37,53 566,38 4.055 237,83 1.492

5 Quế Võ 24 47,37 363,94 4.703 122,10 1.110

6 Thuận Thành 15 25,60 196,42 1.522 32,59 280

7 Gia Bình 10 22,55 147,95 1.350 47,06 450

8 Lương Tài 7 20,55 102,58 1.447 31,18 302

Tổng 150 262,73 1.916,75 20.767 871,39 7.210

Nguồn: Báo cáo của Sở Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh.

Như vậy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc

Ninh, cùng với việc hình thành các khu công nghiệp và các cụm công nghiệp

LN, hạ tầng KT-XH cũng được đầu tư phát triển.

- Về giao thông nông thôn: Từ khi tỉnh có chính sách hỗ trợ giao thông

nông thôn từ năm 2000 đến năm 2007 đã có 719 dự án giao thông nông thôn

được xây dựng với tổng mức đầu tư 561.591 triệu đồng trong đó ngân sách tỉnh

hỗ trợ là 92.546 triệu đồng và đã ứng hoá được 1127 km đường giao thông nông

thôn. Nếu chỉ tính riêng ở các LN tỉnh Bắc Ninh có 83 dự án chiều dài 110,5 km

94

với tổng mức đầu tư là 85.320 triệu đồng. Hầu hết các LN ở tỉnh Bắc Ninh cơ

bản đã ứng hoá được các đường giao thông liên thôn, các đường trục chính của

xã đảm bảo cho việc lưu thông hàng hoá đi lại của người dân ở các LN.

- Về chương trình xây dựng các trường học bắt đầu từ năm 2001 tính

hết năm 2007 có 502 dự án với tổng mức đầu tư 380.378 triệu đồng trong đó

ngân sách tỉnh hỗ trợ là 85.283 triệu đồng. Toàn tỉnh đạt tỷ lệ kiên cố trường

học là 82,6%, riêng các LN ở tỉnh 100% các trường học đã được kiên cố hoá.

- Về hỗ trợ xây dựng trụ sở xã nhà sinh hoạt thôn: Chính sách bắt đầu

từ năm 2004 tính đến hết năm 2007 trụ sở xã có 117 dự án, tổng đầu tư 107,3

tỷ đồng, ngân sách tỉnh hỗ trợ là 19,3 tỷ đồng, nhà sinh hoạt thôn có 143 dự

án tổng mức đầu tư 57,2 tỷ đồng, ngân sách tỉnh hỗ trợ 4,3 tỷ đồng.

- Về hạ tầng thông tin: Tỉnh đã hoàn thành đề án 112 của tỉnh nối mạng

Internet từ tỉnh xuống huyện và xã. Tất cả các xã đều có điểm văn hoá - bưu

điện được tỉnh hỗ trợ máy vi tính và phụ cấp cho nhân viên tạo điều kiện cho

người dân tiếp cận thông tin xúc tiến thương mại. Tỉnh cũng có cổng giao tiếp

điện tử cho các cơ quan, đơn vị, cơ sở SXKD trong tỉnh sử dụng để thông tin,

tuyên truyền, quảng bá thu hút đầu tư…

- Các hạ tầng khác cũng được tỉnh quan tâm chú ý đầu tư như: Hệ thống

điện lưới trung áp nông thôn và hạ áp nông thôn đã được bàn giao cho ngành

điện quản lý thống nhất để đảm bảo an toàn, nâng cấp để cung cấp thuận tiện về

điện năng. Hạ tầng chợ đầu mối ở nông thôn cũng được chú trọng đầu tư: Trong

2 năm 2006-2007 đã có 13 chợ đầu mối ở các huyện được đầu tư xây dựng với

tổng vốn trên 18 tỷ đồng được hỗ trợ kinh phí ngân sách tỉnh gần 4 tỷ đồng. Hệ

thống trạm y tế cũng được đầu tư từ dự án hỗ trợ y tế quốc gia và ngân sách địa

phương với vốn hỗ trợ trên 10 tỷ đồng và đến nay có 110 xã, phường, thị trấn đạt

chuẩn quốc gia về y tế trong đó có 100% số các LN.

CSHT của các LN được cải thiện đã góp phần không nhỏ vào quá trình

SXKD, vận chuyển hàng hoá, xúc tiến đầu tư hạ giá thành sản phẩm… góp

phần phát triển bền vững ở các LN.

95

2.3.1.2. Tạo điều kiện về vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh

Tỉnh đã có quyết định thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh

nghiệp vừa và nhỏ nhưng do mới thành lập nên chưa phát huy tác dụng. Tuy

nhiên bằng các chính sách tín dụng của nhà nước và sự chỉ đạo của tỉnh thông

qua các chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư đã thu hút trên địa bàn hiện nay

có tới 18 chi nhánh các tổ chức ngân hàng, tín dụng đang hoạt động vì vậy các

cơ sở, các tổ chức kinh tế trên địa bàn đã đáp ứng được 1 phần nhu cầu vốn của

mình để phát triển SXKD. Tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn liên tục tăng từ

338,9 tỷ đồng năm 1997 lên đến 9.206,5 tỷ đồng năm 2007. Nếu chỉ tính riêng

13 ngân hàng hoạt động tính đến thời điểm 31/12/2007 đã cung cấp tín dụng cho

1.121 doanh nghiệp với dư nợ vay là 2.064 tỷ đồng. (xem biểu 2.7)

Biểu 2.7. Dư nợ vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Bắc Ninh 2007

Tên ngân hàng Số DN được

vay vốn

Dư nợ vay

31/12/2007 (Trđ) TT

Tổng cộng 1.121 2.064.360

1 NH Công thương Bắc Ninh 125 168.888

2 NH Công thương KCN Từ Sơn 14 41.120

3 NH Đầu tư và Phát triển Bắc Ninh 142 485.581

4 NH Công Thương Từ Sơn 93 174.853

5 NH Đầu tư và Phát triển Từ Sơn 89 156.392

6 NH Ngoại thương Bắc Ninh 55 91.057

7 NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 293 561.615

8 NH Phát triển nhà ĐB sông Cửu Long 27 35.131

9 NH Chính sách xã hội 105 19.681

10 NH Thương mại cổ phần nhà 49 192.274

11 NH Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín 63 60.660

12 NH Thương mại cổ phần Á Châu 31 41.154

13 NH Thương mại cổ phần Kỹ thương 35 35.954

Nguồn: Báo cáo của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Bắc Ninh.

96

Dư nợ vay của các loại hình DN trong tỉnh năm 2007 như sau: DNNN

14 đơn vị, công ty cổ phần, công ty TNHH: 659 đơn vị, doanh nghiệp tư nhân

344 đơn vị, Hợp tác xã có 104 đơn vị với tổng dư nợ vay là 2.064.360 triệu

đồng, trong đó doanh nghiệp nhà nước 187.957 triệu đồng, công ty cổ phần và

công ty TNHH là 1.181.414 triệu đồng, doanh nghiệp tư nhân 492.074 triệu

đồng, Hợp tác xã là 202.915 triệu đồng, trừ các doanh nghiệp nhà nước thì

các cụm loại hình doanh nghiệp còn lại tập trung chủ yếu ở các LN, các cụm

công nghiệp LN. Vì vậy có thể ước tỷ lệ dư nợ vay vốn của các LN trên tổng

dư nợ tín dụng của toàn tỉnh là khoảng 15%.

Ngoài ra Quỹ hỗ trợ phát triển (nay là ngân hàng Phát triển) đã thực hiện

cho vay với lãi suất ưu đãi với các dự án đầu tư thuộc các danh mục ngành nghề

mà nhà nước quy định với một lực lượng dư vay đáng kể phục vụ nhu cầu vốn

đầu tư phát triển của tỉnh nói chung và các LN nói riêng. Ví dụ như năm 2004 có

số dự án được vay là 39 dự án với tổng dư vay là 285,5 tỷ đồng. Năm 2005 có 14

dự án, dư vay là 68,3 tỷ đồng. Năm 2006 có 19 dự án với tổng dư vay 249 tỷ

đồng, năm 2007 có 31 dự án với tổng dư vay 251 tỷ đồng, v.v…

2.3.1.3. Giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở địa phương

Trong những năm gần đây với nhiều chính sách quan tâm của Đảng và

Nhà nước, Trung ương và địa phương đối với công tác đào tạo nghề và giải

quyết việc làm cho người lao động đã thu được kết quả khá tốt, trong đó phải

kể đến sự phát triển của các LN ở tỉnh Bắc Ninh.

Trước tiên có thể sự chuyển dịch cơ cấu hộ nông dân từ hộ nông nghiệp

chuyển sang các ngành phi nông nghiệp mà trong đó chủ yếu là các ngành

nghề ở các LN phát triển lan toả. So sánh từ năm 2001 đến 2006 thì số hộ phi

nông nghiệp tăng lên 58.339 hộ tương đương khoảng 227.000 nhân khẩu và

khoảng 131.000 lao động trong độ tuổi. (xem biểu 2.8)

97

Biểu 2.8. Số lượng và cơ cấu hộ nông thôn tỉnh Bắc Ninh.

Số lượng (hộ) Cơ cấu (%) STT Chỉ tiêu

2001 2006 2001 2006

Toàn tỉnh 213.671 220.576 100 100

1 Hộ nông nghiệp 166.354 114.920 77,86 52,10

2 Hộ công nghiệp - xây dựng 19.394 52.613 9,08 23,85

3 Hộ dịch vụ và khác 27.923 53.043 13,07 24,05

Nguồn: Cục Thống kê: Điều tra nông nghiệp - nông thôn 2006.

Riêng các LN khả năng giải quyết việc làm cho các lao động ở nông

thôn là rất lớn. Trung bình hàng năm các LN giải quyết việc làm từ 4-5 vạn

lao động. Tính từ năm 2001 đến năm 2007 số lao động trong các LN đã tăng

từ 29.517 lao động lên 58.321 lao động. Trong đó phải kể đến đóng góp vào

số lao động tăng lên do các doanh nghiệp, hộ SXKD ở LN mở rộng SXKD

thuê đất ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp LN và thuê đất rời ngoài

các khu, cụm công nghiệp là 17.820 lao động .

Công tác đào tạo nghề có bước tăng đột biến trong 2 năm gần đây.

Theo số liệu của Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Bắc Ninh thì trong 2

năm 2006-2007, toàn tỉnh đã đào tạo 21.015 người trong đó công nhân kỹ

thuật là 4.250 người (chiếm 20,2%), giải quyết việc làm cho 39.575 lao động,

góp phần tăng tỷ lệ đào tạo từ 31,5% năm 2006 lên 34,5% năm 2007, hạ tỷ lệ

thất nghiệp khu vực thành thị xuống còn 3,8%, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian

lao động khu vực nông thôn lên 83%. Số cơ sở dạy nghề đã tăng từ 19 cơ sở

năm 2005 lên 32 cơ sở 2007.

98

2.3.1.4. Mở rộng phát triển làng nghề, tăng tổng sản phẩm xã hội,

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nộp ngân sách và tăng thu

nhập cho người lao động

Do tác động của các chính sách cùng với cải cách hành chính mạnh mẽ

mà số lượng doanh nghiệp và các hộ SXKD công thương nghiệp, dịch vụ tăng

lên nhanh chóng và các LN được mở rộng và phát triển lan toả sang các địa

bàn lân cận. Ví dụ như LN đồ gỗ Đồng Kỵ - Xã Đồng Quang - Huyện Từ Sơn

đã phát triển ra các thôn trong xã Đồng Quang và nhiều thôn thuộc các xã

Đồng Nguyên, Tương Giang, Phù Khê, Hương Mạc, Tam Sơn… đều đã có rất

nhiều hộ, cơ sở SXKD chế biến gỗ tương tự như ở Đồng Kỵ. Ở các LN hiện

nay đã xuất hiện nhiều DN, riêng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm

2007 tăng gấp 3,7 lần so với năm 2001 với tỷ lệ số doanh nghiệp tăng bình

quân hàng năm là 30,4% (xem biểu 2.9).

Biểu 2.9. Tổng hợp số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

tỉnh Bắc Ninh 2001-2007

STT Năm Số lượng Doanh Nghiệp

ngoài quốc doanh Tỷ lệ tăng (%)

1 2001 416

2 2002 604 45,2

3 2003 804 33,1

4 2004 1190 48,0

5 2005 1546 30,0

6 2006 1776 14,8

7 2007 1972 11,7

Nguồn: Báo cáo của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh.

Về các hộ SXKD năm 2001 là 10.357 hộ đã tăng lên 13.425 hộ năm

2007 (tăng 30%).

- Giá trị sản xuất tăng nhanh qua các năm, tốc độ tăng trưởng bình quân

giai đoạn 2001 - 2007 là 32,6%. (Xem biểu 2.10).

99

Biểu 2.10: Giá trị sản xuất của các làng nghề ở Bắc Ninh 2001-2007

Giá trị sản xuất (triệu đồng)

Huyện 2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Tốc độ tăng bình quân (%)

Huyện Từ Sơn 423.252 507.728 889.952 1.133.641 1.398.237 1.885.065 2.541.392 34,82

Huyện Lương Tài 32.000 45.000 53.400 63.460 95.240 125.094 164.306 31,35

Huyện Yên Phong 323.453 446.677 524.411 641.270 1.009.756 1.342.202 1.784.100 32,92

Huyện Gia Bình 46.997 66.122 78.991 95.441 138.458 181.397 237.652 31,01

Huyện Thuận Thành 6.987 8.112 10.007 11.870 13.200 15.476 18.143 17,24

Huyện Quế Võ 45.365 53.764 62.441 68.461 68.821 76.378 84.766 10,98

Huyện Tiên Du 45.556 47.719 50.031 52.554 59.955 64.216 68.780 7,11

Tổng số 923.610 1.175.122 1.669.233 2.066.697 2.783.667 3.689.828 4.899.140 32,06

Nguồn: Sở Công nghiệp Bắc Ninh.

Biểu hiện rõ nét của tốc độ tăng trưởng mạnh là ở hai huyện Từ Sơn và

Yên Phong. Giá trị sản xuất của các LN tại hai huyện này chiếm đa số và tăng ổn

định qua các năm: năm 2001chiếm tương ứng là 45,8% và 35%, năm 2007 tương

ứng là 51,8% và 36,4%. Nguyên nhân là do 2 huyện có tới 34/62 LN của cả tỉnh,

hơn nữa lại là những LN mà sản phẩm có giá trị cao và phát triển mạnh như làng

sắt thép Đa Hội, làng mỹ nghệ Đồng Kỵ hay làng giấy Phong Khê… Giá trị sản

xuất của các LN ở các huyện còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ, mức tăng trưởng chậm

và bất ổn, bởi các LN này thường là những nhóm làng chậm phát triển, sản xuất ra

những sản phẩm có giá trị không cao, chủ yếu là những sản phẩm phục vụ cho

nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như làng nấu rượu, làng làm bánh bún…

Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực LN, nhất là những LNTT trong

những năm qua đã góp phần không nhỏ vào tổng giá trị sản xuất và tốc độ

tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh. Năm 2001, tổng giá trị sản xuất của các LN

chiếm 11,2% tổng giá trị sản xuất của cả tỉnh và chiếm 78,2% giá trị sản xuất

100

ngoài quốc doanh. Sang năm 2005, tổng giá trị sản xuất của khu vực LN tăng

lên chiếm 75% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và hơn 30% giá

trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh.

- Đóng góp ngân sách của các LN trong tỉnh cũng tăng theo mức tăng của

giá trị sản xuất. Năm 2003, tổng số thuế thu được từ các LN đạt 18.934 triệu

đồng, chiếm 4,2% tổng thu ngân sách của tỉnh; năm 2004 là 42.991 triệu đồng,

chiếm 4,4%; năm 2005 tăng lên 49.248 triệu đồng, chiếm 4,6% [8]. Trong số các

LN có đóng góp vào ngân sách nhà nước cao thì Đa Hội, Phong Khê, Phú Lâm,

Đồng Kỵ và Văn Môn là những LN tiêu biểu. Đây là những LN phát triển, có

giá trị sản xuất hàng năm cao và có số doanh nghiệp nhiều. LN giấy Phong Khê,

năm 2003 nộp ngân sách Nhà nước 5.794 triệu đồng, năm 2004 nộp 6.913 triệu

đồng và năm 2005 là 9.338 triệu đồng. Làng sắt thép Đa Hội năm 2004 tổng số

thuế nộp ngân sách là 4.365 triệu đồng, năm 2005 là 5.892 triệu đồng.

Nếu tính tốc độ tăng thu ngân sách của khu vực ngoài quốc doanh thì

năm 2007 tăng so với năm 2001 gấp 10,85 lần (tăng thu từ 20,9 tỷ đồng lên

227,4 tỷ đồng), trong đó các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 17,5 lần

(tăng thu từ 11 tỷ đồng lên 205 tỷ đồng) và các hộ kinh doanh tăng 1,25 lần

(tăng thu từ 9,96 tỷ đồng lên 22,46 tỷ đồng).

Thu nhập của người lao động được cải thiện rõ rệt thể hiện qua tích luỹ

của hộ nông dân. Theo báo cáo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và

thuỷ sản của Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh thì năm 2005 các hộ nông dân đã đầu

tư vào SXKD, xây dựng nhà ở và mua sắm tài sản lâu bền 2608,5 tỷ đồng, gấp

2,3 lần so với năm 2001. Bình quân mỗi hộ đầu tư 12,2 triệu đồng, trong đó đầu

tư phát triển SXKD là 39,2%, đầu tư khác là 60,8%. Vốn tích luỹ bình quân 1

hộ: thương mại là 20,2 triệu đồng, hộ vận tải là 19,7 triệu đồng, hộ dịch vụ khác

là 16,2 triệu đồng, hộ công nghiệp 15,3 triệu đồng, hộ thuỷ sản là 6,9 triệu đồng,

hộ nông nghiệp là 6,2 triệu đồng, hộ xây dựng là 4,7 triệu đồng.

101

2.3.1.5. Góp phần tăng nhanh xuất khẩu

Đóng góp đáng kể vào việc hoàn thành các mục tiêu xuất khẩu của

tỉnh: theo niên giám Thống Kê tỉnh Bắc Ninh năm 2007 thì kim ngạch xuất

khẩu từ các đơn vị kinh tế địa phương (không kể đơn vị kinh tế TW và đơn vị

có vốn đầu tư nước ngoài đóng trên địa bàn), năm 2007 tăng so với năm 1997

là 267,6% từ 10,2 triệu USD lên 27,3 triệu USD trong đó riêng các mặt hàng

đồ gỗ, hàng hoá thủ công mỹ nghệ và khác mà chủ yếu của các LN tăng từ 3,2

triệu USD năm 1997 lên 14,1 triệu USD năm 2007 (tăng 4,4 lần). Nếu tính tỷ

trọng cơ cấu trong tổng kim ngạch xuất khẩu các đơn vị kinh tế địa phương

thì các mặt hàng này tăng tỷ trọng từ 31,4% năm 1997 lên 69,1% năm 2007.

2.3.2. Nh÷ng h¹n chÕ vµ nguyªn nh©n

2.3.2.1. Những hạn chế

*Thứ nhất, mặt bằng sản xuất chật hẹp, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Mặt bằng sản xuất trong các LN hiện đang là vấn đề khá bức xúc. Do tốc

độ phát triển các LN khá cao, nhu cầu mặt bằng lớn, khả năng đáp ứng là rất hạn

chế. Mặc dù tỉnh đã quy hoạch và xây dựng được 26 cụm công nghiệp với diện

tích 64 ha nhưng so với nhu cầu còn rất thấp, số doanh nghiệp được thuê ở các

khu, cụm công nghiệp LN này chỉ chiếm 25% so với tổng số doanh nghiệp tại

các LN. Bản thân trong các khu, cụm công nghiệp LN cũng chật trội do công tác

quy hoạch chưa chú ý tới diện tích nhà ở cho công nhân và dịch vụ.

Vấn đề môi trường ở các LN ở Bắc Ninh hiện nay rất cần quan tâm, có

thể xem đây là mặt trái hiện hữu ở các LN. Do hạn chế về quy hoạch tổng thể

nên hầu hết các cơ sở SXKD, các hộ gia đình đã không chú trọng đến đầu tư

xử lý chất thải, nên môi trường khu vực sản xuất của các LN ngày càng ô

nhiễm nặng, nhất là các ngành sản xuất giấy, gốm sứ, đúc đồng, trạm khắc

gỗ…Theo báo cáo kết quả thanh tra diện rộng về thực hiện Luật Bảo vệ môi

trường ở các cơ sở SXKD trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2003 của Sở Khoa

102

học - Công nghệ và môi trường, thì hầu hết các cơ sở SXKD trong LN được

thanh tra đã vi phạm Luật Bảo vệ môi trường. Cụ thể làng Giấy Dương Ổ mỗi

ngày thải ra môi trường 900-1.000m3 nước thải, mang theo một hàm lượng

chất hữu cơ, hoá chất ngâm, tẩy rất lớn gây ô nhiễm nặng nguồn nước, các chỉ

tiêu CO2NH3, độ PH, COD, BOD, Coipm đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ

10-20 lần. LN Mẫn Xá (Văn Môn - Yên Phong), đúc nhôm, chì kẽm, nồng độ

chì trong không khí đã có lúc vượt quá 80 lần giới hạn cho phép. LN sắt thép

Đa Hội mỗi ngày tiêu thụ hơn 200 tấn than, thải 50 tấn xỉ sắt và còn nhiều LN

khác, hầu hết chất thải độc hại từ sản xuất đều đổ thẳng ra môi trường, không

qua xử lý. Tuy khối lượng khí thải, nước thải do các LN thải ra không lớn,

song do quy mô nhỏ, phân bố rải rác, nên diện gây ô nhiễm lan rộng, ảnh

hưởng đến nguồn nước ngầm và gây hại cho sản xuất nông nghiệp. Với nghề

đúc đồng, chế biến lâm sản ở khâu xẻ gỗ, đốt lò... sản xuất tập trung sẽ làm

không khí bụi bặm, gây tiếng ồn, các loại mùn cưa gỗ lim, gỗ trắc, cũng ảnh

hưởng xấu đến môi trường. Đây là mặt trái của sản xuất, nó vừa là hậu quả,

vừa là nguyên nhân gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển LN, cần

được nghiên cứu giải quyết.

*Thứ hai, vốn sản xuất kinh doanh thiếu

Các LN ngày càng phát triển đòi hỏi cần có một lượng vốn khá lớn để

đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, mở rộng sản xuất… nhưng nguồn lực

sẵn có của các hộ không đủ mạnh để thực hiện với quy mô lớn. Hệ thống các

ngân hàng, các tổ chức tín dụng đã phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được

nhu cầu về vốn. Theo báo cáo của chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh Bắc

Ninh, tính đến 30/6/2007 hệ thống các ngân hàng trên địa bàn tỉnh mới cung

cấp tín dụng được cho 48% số doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn, nếu theo

nhu cầu vay vốn mới cung cấp được từ 40-50% nhu cầu vay vốn. Qua nghiên

cứu cụ thể số liệu ở LN sản xuất thép Đa Hội (Xã Châu Khê - Huyện Từ Sơn)

103

với 85,5% lao động chuyên sản xuất ngành nghề, tại thời điểm 31/12/2005 thì

số vốn thực có của các hộ đưa vào đầu tư máy móc, thiết bị, nhà xưởng… đã

lên tới 350 tỷ đồng, doanh thu bán hàng đạt 195 tỷ đồng, trong khi đó nguồn

vốn vay tín dụng mới có dư nợ là 85 tỷ đồng, chiếm 24% tổng vốn sản xuất

nhưng địa phương cũng chưa có tổ chức hay biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ các

doanh nghiệp ở các LN tiếp cận được nguồn vốn và bảo lãnh cho các doanh

nghiệp vay vốn.

*Thứ ba, trình độ công nghệ kỹ thuật nhìn chung là thấp và không đồng

đều, đổi mới công nghệ, thương hiệu và mẫu mã sản phẩm còn nhiều hạn chế

Đa số các hộ SXKD trong các LN vẫn sử dụng phần lớn các loại máy

móc, thiết bị, công cụ thủ công thô sơ, lạc hậu và công nghệ cũ truyền thống.

Vì vậy năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm không cao, sức cạnh

tranh trên thị trường thấp. Những năm gần đây một cơ sở SXKD lớn cũng đã

chú ý đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ LN. Vấn đề thương hiệu, mẫu mã

sản phẩm cũng tồn tại nhiều hạn chế: một số sản phẩm của các LN đã bị mai

một, cũng có một số sản phẩm đã mất hẳn trên thị trường do không còn phù

hợp với nhu cầu, quá trình cải tiến diễn ra chậm chạp và mang tính tự phát ở

một số cơ sở. Hầu hết các sản phẩm đều không có thương hiệu rõ ràng, có rất

ít cơ sở SXKD đăng ký bảo hộ thương hiệu, các doanh nghiệp chưa có bộ

phận chuyên trách về Marketing và thương hiệu, các hộ kinh doanh, doanh

nghiệp còn thiếu nhận thức về thương hiệu cũng như bị động trong việc tìm

hiểu nhu cầu khách hàng và thị hiếu của họ v.v…

Về phía địa phương chưa có biện pháp tích cực, cụ thể; chưa tạo được sự

gắn kết hoạt động SXKD của các LN với các DN, tổ chức lớn ở địa phương

trong hỗ trợ và chuyển giao công nghệ, đặc biệt là địa phương cũng chưa tích

cực trong đào tạo, hướng dẫn, hỗ trợ giúp các LN trong xúc tiến thương mại, xây

dựng thương hiệu hàng hoá… nhằm cạnh tranh và hội nhập thị trường thế giới.

104

*Thứ tư, năng lực, kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh, chuyên môn

kỹ thuật tay nghề người lao động còn thấp và không đồng đều

Theo điều tra của Sở Kế hoạch Đầu tư Bắc Ninh năm 2005 thì trình độ

của chủ doanh nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh: trên đại học 0,68 %; đại học và cao

đẳng 25,38 %; trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật 16,43 %; trình

độ thấp hơn trung học còn lại 57,49%.

Về người lao động: Mặc dù số lượng lao động trong các LN ở tỉnh Bắc

Ninh ngày một gia tăng nhưng chất lượng lao động về cơ bản chưa được cải

thiện nhiều và còn không đồng đều. Người lao động ở các LN chủ yếu vẫn

được đào tạo qua kèm cặp theo hình thức truyền nghề trong quá trình SXKD,

các lớp đào tạo cơ bản là rất ít và chỉ được một số nghề đơn điệu (như thảm

ngô, ghép lứa, thêu tranh…). Thực tế cho thấy ở các cơ sở rất khó khăn mỗi

khi phải đổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị, thay đổi mẫu mã, nâng cao

chất lượng sản phẩm vì chất lượng lao động chưa đáp ứng được. Hơn nữa ở

ngay trong mỗi hộ gia đình, cơ sở SXKD, tay nghề thợ không đồng đều. Vì

vậy khi sản xuất lớn, sản xuất hàng loạt với số lượng lớn thì chất lượng sản

phẩm không đảm bảo theo yêu cầu của khách hàng…

*Thứ năm, thị trường nguyên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra

còn hạn chế, bấp bênh, không ổn định

Ở các LN, mặc dù nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu là sẵn có trong khu vực,

song nhu cầu phát triển nguyên vật liệu đã phải khai thác từ thị trường ở các vùng

xa hơn và thị trường quốc tế rất bấp bênh, không ổn định vì chưa có sự quản lý, quy

hoạch vùng nguyên vật liệu, nguồn cung cấp là sự khai thác tự phát, thu gom…

Thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng thăng trầm phụ thuộc vào nhu cầu của

thị trường tiêu thụ trong tỉnh và một số vùng lân cận và phải cạnh tranh gay gắt

với các hàng hoá tương tự ở các địa phương khác. Hướng mở rộng thị trường

cho là tối ưu nhất là xuất khẩu thì gặp không ít trở ngại. Hầu hết các doanh

105

nghiệp đều rất khó khăn khi tiếp cận với thị trường quốc tế, sự trợ giúp của Nhà

nước còn nhiều hạn chế, mặt khác những trở ngại về trình độ hiểu biết thương

mại quốc tế, cạnh tranh của sản phẩm, thương hiệu, mẫu mã v.v… và đôi khi là

những vấn đề phi kinh tế làm ảnh hưởng việc xuất khẩu sản phẩm của các LN.

*Thứ sáu, cơ sở hạ tầng các làng nghề chưa đáp ứng nhu cầu giao thưởng

và phát triển sản xuất kinh doanh của các làng nghề

CSHT trong những năm qua đã được cải thiện rõ rệt song so với nhu

cầu phát triển của các LN thì chưa đáp ứng được. Hệ thống giao thông nông

thôn ở LN tuy đã được ứng hoá song còn chật hẹp mà không có khả năng để

giải toả, mở rộng được vì chi phí quá lớn nên tình trạng ùn tắc giao thông ở

LN là khá phổ biến, đặc biệt là ở các trục đường chính huyết mạch của thôn,

xã, gây cản trở cho việc giao thương nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm

cũng như đi lại của người dân. CSHT điện nước cũng chưa được đồng bộ

khắp và một số LN tình trạng thiếu điện sản xuất diễn ra phổ biến như các LN

sản xuất sắt thép có nhu cầu điện năng rất lớn… Hệ thống cấp thoát nước, xử

lý rác thải hầu như, chưa được chú trọng đầu tư đã ảnh hưởng không nhỏ tới

quá trình SXKD ở các LN hiện nay.

*Thứ bảy, những vấn đề về sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường,

hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều bất cập với các làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh

Thời gian qua, hoạt động SXKD ở các LN chủ yếu mới phát triển về bề

rộng, dựa vào thị trường trong nước là chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm

hàng hoá của LN ở Bắc Ninh chỉ chiếm khoảng 20% giá trị hàng hoá của LN.

Thực tế cho thấy, do công nghệ lạc hậu, giá thành cao, mẫu mã chưa phù hợp

nên sản phẩm của các LN chưa có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.

Đặc biệt là những hạn chế về nhận thức của người dân, DN trong các LN

trong việc tuân thủ pháp luật trong SXKD của kinh tế thị trường, những hiểu

biết về hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hoá thương mại …

106

2.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế

Những hạn chế ở LN như đã nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau,

trong đó có nguyên nhân hạn chế từ các chính sách phát triển LN. Đây là vấn

đề cần phải được làm rõ để thấy được bất cập của chính sách chưa phù hợp

với tình hình thực tế hoặc sự thiếu minh bạch, công bằng hoặc chưa đủ mạnh

để khuyến khích, hỗ trợ hay kiềm chế, khắc phục hoặc còn cản trở sự phát

triển hay thiếu đồng bộ v.v…Những hạn chế đó có nguyên nhân từ chính sách

của Nhà nước và việc thực thi chính sách của địa phương. Cụ thể:

* Về chính sách đất đai:

Hầu hết các cơ sở SXKD đều có khó khăn khi tiếp cận đất đai để mở

rộng SXKD.

- Rào cản đầu tiên của chính sách này là thủ tục hành chính liên quan

đến đất còn phức tạp và mất nhiều thời gian công sức và tiền bạc. Thông

thường để được Nhà nước giao đất, cơ sở SXKD phải trải qua 7 chặng đường

gian nan đó là: (1) Tìm hiểu chính quyền cơ sở về việc xin giao đất hoặc cho

thuê đất; (2) Xin chấp thuận về nguyên tắc; (3) Lập dự án và lên phương án

đền bù; (4) Thẩm định, phê duyệt dự án và phương án đền bù; (5) Giải phóng

mặt bằng; (6) Bàn giao mặt bằng và ký hợp đồng thuê đất; (7) Cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất. Mỗi chặng đường này lại có rất nhiều các thủ tục và

liên quan tới khó khăn của các cơ quan Nhà nước khác nhau như các cơ quan

Kế hoạch, Tài chính, Địa chính, Xây dựng, …

- Một khó khăn nữa cho cơ sở SXKD về chính sách đất đai là quyền và

bảo hộ quyền đối với đất còn yếu: Do công tác quy hoạch sử dụng đất thay

đổi liên tục (Tỉnh Bắc Ninh từ năm 2003 đến 2007 đã 2 lần thay đổi quy

hoạch tổng thể, một số quy hoạch chi tiết cũng thay đổi từ 1 đến 3 lần) vì vậy

các cơ sở SXKD ở các LN và các khu vực ngoài các khu công nghiệp tập

trung đều rất lo ngại họ có thể mất quyền sử dụng đất do quy hoạch thay đổi

và đất của họ thuộc diện Nhà nước thu hồi. Nếu thuê đất vào các khu công

107

nghiệp (nơi có quy hoạch khá chắc chắn) thì giá cả cao sẽ làm tăng chi phí

nên nhiều cơ sở LN thuê lại của tư nhân hoặc các hình thức không hợp pháp

khác. Và như thế không khuyến khích họ yên tâm bỏ vốn hiện đại hoá SXKD

vì sự bảo hộ của pháp luật còn chưa đầy đủ, rõ ràng.

- Hạn chế trong việc bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài

nước, các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh… Ở

nước ta đất đai là tài sản quan trọng để góp vốn liên doanh, liên kết hoặc thế

chấp để vay vốn. Hiện nay, nhà đầu tư trong nước còn gặp bất lợi khi thuê đất

từ Nhà nước. Nhà đầu tư trong nước ít khi được thuê đất trả tiền trước một lần

và nếu được thì cũng có thể không có khả năng trả một lần. Trong khi đó nếu

họ thuê đất trả tiền hàng năm thì họ không có quyền gì đối với đất ngoại trừ

mục đích đã được xác định cho thời gian thuê, nhất là không có quyền bán,

hay dùng đất để thế chấp (trừ tài sản trên đất). Điều này tạo nên một sự thiếu

rõ ràng đối với quyền của chủ đất, hạn chế khả năng dùng đất đi thuê để được

thế chấp vay vốn. Việc thuê đất cũng diễn ra dễ dàng hơn đối với các doanh

nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp lớn có các dự án lớn, còn các doanh

nghiệp ngoài quốc doanh nhỏ lẻ, các hộ SXKD thì việc thuê đất là rất khó

khăn. Thông tin về thị trường đất đai thiếu và chưa minh bạch v.v…

- Việc đền bù, hỗ trợ khi thu hồi đất cũng còn nhiều hạn chế và không

công bằng như việc quy định thoả thuận thu hồi với dân nếu đầu tư vốn gây

nhiều trở ngại cho doanh nghiệp, quy định hỗ trợ đối với đất nông nghiệp xen

kẽ trong khu dân cư không rõ ràng, quy định giá đất giáp ranh là không thực

tiễn với tình hình thực tế, hỗ trợ giải quyết việc làm khi thu hồi đất chưa hiệu

quả v.v… cũng là những khó khăn khi các doanh nghiệp muốn có đất để mở

rộng SXKD phải thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng.

+ Việc quy hoạch đất đai LN còn nhiều hạn chế, liên tục thay đổi, chắp

vá, chưa có tầm nhìn dài hạn. Ngay cả quy hoạch các khu, cụm công nghiệp

108

LN cũng bộc lộ nhiều hạn chế về tính đồng bộ của hạ tầng, về kết hợp với hạ

tầng bảo vệ môi trường sinh thái, hạ tầng sản xuất và hạ tầng dịch vụ và các

hạ tầng xã hội khác như các cụm CN giấy Phong Khê, sắt Đa Hội …

* Về chính sách đầu tư:

Khuyến khích ưu đãi các nhà đầu tư mở rộng SXKD không chỉ quan

trọng đối với phạm vi quốc gia mà ngay cả các LN cũng có ý nghĩa rất lớn

nhằm phát huy hết những tiềm năng to lớn của các LN. Tuy nhiên chính sách

khuyến khích ưu đãi đầu tư hiện nay còn một số hạn chế như:

- Nhiều thủ tục hành chính vẫn còn nặng nề như việc quy định thêm thủ

tục đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước. Việc đăng ký đầu tư để

được cấp giấy chứng nhận đầu tư là biến tướng của việc cấp phép đầu tư, tạo

cơ chế “xin - cho”. Việc thẩm tra và đăng ký đầu tư chỉ thực sự cần thiết đối

với dự án có quy mô đầu tư lớn có thể gây ra tác động KT-XH mạnh đến cả

một vùng hoặc những lĩnh vực đầu tư có điều kiện.

- Việc ưu đãi đầu tư vẫn được ấn định chủ yếu dựa trên kế hoạch của

nhà đầu tư và thường được quyết định trước khi dự án đầu tư thực tế triển

khai, tức là vẫn duy trì cơ chế tiền kiểm mà theo thông lệ và hiệu quả là phải

ưu đãi đầu tư trên cơ sở kết quả hoạt động (hậu ưu đãi). Hạn chế này làm gia

tăng chi phí của cả nhà đầu tư và các cơ quan quản lý trong lĩnh vực quản lý

đầu tư. Thực tế ở Bắc Ninh, trong các LN cũng có một số cơ sở SXKD, doanh

nghiệp đầu tư lớn mở rộng SXKD rất hiệu quả nhưng lại không được hưởng

ưu đãi đầu tư do thời điểm đầu tư không phù hợp với quy định khuyến khích

đầu tư ở thời điểm đó vì thế đã không khuyến khích được các mô hình này

nhân rộng phát triển nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm LN.

- Chưa thiết lập được hệ thống tiêu chí xác định dự án đầu tư được

hưởng ưu đãi đầu tư theo lĩnh vực, địa bàn ưu đãi và đầu tư có điều kiện.

Thực tế những năm qua cho thấy việc xác định các dự án trên gặp rất nhiều

109

khó khăn, thậm chí có sự khác biệt giữa các địa phương. Vì chưa có chuẩn

mực, tiêu chí cụ thể để thống nhất giữa nhà đầu tư, cơ quan lập pháp, cơ quan

quản lý và tư pháp để xác định dự án thuộc các lĩnh vực và địa bàn này. Do

đó đã xảy ra một số tình trạng ở từng các địa phương khác nhau có những

chính sách thu hút, ưu đãi khác nhau làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia.

Ngay tại địa phương Bắc Ninh chính sách ưu đãi đầu tư riêng của tỉnh cũng

không có danh mục địa bàn LN hay một số lĩnh vực là nghề thế mạnh ở địa

phương cần được khuyến khích ưu đãi trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

- Chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng CSHT các LN còn chắp vá không

đồng bộ, các mức hỗ trợ khác nhau, không đồng nhất tiêu thức hỗ trợ gây

nhiều kẽ hở trong sử dụng không hiệu quả vốn đầu tư cho CSHT…

* Về chính sách thương mại, thị trường:

Cũng có một số hạn chế do không theo kịp sự phát triển của kinh tế đất

nước, đặc biệt là tiến trình hội nhập.

- Thể chế quản lý về lưu thông hàng hoá và thị trường nội địa chưa

hoàn chỉnh, công tác dự báo cung cầu và giá cả chưa đáp ứng tốt yêu cầu. Các

giải pháp ổn định thị trường, giá cả ở tầm vĩ mô chưa đầy đủ và thiếu kiên

quyết trong chỉ đạo, triển khai thực hiện.

- Thiếu những quy định cụ thể về cơ chế, chính sách phát triển các mô

hình tổ chức thị trường và các kênh lưu thông. Cơ chế chính sách khuyến

khích phát triển kết cấu hạ tầng thương mại chưa đủ tầm, chưa thu hút được

nhiều vốn đầu tư của các doanh nghiệp. Chính sách, chế độ về chống buôn lậu

và gian lận thương mại còn nhiều kẽ hở, thực thi chưa nghiêm, sản phẩm của

các LN bị làm giả ở nhiều nơi v.v…

- Các chính sách về xuất nhập khẩu đã được hoàn thiện song vẫn còn

bất cập: danh mục các hàng cấm nhập khẩu chưa thật sự rõ ràng, chưa xây

dựng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật chất lượng và chế độ kiểm tra đối với

110

hàng nhập khẩu để bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng

và phù hợp với WTO.

- Các chính sách về xúc tiến thương mại còn hạn chế đầu tư dàn trải,

chưa tập trung, thiếu chính sách khuyến khích thoả đáng về đầu tư chiều sâu,

ứng dụng công nghệ, thiết bị hiện đại vào các ngành sản xuất hàng xuất khẩu.

Chưa có chiến lược tổng thể quốc gia hay địa phương về hội nhập kinh tế

quốc tế.

Thực tế là ở các LN tỉnh Bắc Ninh thị trường cả đầu vào và đầu ra chủ

yếu chỉ thông qua hợp đồng nhỏ lẻ hoặc qua môi giới trung gian, chưa có các

tổ chức Nhà nước đứng ra giới thiệu hay đảm bảo cho quá trình lưu thông

hàng hoá của các LN.

* Về chính sách thuế, phí, lệ phí:

Sau 17 năm cải cách thuế từ năm 1990 chính sách thuế đã đạt được kết

quả, từng bước xoá bỏ chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh

tế, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng… Tuy nhiên một số hạn chế vẫn

còn tồn tại là:

- Hệ thống chính sách thuế còn nhiều mức thuế suất nên chưa thúc đẩy

mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong

SXKD. Hiện nay thuế giá trị gia tăng đang thực hiện 3 mức thuế suất chính là

0%, 5%, 10% ngoài ra có một số đối tượng không áp dụng thuế giá trị gia

tăng. Nhưng thực tế những tiêu chí để phân biệt các mức thuế suất chưa thực

sự rõ ràng, minh bạch nên trong thực hiện còn nhiều khó khăn cho cả đối

tượng nộp thuế và cơ quan quản lý Nhà nước.

- Một số chính sách thuế như thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt còn

nặng nề về bảo hộ sản xuất trong nước nên các hộ gia đình, cơ sở SXKD chưa

chủ động và tích cực trong việc sắp xếp lại SXKD, đổi mới công nghệ, nâng

cao năng lực quản lý để tăng sức cạnh tranh.

111

- Hệ thống thuế vẫn còn một số phân biệt về thuế suất, điều kiện ưu đãi,

mức thời gian miễn giảm thuế giữa các doanh nghiệp trong nước và nước

ngoài, giữa người Việt Nam và người nước ngoài. Hệ thống thuế còn lồng

ghép nhiều chính sách xã hội về gây tiêu cực, phức tạp cho công tác thu thuế

không khuyến khích các cơ sở SXKD cạnh tranh bình đẳng.

- Nội dung các sắc thuế còn phức tạp, cơ chế quản lý thuế chưa được quy

định rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật. Thủ tục hành chính còn

rườm rà, chưa quy định rõ trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương,các

cơ quan chức năng, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác thuế…

Chưa có cơ chế động viên, nuôi dưỡng nguồn thu, tạo điều kiện cho các

hộ gia đình, cơ sở SXKD tăng tích luỹ để tái đầu tư mở rộng SXKD…

- Chính sách thu phí, lệ phí chưa bao quát hết đối tượng, còn nhiều loại

rườm rà, chưa phát huy tác dụng, đặc biệt là các khoản phí, lệ phí liên quan

đến bảo vệ môi trường ở các LN.

* Về chính sách tín dụng:

Dù đã có những bước chuyển biến tích cực nhưng vấn đề vay vốn của

các doanh nghiệp nói chung và các hộ gia đình, cơ sở SXKD và các LN nói

riêng vẫn là vấn đề khó khăn nhất. Các cơ sở SXKD đa số đều phàn nàn có

quá nhiều điều kiện để vay vốn. Kể cả khi đã có đủ điều kiện đó rồi chưa chắc

doanh nghiệp đã nhận được vốn ngay, còn phải thông qua các thủ tục hành

chính, tổn thất về thời gian đi lại. Ngoài ra để tiếp cận với nguồn vốn ngắn

hạn, trung hạn, dài hạn từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, các khoản

vay có bảo lãnh các cơ sở SXKD cũng gặp không ít khó khăn và nguồn vốn

không được kịp thời. Vướng mắc này chính là cơ chế đòi hỏi bắt buộc phải có

tài sản thế chấp nếu như muốn vay vốn. Trong khi đó hầu hết các hộ gia đình,

cơ sở SXKD trong các LN có nguồn vốn chủ sở hữu thấp, ít tài sản thế chấp,

cầm cố, lại không có người bảo lãnh, khả năng trình độ lập dự án, phương án

112

SXKD còn hạn chế… cùng với sự cầu toàn, quá chặt chẽ về thủ tục, về xác

định tài sản thế chấp để được vay vốn.

Chính sách tín dụng hiện nay cũng chưa có đủ các quy định pháp lý

đảm bảo cho các hộ gia đình, cơ sở SXKD có thể tiếp cận thường xuyên với

tất cả các loại nguồn vốn, đặc biệt là khả năng vay vốn từ các tổ chức tài

chính bên ngoài một cách ổn định và rộng rãi hơn.

Chính sách tín dụng đã có một số ưư đãi ngành nghề, đối tượng vay,

tuy nhiên cũng chưa đề cập đến khu vực LN và đặc biệt là hạn mức cho vay

ưu đãi còn quá thấp không đáp ứng được nhu cầu vốn về mở rộng sản xuất,

đầu tư chiều sâu nâng cao sức cạnh tranh trong tình hình mới.

Lãi suất tín dụng vẫn còn quá cao, quy định về thời hạn vay vốn cũng

chưa hợp lý. Năng lực và hệ thống quản lý của ngân hàng còn hạn chế nên

thiếu các hình thức tiếp cận trực tiếp đến tận cơ sở để thẩm định và tư vấn

giúp cho các cơ sở SXKD có được phương án khả thi và sử dụng nguồn vốn

vay có hiệu quả.

* Về chính sách khoa học công nghệ.

Chính sách khoa học công nghệ ở Bắc Ninh đã bước đầu được quan

tâm nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế. Các cơ sở SXKD tại các LN phần lớn

thiếu thông tin về công nghệ, không được cung cấp đầy đủ các dịch vụ về thí

nghiệm, đo lường, chất lượng; việc chuyển giao công nghệ vẫn phải qua nhiều

khâu thẩm định, phê duyệt. Tiêu chí về công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch

chưa được quan tâm và trở thành một tiêu chuẩn trong các chính sách ưu đãi

đầu tư.

- Cơ hội tiếp cận thông tin khoa học công nghệ và thông tin thị trường

của các hộ gia đình, doanh nghiệp ở các LN còn ít.

- Chưa xác định rõ cơ chế chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và

công nghệ cho các LN.

113

- Chưa xây dựng được hệ thống thông tin hướng dẫn và điều kiện tiếp

cận công nghệ, kỹ thuật hiện đại.

- Thiếu những cơ chế và giải pháp đồng bộ trong việc tiếp thu công nghệ

ngoại nhập, thiếu thông tin tư vấn, trình độ và tổ chức đánh giá thẩm định. Việc

quản lý công nghệ nhập còn chưa chặt chẽ gây tổn thất lớn về kinh tế.

- Cơ chế chính sách chuyển giao công nghệ không đồng bộ, thiếu sự hỗ

trợ trong chính sách tài chính tín dụng do đó các cơ sở SXKD không đủ sức

đổi mới công nghệ hoặc tiếp thu công nghệ mới kém hiệu quả.

- Chưa có chính sách thu hút, xây dựng đội ngũ chuyên gia, công nhân

lành nghề, thợ bậc cao những nhà hoạch định chính sách và tổ chức ứng dụng

công nghệ mới.

- Thị trường khoa học công nghệ chưa được xây dựng và phát triển,

chưa tạo được áp lực đủ lớn để đẩy nhanh đổi mới và hiện đại hoá thiết bị,

công nghệ.

* Về chính sách lao động và đào tạo nguồn nhân lực ở Bắc Ninh

Chính sách này vẫn còn đưa ra những ưu đãi chung chung và khó

thực hiện. Một mặt các cơ sở dạy nghề ở Bắc Ninh vừa thiếu vừa yếu nên

rất khó đáp ứng được nhu cầu đào tạo thực sự của cơ sở SXKD. Bên cạnh

đó, tình trạng thu hút công nhân của nhau giữa các doanh nghiệp làm cho

doanh nghiệp không muốn bỏ chi phí ra tự đào tạo lao động tại các cơ sở

SXKD của mình nhưng vẫn chưa có cơ chế chính sách giải quyết tình trạng

này. Do vậy, lao động phổ thông có chất lượng kém vẫn được các hộ gia

đình, cơ sở SXKD ở các LN tuyển dụng và tăng đều qua hàng năm, còn

hiệu quả sử dụng thì rất thấp.

- Chưa có chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho các LN rõ ràng, nhất quán.

- Chính sách đào tạo mới chỉ trú trọng khuyến khích, chưa rõ mặt hỗ trợ

của Nhà nước, không thúc đẩy được doanh nghiệp đầu tư vào công tác đào tạo.

114

- Chưa rõ trách nhiệm của hệ thống đào tạo công lập của các cấp, các

ngành, các địa phương.

- Mới chỉ chú trọng đào tạo nghề, chưa chú trọng đào tạo năng lực quản

lý và các kiến thức hội nhập, cạnh tranh… cơ cấu đào tạo chưa phù hợp với

nhu cầu ngành nghề thực tế tại địa phương.

- Chất lượng dạy nghề yếu, người tuy có bằng cấp, chứng chỉ nhưng

không được thị trường lao động chấp nhận, sử dụng nhưng chưa có giải pháp

hữu hiệu.

- Trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, đội ngũ giáo viên.. thiếu thốn và lạc

hậu, không đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực.

* Về chính sách bảo vệ môi trường

Chính sách của Nhà nước chưa thực sự có tác động tích cực tới giải

quyết vấn đề ô nhiễm môi trường ở các LN. Chính sách quy định không cụ

thể, ở tầm vĩ mô chưa có văn bản nào quy định chuyên biệt hoặc một số điều

khoản quy định cụ thể chi tiết về bảo vệ môi trường trong các LN. Mặc dù

tỉnh Bắc Ninh đã ban hành quy chế bảo vệ môi trường trong đó có đề cập đến

môi trường LN song còn chung chung, chưa cụ thể hoá, tính hiệu lực không

cao, các quy định vẫn chỉ mang tính giải pháp tình thế, chưa đảm bảo hiệu

quả lâu dài và thống nhất riêng cho các khu vực LN.

- Việc xử lý ô nhiễm môi trường đòi hỏi chi phí cao mà khả năng của

các cơ sở SXKD là có hạn, trong khi Nhà nước hỗ trợ còn hạn chế, chính sách

ưu đãi chưa đủ mạnh để thu hút đầu tư, xã hội hoá trong lĩnh vực này.

- Tính hiệu lực thực thi của các văn bản về bảo vệ môi trường còn thấp,

các biện pháp xử phạt hành chính về vi phạm pháp luật môi trường kém, công

tác phổ biến, giáo dục môi trường chưa tốt v.v…

- Việc thu phí đối với các chất thải khác như chất thải khí, chất thải rắn

chưa được triển khai. Tại các LN mới chỉ áp dụng phí nước thải công nghiệp và

115

phí thu dọn vệ sinh, chưa đủ tầm ngăn ngừa và răn đe việc gây ô nhiễm môi

trường của người dân. Các công cụ kinh tế khác như thuế môi trường, quỹ môi

trường… chưa được áp dụng triển khai. Bộ máy tổ chức quản lý và bảo vệ môi

trường chưa đồng bộ và đủ mạnh, thiếu sự tham gia nhiệt tình của cộng đồng

dân cư… Những hạn chế của chính sách bảo vệ môi trường này đã và đang có

nguy cơ làm trầm trọng thêm vấn đề ô nhiễm môi trường ở các LN, ảnh hưởng

lớn tới chiến lược phát triển bền vững của địa phương và cả nước.

Nguyên nhân sự hạn chế của các chính sách cơ bản nêu trên chủ yếu là

do thực hiện chưa tốt quá trình chính sách từ khâu hoạch định, thể chế hoá

chính sách, chỉ đạo thực hiện chính sách, điều chỉnh chính sách nên chính

sách chưa theo kịp tình hình thực tế, còn chồng chéo, chắp vá không đồng bộ,

thiếu cụ thể v.v ... những hạn chế này là do:

+ Do trình độ cán bộ còn có hạn chế nên đã có những chính sách không

phù hợp với thực tiễn, chậm đổi mới, còn chồng chéo, cháp vá, không đồng

bộ, nhiều chính sách còn chung chung thiếu cụ thể, thiếu minh bạch, chưa

công bằng hoặc chưa đủ mạnh để khuyến khích hỗ trợ hoặc kìm chế , khó vận

dụng và chỉ đạo thực thi.

+ Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trung ương và địa phương

chưa được chặt chẽ, đồng bộ. Do đó, trong việc tham mưu, hoạch định, bổ

sung và hoàn thiện các chính sách chưa huy động được đông đảo lực lượng tri

thức, cán bộ quản lý cũng như đông đảo nhân dân tham gia hoạch định và xây

dựng chính sách.

+ Việc thực thi chính sách có khi còn vướng mắc do thủ tục hành chính

còn nặng nề. Tổ chức thực hiện chưa nghiêm, kiểm tra, giám sát, phân tích

đánh giá tác động của chính sách chưa được coi trọng, chưa được thường

xuyên và chuyên nghiệp. Hệ thống thông tin, báo cáo từ dưới lên còn nhiều

bất cập… Công tác phổ biến, giải thích chính sách còn hạn chế ảnh hưởng

đến việc tiếp cận chính sách của các LN.

116

+ Ý thức chấp hành các chính sách của các hộ gia đình, các cơ sở

SXKD trong LN còn có nhiều hạn chế đặc biệt như ý thức chấp hành chính

sách về thuế, môi trường….Những nguyên nhân này đã ảnh hưởng lớn đến

chất lượng của chính sách, làm cho chính sách vừa qua còn nhiều hạn chế.

2.4. Bµi häc kinh nghiÖm vÒ chÝnh s¸ch 2.4. Bµi häc kinh nghiÖm vÒ chÝnh s¸ch 2.4. Bµi häc kinh nghiÖm vÒ chÝnh s¸ch 2.4. Bµi häc kinh nghiÖm vÒ chÝnh s¸ch ph¸t triÓn ph¸t triÓn ph¸t triÓn ph¸t triÓn

lµng nghÒ ë b¾c ninhlµng nghÒ ë b¾c ninhlµng nghÒ ë b¾c ninhlµng nghÒ ë b¾c ninh

2.4.1. NhËn thøc vµ x¸c ®Þnh râ vÞ trÝ, vai trß cña lµng nghÒ

®èi víi sù ph¸t triÓn kinh tÕ - x· héi ë ®Þa ph−¬ng

LN ở tỉnh Bắc Ninh đã có lịch sử tồn tại và phát triển lâu đời, phân bố rộng

khắp trên địa bàn toàn tỉnh. Thời gian quan, nhiều LN mới xuất hiện. Sự phát triển

các LN đã góp phần quan trọng vào phát triển KT - XH với sự đóng góp trên 30%

tổng giá trị sản xuất của cả tỉnh, LN còn góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và làm gia tăng giá trị xuất khẩu.

LN sẽ là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành

thị, giữa yếu tố truyền thống và hiện đại về văn hoá, khoa học kỹ thuật. Sự phát

triển của LN tạo hậu thuẫn vững chắc cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và

nông thôn, bảo tồn, duy trì và phát triển nhiều ngành nghề truyền thống có nét độc

đáo mang bản sắc văn hoá dân tộc. Xuất phát từ thực tế ấy mà Đảng bộ và chính

quyền tỉnh Bắc Ninh luôn quan tâm đến mở mang, phát triển LN. Nhiều chủ

trương, chính sách đã được đề ra và thực thi có hiệu quả như các chính sách về

phát triển các khu công nghiệp, chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư, hỗ trợ xây

dựng CSHT các LN, các chính sách bảo vệ môi trường LN v.v…

Thực tế trong CNH, HĐH, nhờ xác định rõ vị trí và vai trò của LN, có

chính sách và giải pháp tích cực của nhà nước và địa phương đã góp phần

phục hồi nhiều LNTT và tạo điều kiện cho sự ra đời các LN mới. Cơ cấu

ngành nghề, loại hình SXKD ở các LN ngày càng đa dạng gắn với xu thế phát

triển của kinh tế thị trường hiện nay.

117

2.4.2. T¹o lËp m«i tr−êng s¶n xuÊt kinh doanh thuËn lîi cho

ph¸t triÓn lµng nghÒ

Chuyển sang cơ chế thị trường trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập

kinh tế thế giới, các chính sách phát triển LN phải phù hợp với đặc điểm và

tình hình thực tế ở địa phương để góp phần giải phóng sức sản xuất, mở rộng

và phát triển các LN. Thực tế, việc xây dựng các chính sách đúng đắn, phù

hợp, có sự chỉ đạo thống nhất trong thực hiện của các cơ quan quản lý nhà

nước sẽ tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và nó thực sự là động lực

quan trọng thúc đẩy phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh. Từ thực tế cũng cho thấy,

cần phải tiếp tục cải cách hành chính mạnh mẽ và triệt để hơn, nâng cao tích

chuyên nghiệp của bộ máy hành chính. Công tác quản lý nhà nước đối với LN

phải được tiến hành thông qua các quy định chặt chẽ của pháp luật với việc

phân cấp, và tổ chức bộ máy quản lý năng động và hiệu quả vừa đảm bảo hạn

chế các hành vi vi phạm từ phía các cơ sở SXKD, vừa đảm bảo hỗ trợ tích

cực cho sự phát triển của các cơ sở SXKD trong các LN. Thực tế cũng cho

thấy, chính quyền địa phương cần chú ý khai thác và phát huy vị thế thuận lợi

của địa phương để tạo ra môi trường SXKD hơn nữa cho LN phát triển. Công

tác quy hoạch cần gắn với lộ trình thực hiện cụ thể phù hợp với tình hình và

xu hướng phát triển của làng nghề. Trong phát triển kinh tế thị trường và hội

nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các chính sách của nhà nước và địa phương cần

chú trọng đến đa dạng hóa sản phẩm, chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã hàng

hoá, khuyến khích mạnh mẽ các cơ sở SXKD trong các LN đổi mới công

nghệ, hướng xuất khẩu hàng hoá ra thị trường nước ngoài vv…

Thời gian qua, tỉnh Bắc Ninh cũng sớm có chủ trương và triển khai

nhanh các cụm công nghiệp LN nhằm giải quyết mặt bằng SXKD cho các LN

mở rộng và phát triển, đồng thời còn có một số chính sách và giải pháp góp

phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường tại các LN, phát triển giao thông

118

nông thôn v.v…Tuy nhiên trong tiến trình CNH, HĐH, các chính sách của

nhà nước và địa phương cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng những

yêu cầu mới thường xuyên nảy sinh ở các LN hiện nay. Có như vậy những

chính sách này mới thực sự tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho LN phát

triển mạnh mẽ hơn, đa dạng hơn, ngày càng có nhiều đóng góp tích cực vào

phát triển KT-XH của địa phương.

2.4.3. ChÝnh s¸ch ®Çu t− nh»m hç trî ph¸t triÓn c¬ së h¹

tÇng c¸c lµng nghÒ

Đầu tư phát triển CSHT các LN vừa là điều kiện, vừa là động lực và tạo

cơ hội cho đầu tư phát triển các ngành nghề của các LN. Thực tế thời gian qua

tỉnh Bắc Ninh có các chính sách khá đồng bộ cho hỗ trợ CSHT nông nghiệp

và nông thôn nói trung đó có các LN. Những chuyển biến về CSHT ở các LN

đã góp phần tích cực giải quyết tình trạng quá tải của CSHT đặc biệt là mặt

bằng SXKD chật hẹp, ô nhiễm, giao thông ách tắc đã và đang cản trở việc

phát triển SXKD và làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư ở các LN.

Hầu hết các CSHT cần một nguồn vốn đầu tư rất lớn, khả năng thu hồi vốn

chậm và nhiều loại CSHT mang tới công ích phục vụ SXKD và đời sống

chung của toàn XH. Vì vậy sự hỗ trợ của nhà nước là hết sức cần thiết và Bắc

Ninh khá thành công trong việc hỗ trợ từ NS tỉnh như một nguồn vốn “mồi”

cho việc huy động các nguồn vốn khác cùng đầu tư phát triển CSHT các LN.

Thực tế cũng cho thấy, việc đầu tư CSHT các LN cũng cần được thực

hiện đồng bộ từ hệ thống giao thông, điện, truyền thông, cấp thoát nước, xử lý

môi trường vv… đến các CSHT khác như hệ thống kho vận, hệ thống các nhà

chức năng dịch vụ tài chính – ngân hàng, các trung tâm tiếp nhận, phân tích,

xử lý và thương mại hoá thông tin kinh tế vv… Nhà nước cũng cần có các

chính sách khuyến khích đa dạng hoá các hình thức huy động vốn cho đầu tư

CSHT như thu hút đầu tư nước ngoài, BOT, BT và đặc biệt là việc khai thác

quỹ đất để tạo nguồn vốn đầu tư CSHT.

119

Trong xây dựng CSHT, công tác quy hoạch phải đi trước đầu tư phát

triển, chú trọng nâng cao chất lượng các công trình và giảm thiểu tối đa những

thất thoát trong đầu tư. Điều đó cho thấy, trong xây dựng và thực thi chính

sách với LN hiện nay cần gắn với những chế tài có những quy định cụ thể cho

người quản lý và đối tác thực hiện.

2.4.4. Chó träng ph¸t triÓn nguån nh©n lùc vµ ®éi ngò doanh

nh©n cho c¸c lµng nghÒ

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng đối với sự

phát triển của các LN. Thực tế các LN ở Bắc Ninh hiện đang phát triển có

một đội ngũ nguồn nhân lực khá đông đảo có tay nghề cao, đặc biệt là các

nghệ nhân, đội ngũ thợ cả lành nghề và các chủ DN năng động. Ngoài chuyên

môn nghiệp vụ, tay nghề cao để tạo ra các sản phẩm có chất lượng, độc đáo,

sáng tạo về mẫu mã, luôn thay đổi phù hợp với thị hiếu, các cơ sở SXKD còn

rất cần đòi hỏi cả về trình độ quản lý, ngoại ngữ, tin học, hiểu biết pháp luật

và các thông lệ quốc tế…để đáp ứng tình hình mới của nền kinh tế thị trường,

cạnh tranh và hội nhập thế giới.

Chính quyền cần có chính sách hỗ trợ các LN phát triển nguồn nhân lực

trình độ cao thông qua đầu tư cho hệ thống dạy nghề ở địa phương, hỗ trợ

khuyến khích đa dạng các loại hình dạy nghề, truyền nghề, quan tâm bồi

dưỡng cho các đội ngũ doanh nhân ở các LN để dần hình thành đội ngũ doanh

nhân đủ trình độ, năng lực phù hợp vời tình hình mới. Công tác cán bộ có ý

nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển LN là một vấn đề mà địa phương luôn

dành nhiều sự quan tâm. Thực tế Bắc Ninh cũng đã có các chính sách về

tuyển dụng, đề bạt, khuyến khích thu hút nhân tài, cải cách thủ tục hành

chính…. Tuy nhiên đây vẫn là khâu còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến thực thi

chính sách đối với sự phát triển KT - XH ở các LN hiện nay. Do vậy cần có

giải pháp tích cực hoàn thiện chính sách về công tác cán bộ từ các chế độ đãi

120

ngộ đến tiêu thức đánh giá, tuyển chọn cán bộ nhằm cải thiện năng lực và

hiệu quả của bộ máy quản lý công quyền, tạo môi trường thuận lợi cho phát

triển LN ngày càng đa dạng và hiệu quả hơn.

2.4.5. CÇn cã chÝnh s¸ch g¾n kÕt ph¸t triÓn lµng nghÒ g¾n víi

ho¹t ®éng du lÞch - v¨n ho¸ vµ chó träng b¶o vÖ m«i tr−êng

Việc phát triển kinh tế ở các LN luôn được coi là mục đích ưu tiên.

Tuy nhiên thực tế cho thấy ở các LN phát triển việc gắn phát triển kinh tế

các ngành nghề với văn hoá, du lịch và bảo vệ môi trường là một đòi hỏi

không thể thiếu. Thông thường các LN, đặc biệt là các LN truyền thống hội

tụ và biểu hiện sinh động bản sắc độc đáo của mỗi vùng, mỗi địa phương.

Mỗi LN là một địa chỉ văn hoá phản ánh lối sống phong tục tập quán của

từng cộng đồng dân cư. Vì vậy việc phát triển du lịch LN ở Bắc Ninh được

xác định là một hướng đi quan trọng của phát triển văn hoá du lịch tỉnh Bắc

Ninh. Theo đó cần phải đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gắn với LN

hình thành các dịch vụ du lịch tại các LN, xây dựng môi trường văn hoá du

lịch LN, bảo tồn phát huy giá trị văn hoá của LN, thực hiện các chương

trình du lịch LN kết hợp với các tài nguyên du lịch khác như di tích lịch sử

- văn hoá, lễ hội, dân ca Quan họ…, xây dựng thương hiệu LN, tuyên

truyền quảng bá LN v.v…

Vấn đề bảo vệ môi trường do quá trình phát triển LN ở Bắc Ninh

thời gian vừa qua là bài học khá thiết thực cho nhiều địa phương. Thực tế

việc ô nhiễm các nguồn nước mặt, nước ngầm, không khí và ô nhiễm các

chất thải rắn đối với tài nguyên đất đai do phát triển các ngành nghề ở các

LN là rất rõ và đã được nhận thức, khắc phục, song cần nhiều hơn các

chính sách thích hợp đủ mạnh để ngăn chặn, giảm thiểu, khắc phục và

đảm bảo phát triển bền vững.

121

2.4.6. ChÝnh s¸ch hç trî s¶n xuÊt kinh doanh ®Ó n©ng cao søc

c¹nh trang cña c¸c lµng nghÒ trong héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ

Trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế thế giới thì năng lực cạnh

tranh của các DN có y nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của các

LN. Thực tế các LN ở Bắc Ninh tuy có sự tăng trưởng và phát triển khá nhanh

nhưng năng lực cạnh tranh còn hạn chế như: năng xuất lao động chưa cao,

chất lượng và tính độc đáo của sản phẩm còn thấp, trình độ công nghệ và khả

năng tiếp cận công nghệ mới còn hạn chế, chi phí đầu vào còn cao và chưa

hợp lý, dẫn đến giá cả cao chưa cạnh tranh so với hàng nhập khẩu, thị trường

đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định và bền vững.

Mặc dù nhà nước và chính quyền địa phương cũng đã có nhiều chính

sách hỗ trợ các DN, song cần phải có một chiến lược tổng thể quốc gia về

hội nhập kinh tế quốc tế để các Bộ ngành, địa phương và từng DN cụ thể

hoá chiến lược riêng của mình cho phù hợp, đồng thời xây dựng các chính

sách thiết thực hỗ trợ DN xúc tiến đầu tư thương mại, đổi mới trang thiết bị

công nghệ, thay đổi mẫu mã, chất lượng sản phẩm nhằm hạ giá thành sản

phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Đặc biệt là địa phương cần

phải coi trọng các yêu cầu khách quan về thống nhất môi trường đầu tư phù

hợp với các cam kết quốc tế và chủ động hợp tác thống nhất nhận thức và

hành động với vùng thủ đô, vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ và cả nước để

xử lý các vấn đề về phát triển LN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

trước mắt và dài hạn.

122

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2:

Luận án đã khái quát điều kiện tự nhiên, KT – XH của tỉnh Bắc Ninh

có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển các LN. Ở đó, bao hàm cả thuận lợi

và khó khăn đối với hoạt động SXKD ở các LN.

Luận án đã đi sâu phân tích những chính sách của Nhà nước và địa

phương từ 1997 đến nay có tác động đến sự phát triển các LN ở tỉnh Bắc

Ninh. Từ thực tế phát triển các LN, luận án đã làm rõ những thành tựu và hạn

chế cùng những nguyên nhân của các hạn chế. Đó là cơ sở để luận án rút ra

một số bài học kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong hoạch định

và thực thi chính sách phát triển LN, góp phần thúc đẩy CNH, HĐH nông

nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

123

Chương 3

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH

THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở TỈNH BẮC NINH

TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. Mét sè quan ®iÓm vÒ hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸3.1. Mét sè quan ®iÓm vÒ hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸3.1. Mét sè quan ®iÓm vÒ hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸3.1. Mét sè quan ®iÓm vÒ hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸t t t t

triÓn lµng nghÒ tØnh B¾c NinhtriÓn lµng nghÒ tØnh B¾c NinhtriÓn lµng nghÒ tØnh B¾c NinhtriÓn lµng nghÒ tØnh B¾c Ninh

3.1.1. Hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ ph¶i phï

hîp víi vai trß cña lµng nghÒ trong sù ph¸t triÓn kinh tÕ - x· héi

cña ®Þa ph−¬ng

Một chính sách cho là hiệu quả khi nó có đối tượng, phạm vi điều

chỉnh rộng và có tác dụng đạt mục đích cao của chính sách. Vì vậy trước

tiên cần phải đánh giá phạm vi đối tượng điều chỉnh có vai trò ảnh hưởng

như thế nào đối với tình hình KT - XH của địa phương để từ đó hoàn thiện

chính sách phù hợp.

Với tỉnh Bắc Ninh, LN đóng vai trò quan trọng trong nền KT - XH địa

phương: LN phát triển nhanh cả số lượng, chất lượng, phân bố rộng khắp toàn

tỉnh, đóng góp phần đáng kể vào tổng sản phẩm của tỉnh, giải quyết công ăn

việc làm… và thực tế những năm qua LN ở Bắc Ninh phát triển với tốc độ

cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh và đóng góp quan trọng

vào tốc độ tăng trưởng KT - XH của tỉnh. Vấn đề phát triển LN không chỉ là

vấn đề quan tâm của chính quyền mà là sự quan tâm của mọi người dân trong

tỉnh. Do đó trong quan điểm xây dựng chính sách phát triển LN ở tỉnh Bắc

Ninh cần phải xác định các chế tài đủ mạnh để kích thích sự phát triển của các

LN, mặt khác cũng cần lồng ghép quan tâm đến LN trong các chính sách phát

triển KT - XH chung của tỉnh.

124

3.1.2. Hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ trªn c¬ së

ph¸t huy tiÒm n¨ng thÕ m¹nh cña ®Þa ph−¬ng vµ nh÷ng ®Æc ®iÓm

cña lµng nghÒ trong c«ng nghiÖp ho¸, hiÖn ®¹i ho¸ n«ng nghiÖp,

n«ng th«n

Những điều kiện tự nhiên, đặc điểm KT - XH và các nguồn lực khác tại

địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển LN. Vì vậy, hoàn thiện chính

sách phát triển LN phải chú ý đến các yếu tố này nghĩa là chính sách cần

khuyến khích để phát huy được những lợi thế so sánh về vị trí địa lý thuận lợi

là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, giáp thủ đô và có hệ thống

giao thông thuận tiện để phát triển, giao lưư hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư, áp

dụng cải tiến kỹ thuật, công nghệ, máy móc thiết bị… Bắc Ninh là tỉnh có nền

văn hoá phong phú, có nhiều cảnh quan du lịch và các lễ hội truyền thống…

nên chính sách phát triển LN cần phải chú ý kết hợp phát triển SXKD và thúc

đẩy du lịch LN nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng. Mặt khác, chính

sách cũng cần hạn chế và khắc phục những khó khăn. Là tỉnh diện tích nhỏ

hẹp, dân số đông, vì vậy chính sách phát triển LN cần rất chú ý đến phát triển

nguồn nhân lực, chú ý khuyến khích các ngành nghề trong nông thôn sử dụng

nhiều lao động nhằm giải quyết việc làm. Đồng thời, chính sách phát triển LN

cũng cần phải phù hợp với đặc điểm thực tế của các LN trong tỉnh như chính

sách cần ưu đãi, khuyến khích tập trung vào một số sản phẩm LN có số lượng

lớn, có sức cạnh tranh cao như đồ gỗ mỹ nghệ, sắt thép, giấy… Chính sách

cũng cần khuyến khích ưu đãi các vùng khó khăn chưa có ngành nghề và các

LN thông qua chính sách nhân cấy nghề mới và các ưu đãi khác nhằm giải

quyết việc làm, tăng thu nhập. Chính sách phát triển LN cần gắn với khuyến

khích phát triển hạ tầng nông thôn và phát triển toàn diện công nghiệp - nông

nghiệp và dịch vụ theo tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

125

3.1.3. Hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ theo thùc

tÕ ®Þnh h−íng vµ môc tiªu ph¸t triÓn lµng nghÒ cña ®Þa ph−¬ng

Các chính sách có định hướng và mục tiêu cụ thể. Phương hướng và

mục tiêu phát triển LN của tỉnh được xây dựng trên nhiều căn cứ khác nhau từ

điều kiện tự nhiên, KT - XH, từ trình độ phát triển KT - XH và kết cấu hạ

tầng, từ mục tiêu KT - XH của cả tỉnh, kể cả những kết quả, kinh nghiệm

trước đó và những dự báo xu thế phát triển trước, những yêu cầu đòi hỏi của

tình hình mới v.v… Vì vậy, việc hoàn thiện chính sách hay hoạch định chính

sách mới phải bám chắc phương hướng và mục tiêu đã đặt ra. Để phát triển

LN theo hướng CNH, HĐH, kết hợp yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại thì

chính sách cần phải khuyến khích, hỗ trợ tích cực cho việc chuyển giao khoa

học công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, hỗ trợ CSHT LN

v.v… Để đa dạng hoá ngành nghề, đa dạng hình thức tổ chức sản xuất thì

chính sách cần tập trung các biện pháp khuyến công, khuyến khích mọi thành

phần kinh tế phát triển, các quy định ưu đãi, khuyến khích đảm bảo công

bằng, minh bạch, không phân biệt đối xử v.v… Để đạt mục tiêu về số lượng

LN và giải quyết việc làm… Các chính sách cần tập trung là đào tạo nguồn

nhân lực, nhân cấy nghề mới, phát triển nghề thế mạnh, khôi phục các LN,

ngành nghề đã mai một v.v… Hay như để đạt mục tiêu cụ thể bảo vệ môi

trường thì các chính sách về môi trường cần được chú trọng tương xứng v.v…

3.1.4. Hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ g¾n víi chñ

tr−¬ng ph¸t triÓn kinh tÕ nhiÒu thµnh phÇn cña §¶ng vµ nhµ n−íc

Hiện nay, ở các LN của tỉnh Bắc Ninh thành phần kinh tế là các hộ gia

đình cá thể, các cơ sở SXKD là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn,

Công ty tư nhân, Hợp tác xã, trang trại… đều là kinh tế tư nhân. Do vậy, hoàn

thiện chính sách phát triển LN nhất thiết phải quán triệt chủ trương của Đảng và

126

Nhà nước trong việc tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo

điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, nhằm góp phần giải phóng lực lượng sản

xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần

giữ vững ổn định chính trị - xã hội đất nước. Theo đó, chính sách phát triển LN

cần phải tạo ra nền tảng pháp lý cơ bản cho “sân chơi” bình đẳng nói chung và

phát triển kinh tế tư nhân nói riêng, xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành

phần kinh tế, tạo các điều kiện thuận lợi về thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh

doanh, đầu tư… Chính sách cũng cần quan tâm đến mở cửa thị trường cho các

doanh nghiệp tư nhân, bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp… và do đó

một loạt các cơ chế chính sách về đất đai, tài chính, tín dụng… cũng cần được

hoàn thiện, sửa đổi bổ sung cho phù hợp.

3.1.5. Hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ ph¶i phï hîp

víi xu h−íng ph¸t triÓn kinh tÕ thÞ tr−êng vµ héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ

Các chính sách của Nhà nước cần phải được tôn trọng các quy luật của

nền kinh tế thị trường, tôn trọng vai trò phân bổ nguồn lực của thị trường. Tuy

nhiên, chính sách một mặt có thể đạt được hiệu quả cao trong phân bổ nguồn lực

và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mặt khác có thể xử lý những khiếm khuyết của

kinh tế thị trường dựa trên nguyên tắc công bằng, dân chủ. Hay nói cách khác

các chính sách là công cụ quản lý điều hành vĩ mô của Nhà nước nhằm đảm bảo

cho nền kinh tế phát triển tự do nhưng đảm bảo được mục tiêu phát triển bền

vững. Chính sách phát triển LN phải hoàn thiện theo hướng tự do hoá kinh tế,

mở rộng quyền xuất nhập khẩu, từng bước cắt giảm hàng rào thuế quan và phi

thuế quan, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết của hội

nhập, các quy định của WTO. Chính sách cần hướng tới khuyến khích sự tự chủ,

tự chịu trách nhiệm và bình đẳng của các chủ thể kinh tế, một mặt bằng pháp lý

và các điều kiện kinh doanh chủ yếu trên thương trường cho các doanh nghiệp

127

thuộc mọi thành phần kinh tế đồng thời cần hoàn thiện điều chỉnh các hành vi,

cơ chế hoạt động trên thị trường còn thiếu hoặc chưa phù hợp với cơ chế thi

trường và yêu cầu của hội nhập quốc tế nhằm hình thành và phát triển đồng bộ

các loại thị trường chủ yếu: thị trường hàng hoá dịch vụ và thị trường các yếu tố

sản xuất như thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường lao động,

khoa học công nghệ v.v… Và cuối cùng để thực hiện yêu cầu này thì phải hoàn

thiện đổi mới về thủ tục hành chính, đổi mới vai trò, chức năng quản lý của Nhà

nước đối với nền kinh tế quốc dân.

3.1.6. Hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ph¸t triÓn lµng nghÒ ph¶i phï

hîp chiÕn l−îc ph¸t triªng kinh tÕ - x· héi

Các chính sách tác động đến LN phải đảm bảo quá trình phát triển có

sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển là: phát

triển kinh tế nhất là tăng trưởng kinh tế; phát triển xã hội nhất là thực hiện

tiến bộ công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và bảo

vệ môi trường nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất

lượng môi trường khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên

nhiên. Hoàn thiện và phát triển thể chế chính sách phát triển LN phải phù

hợp với những lựa chọn ưu tiên về ngành nghề, sản phẩm có ưu thế ở địa

phương, ưu tiên phát triển khu, cụm công nghiệp LN và đa nghề gắn với

phát triển bền vững đô thị hoá, những ưu tiên về CSHT, ngành nghề nông

thôn, những vùng sinh thái, vùng văn hoá du lịch, những ưu tiên về giải

quyết việc làm, giáo dục, y tế, về sử dụng tài nguyên đất, nước, khoáng

sản… và các ưu tiên về phòng ngừa kiểm soát ô nhiễm, suy thoái môi

trường v.v… Các chính sách vừa phải khuyến khích phát triển SXKD

nhưng vừa phải đảm bảo giữ gìn bảo tồn các giá trị văn hoá của các LN,

ngành nghề, các di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên, các phong tục, lễ

hội truyền thống cổ truyền v.v…

128

3.2. ®Þnh h−íng vµ3.2. ®Þnh h−íng vµ3.2. ®Þnh h−íng vµ3.2. ®Þnh h−íng vµ môc tiªu ph¸t môc tiªu ph¸t môc tiªu ph¸t môc tiªu ph¸t triÓn lµng nghÒ ë triÓn lµng nghÒ ë triÓn lµng nghÒ ë triÓn lµng nghÒ ë

tØnh b¾c ninhtØnh b¾c ninhtØnh b¾c ninhtØnh b¾c ninh

3.2.1. §Þnh h−íng ph¸t triÓn lµng nghÒ ë tØnh B¾c Ninh

Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 17 (năm 2005) đã nhấn mạnh:

“Phát triển LN có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển KT - XH của

tỉnh” và chủ trương: “Trong những năm tới cần đẩy mạnh phát triển các LN

mà sản phẩm đa dạng có sức cạnh tranh trên thị trường, nhất là những LN

sản xuất thép, đồ gỗ mỹ nghệ, giấy, tiếp tục hỗ trợ những LN có sức phát triển

kém, có biện pháp nhằm khôi phục những LN đã mai một”{41, tr.37}. Trên

cơ sở chủ trương này, định hướng phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh trong thời

gian tới là:

- Phát triển làng nghề theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Các LN cần phải được phát triển theo hướng gắn với công nghiệp, có tác

động cải tạo nền nông nghiệp, cung cấp những công cụ chế biến nông nghiệp,

trong đó chú ý đến công nghiệp chế biến nông sản và ngành nghề nông thôn.

Phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, khuyến khích và sắp xếp

lại các ngành nghề có sản phẩm chất lượng tốt được các nước trên thế giới ưa

chuộng như: đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, đồ đồng mỹ nghệ Đại Bái, tranh thêu

Xuân Lai, khuyến khích các hộ sản xuất, các doanh nghiệp làm đồ gốm Phù

Lãng cải tiến công nghiệp, áp dụng kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất.

- Phát triển làng nghề theo hướng kết hợp yếu tố truyền thống và yếu tố

hiện đại.

Việc đổi mới và hiện đại hoá kỹ thuật là một yêu cầu quan trọng có tính

sống còn đối với LN. Vì cứ theo phương pháp thủ công thuần tuý như trước,

các sản phẩm không được cải tiến, không có khả năng cạnh tranh và khó tiêu

thụ. Do vậy nhất thiết phải đưa ngành nghề truyền thống từng bước lên trình

129

độ kỹ thuật hiện đại. Nhà nước còn khuyến khích các LN có trình độ tập trung

hoá sản xuất như giấy dó Phong Khê, đồ mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, đúc đồng

Đại Bái, rèn Đa Hội… tạo điều kiện áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm nguyên

liệu, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Mặt khác việc khôi phục và phát triển LN chính là tạo ra sản phẩm thủ

công nghiệp tinh xảo, độc đáo mà sản phẩm công nghiệp hiện đại không thể

có được, không thể thay thế được cho nên Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ

về vốn, trợ cấp thu nhập cho các nghệ nhân, thợ lành nghề. Giới thiệu quảng

cáo và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của họ ở trong nước và để xuất khẩu. Các

ngành nghề truyền thống cần phải được bảo tồn và phát huy, vì nó không chỉ

có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa về văn hoá dân tộc.

Kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại đã tạo ra sản phẩm mới

tinh xảo, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế tăng lên, đáp ứng những nhu

cầu đa dạng của thị trường.

- Chú trọng phát triển các làng nghề truyền thống, làng nghề mới gắn

với đa dạng hoá ngành nghề.

Phải khơi dậy những ngành nghề truyền thống đã có, tận dụng tay nghề,

kỹ năng, kỹ xảo của người lao động, khả năng nguyên liệu của địa phương.

Bên cạnh những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn, phải chú trọng phát triển các

mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng rộng rãi của quảng đại quần chúng nhân

dân nhằm mở rộng thị trường, tăng khả năng sản xuất, tăng khả năng cạnh

tranh của sản phẩm, thu hút và giải quyết việc làm cho người lao động. Trên

cơ sở có việc làm ổn định giúp cho nhân dân tăng thu nhập. Nhà nước cần chú

trọng vào công tác đào tạo kỹ thuật, tay nghề cho người lao động, bồi dưỡng

kiến thức và kinh nghiệm quản lý cho các ông chủ doanh nghiệp trong LN.

Khôi phục LNTT cần duy trì những sản phẩm mang đậm nét văn hoá

dân tộc mà hiện nay trên thị trường đang có xu hướng giảm như: tranh Đông

130

Hồ, tranh thêu… Nhà nước cần tạo điều kiện giúp đỡ LN này, giới thiệu sản

phẩm của họ ra ngoài, đổi mới công nghệ, trang thiết bị tiên tiến, tìm tòi gìn

giữ những bí quyết công nghệ truyền thống.

Trong điều kiện phát triển của khoa học công nghệ hiện nay việc mở

rộng và phát triển LN mới đang có xu hướng mở rộng trên nhiều địa phương:

làng văn hoá, làng du lịch… phát triển LN là con đường quan trọng để xây

dựng và phát triển công nghiệp nông thôn. Do vậy, cần có phương hướng phát

triển khoa học công nghệ và phát triển thêm nghề mới, cần có những chủ

trương thích hợp để nhân rộng nghề thủ công trong nông thôn mà hạt nhân là

các LNTT. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất lớn nhằm phát triển kinh tế nông thôn

một cách bền vững.

- Phát triển các làng nghề theo hướng đa dạng hoá hình thức sở hữu và

đa dạng hoá các loại hình sản xuất kinh doanh.

Do sự phát triển của thị trường trong và ngoài nước, kinh tế tư nhân và

hộ cá thể có xu hướng ngày càng tăng, các công ty tư nhân đã thay thế vai trò

của doanh nghiệp Nhà nước hoặc tập thể trong phát triển sản xuất cũng như

tiêu thụ sản phẩm. Sự đa dạng hoá các thành phần kinh tế trong các LN sẽ tạo

ra được sự liên kết chặt chẽ, hỗ trợ bổ sung cho nhau trong phát triển sản xuất,

tiêu thụ sản phẩm và công ăn việc làm cho người lao động.

Hiện nay ở các LN, các hộ gia đình cá thể chiếm đại bộ phận. Các

doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Hợp tác xã, tổ hợp, Doanh nghiệp tư nhân,

Công ty cổ phần…) còn ít, nhưng chúng đóng vai trò rất quan trọng đối với

sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đối với việc khôi phục, bảo tồn và phát triển

các LN. Vì vậy, cùng với việc đa dạng hoá các thành phần kinh tế, các loại

hình kinh doanh, nên tập trung khuyến khích thúc đẩy việc hình thành và phát

triển các doanh nghiệp Nhà nước trong các LN nhằm tạo ra sự liên kết chặt

chẽ quá trình tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong các LN.

131

- Phát triển làng nghề phải gắn với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

và đẩy mạnh xuất khẩu.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại nhiều thành tựu về kinh tế,

văn hoá, xã hội… Thị trường của các LNTT đã không ngừng mở rộng, các sản

phẩm, đặc biệt là sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã từng bước khẳng định chỗ đứng

của mình, trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của nước ta.

Tuy nhiên, nhiều khó khăn, thách thức đang đặt ra cho sự phát triển

LN: cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế, hệ thống chính sách và pháp

luật của ta chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập.

Vì vậy, ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần phải tiếp tục quá trình đổi mới và

hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo môi

trường pháp lý cho các doanh nghiệp của LN phát triển, chủ động hội nhập

với thị trường quốc tế.

- Phát triển làng nghề chú trọng giảm thiểu ô nhiễm môi trường đảm

bảo phát triển bền vững.

Để thực hiện phát triển bền vững phải đảm bảo đồng thời phát triển về

kinh tế, xã hội và môi trường. Với tình trạng ô nhiễm môi trường đang ngày một

gia tăng tại các LN hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường có vai trò quan trọng

trong việc phát triển LN. Các chính sách phát triển LN phải hướng tới việc đảm

bảo cho môi trường trong sạch, giảm thiểu tình trạng rác thải vào môi trường

nước, môi trường không khí và môi trường đất để tạo cảnh quan cho các LN.

- Phát triển làng nghề phải gắn với phát triển du lịch nhằm khai thác

tiềm năng phát triển du lịch của các làng nghề.

Các LN của Bắc Ninh có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, tăng

nguồn thu cho ngân sách. Nhưng đến nay, đại bộ phận các LNTT vẫn chưa được

giới thiệu rộng rãi tới khách du lịch trong và ngoài nước. Vì thế, Nhà nước cần

khuyến khích sự phát triển của các LN gắn với du lịch theo cả 2 hướng: Sản

132

phẩm của các LN đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của các khách du lịch, đặc biệt

là khách quốc tế, tạo ra sức hấp dẫn, lôi cuốn khách du lịch quốc tế tới Việt Nam

và thị trường du lịch trở thành một bộ phận của thị trường tiêu thụ sản phẩm,

tăng nhanh xuất khẩu sản phẩm của các LN. Khai thác tốt hơn tiềm năng phát

triển du lịch của các LN nhằm phát triển LN thông qua du lịch.

3.2.2. Môc tiªu ph¸t triÓn lµng nghÒ ë tØnh B¾c Ninh

Trên cơ sở quan điểm và định hướng phát triển LN, đến năm 2010 tỉnh

Bắc Ninh cần thực hiện các mục tiêu phát triển sau:

- Về số lượng LN: nâng tổng số LN đến năm 2010 từ 62 lên 80 LN.

Hoàn thành quy hoạch và đưa vào khai thác 28 cụm, công nghiệp LN.

- Về giá trị sản xuất và đóng góp cho ngân sách Nhà nước: nâng tổng

giá trị sản xuất lên 3.500 tỷ đồng vào năm 2010, phấn đấu đạt tốc độ tăng

trưởng bình quân hàng năm từ 30-35%, đóng góp cho ngân sách đạt 70-100

tỷ, chiếm 6-7% tổng thu ngân sách của cả tỉnh.

- Về giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Phấn

đấu giải quyết việc làm hàng năm cho 60.000 lao động nông thôn. Nâng cao mức

thu nhập bình quân đầu người từ 1.200 đến 1.400 USD/năm vào năm 2010.

- Về bảo vệ môi trường và đa dạng hoá sinh học LN: Hạn chế mức độ

gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chất lượng môi

trường, giải quyết một phần cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở các cụm

công nghiệp LN với mục tiêu cụ thể:

+ 80% LN có môi trường trong sạch, 100% các cụm công nghiệp LN

có hệ thống xử lý chất thải tập trung.

+ 100% cơ sở sản xuất xây dựng mới phải có công nghệ sạch và có các

thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường.

+ Tỷ lệ ao hồ, cây xanh và cảnh quan môi trường chiếm từ 20-30%

diện tích của LN và cụm công nghiệp LN.

133

3.3. nh÷ng gi¶i ph¸p c¬ b¶n hoµn thiÖn mét sè chÝ3.3. nh÷ng gi¶i ph¸p c¬ b¶n hoµn thiÖn mét sè chÝ3.3. nh÷ng gi¶i ph¸p c¬ b¶n hoµn thiÖn mét sè chÝ3.3. nh÷ng gi¶i ph¸p c¬ b¶n hoµn thiÖn mét sè chÝnh nh nh nh

s¸ch thóc ®Èy ph¸t s¸ch thóc ®Èy ph¸t s¸ch thóc ®Èy ph¸t s¸ch thóc ®Èy ph¸t triÓn lµng nghÒ ë tØnh b¾c ninhtriÓn lµng nghÒ ë tØnh b¾c ninhtriÓn lµng nghÒ ë tØnh b¾c ninhtriÓn lµng nghÒ ë tØnh b¾c ninh

CNH, HĐH nông thôn trong phát triển kinh tế thị trường và hội nhập

kinh tế quốc tế vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các LN hiện nay ở tỉnh

Bắc Ninh. Thực tế cho thấy, tỉnh cần có những giải pháp tích cực hoàn thiện

hệ thống chính sách để tạo môi trường SXKD thuận lợi hơn cho các LN. Từ

định hướng và mục tiêu phát triển LN tỉnh Bắc Ninh, từ các quan điểm chủ

yếu về hoàn thiện chính sách phát triển LN, luận án đề xuất những giải pháp

cơ bản hoàn thiện một số chính sách thúc đẩy phát triển LN ở Bắc Ninh trong

thời gian tới.

3.3.1. ChÝnh s¸ch vÒ ®Êt ®ai

Hoàn thiện chính sách về đất đai phải bảo đảm mục tiêu cho cơ sở

SXKD tiếp cận một cách dễ dàng với đất đai nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho

họ được giao đất, thuê đất làm mặt bằng mở rộng SXKD, sử dụng đất hiệu

quả, bền vững, công bằng giữa các loại hình doanh nghiệp, thành phần kinh

tế, đồng thời cũng phải tạo điều kiện cho cơ sở SXKD sử dụng đất đai như

một nguồn lực tài chính đủ cơ sở pháp lý để tiếp cận với tín dụng, và các cơ

hội thị trường, liên doanh, liên kết khác… Một số đề xuất là:

- Trước tiên chính sách hoàn thiện phải nhằm cải cách thủ tục hành chính

liên quan đến đất một cách mạnh mẽ: cần đơn giản hoá quy trình và hồ sơ thủ

tục giao đất, thuê đất. Các bước quy trình phải được công khai và gắn với hạn

định thời gian phải giải quyết kèm theo những chế tài xử phạt nghiêm minh đối

với những hành vi cản trở, trì trệ trong giải quyết các thủ tục hành chính. Trong

cơ quan liên quan phải nghiên cứu và áp dụng cơ chế một cửa, áp dụng tiêu

chuẩn ISO nhằm minh bạch, đơn giản, thuận tiện và nhanh chóng giải quyết các

thủ tục. Nên giao một đầu mối là Sở Tài nguyên môi trường đảm nhiệm.

134

- Có chính sách khuyến khích, tổ chức thành lập và thiết lập khung pháp

lý để hỗ trợ các hoạt động của các công ty, trung tâm dịch vụ, môi giới về đất.

Các đơn vị này sẽ đảm bảo việc cung cấp các thông tin về thị trường đất đai, môi

giới trong mua bán, cho thuê, đi thuê đất, giúp cơ sở SXKD thực hiện một số

khâu trong quá trình xin giao đất, thuê đất của Nhà nước như các khâu khảo sát,

đo đạc, lập duyệt, phương án đền bù đất đai,… kể cả tư vấn trong giao dịch và

làm các thủ tục hành chính khác. Và cải cách các đơn vị này góp phần quan

trọng trong việc phát triển thị trường thứ cấp về đất đai từ đó tạo điều kiện thuận

lợi cho các cơ sở SXKD tiếp cận dễ dàng hơn với đất đai.

- Cụ thể hơn chính sách về công tác quy hoạch sử dụng đất: Thiết chế

về quy hoạch sử dụng đất phải được đặt lên hàng đầu đối với chính quyền địa

phương các cấp trong việc thực thi chính sách pháp luật về đất đai. Hiện nay

tỉnh Bắc Ninh rất quan tâm khai thác quỹ đất tạo vốn ngân sách để đầu tư phát

triển nhưng phải có chính sách quy định dành một tỷ lệ vốn thu được để đầu

tư thoả đáng cho công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, quy hoạch sử dụng

đất. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch sử dụng đất cũng là vấn đề hết

sức quan trọng nhằm khắc phục tình trạng quy hoạch phải thay đổi liên tục,

không sát thực tiễn, chạy theo sau nhu cầu của doanh nghiệp. Quá trình xây

dựng quy hoạch cần phải được công khai rộng rãi để có sự tham vấn của cộng

đồng doanh nghiệp cũng như mọi người dân. Việc công bố công khai, minh

bạch quy hoạch đất của các địa phương phải gắn với việc cải thiện khả năng

trong quá trình giao dịch của thửa đất một cách nhanh chóng và chi phí thấp

nhất như việc thiết lập mạng cơ sở dự liệu đất đai và có chính sách ưu đãi

giảm phí hoặc giá dịch vụ cung cấp khai thác dữ liệu…

- Hoàn thiện các giải pháp thực hiện tốt chính sách phát triển các khu

công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp LN. Đây là một mô hình phát triển

của các LN đi lên sản xuất hiện đại, đưa công nghệ mới vào sản xuất và phát

135

triển thị trường đồng thời sử dụng đất đai hiệu quả nhất, giảm thiểu ô nhiễm

môi trường v.v… Nghị quyết số 02/NQ - TW ngày 29/5/2006 của Tỉnh uỷ

Bắc Ninh chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát triển các khu công

nghiệp, cụm công nghiệp gắn với phát triển đô thị theo hướng hiện đại hoá.

Để hình thành và phát triển các khu, cụm công nghiệp phải làm tốt công tác

lập quy hoạch, kế hoạch phát triển LN trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát

triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong đó chú ý các ngành nghề ưu tiên lựa chọn,

có lợi thế so sánh, có sản lượng và sức cạnh tranh, sử dụng nhiều lao động, có

nhiều nguồn thu cho ngân sách… Quy hoạch phát triển LN cần phải gắn kết

chặt chẽ với các khu dân cư dịch vụ, gắn với quy hoạch hệ thống các CSHT,

các khu công nghiệp tập trung. Trên cơ sở đó lập và duyệt quy hoạch phát

triển các khu, cụm công nghiệp LN. Qua nghiên cứu xu thế và tình hình phát

triển cần thiết phải quy hoạch đến 2010 thêm 29 khu, cụm trên phạm vi toàn

tỉnh với diện tích khoảng 1.085 ha (xem phụ lục số 3). Mặt khác cần phải kiện

toàn ban quản lý các khu cụm công nghiệp, nghiên cứu đề xuất mô hình quản

lý sau đầu tư, nhất là quản lý, khai thác các công trình hạ tầng kỹ thuật, quản

lý sản xuất, an toàn vệ sinh công nghiệp, môi trường… trong các khu, cụm

công nghiệp. Một số chính sách cần phải được nghiên cứu ban hành là: tiêu

chí xét duyệt và trình tự cấp phép cho các dự án đầu tư vào các khu, cụm công

nghiệp; hướng dẫn định mức thu, chi phí quản lý khu, cụm công nghiệp: mức

thu chi phí duy tu bảo dưỡng CSHT chung, chi phí quản lý an ninh trật tự, vệ

sinh công cộng…; quy định trình tự, thủ tục thực hiện dự án đầu tư xây dựng

CSHT kỹ thuật trong các khu công nghiệp vừa, nhỏ, cụm công nghiệp LN;

các quy định phân công, phân cấp quản lý, triển khai thực hiện v.v…

- Chính sách đất đai cũng cần hoàn thiện để tăng thêm quyền và sự bảo

hộ quyền đối với đất của các cơ sở SXKD thuê đất của Nhà nước. Đồng thời

cũng cần quy định minh bạch rõ ràng về quyền của họ khi thuê đất của Nhà

136

nước. Khi thuê đất các cơ sở SXKD đã phải bỏ ra một khoản chi phí khá lớn

như chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, đo đạc, lập dự án v.v… nhưng họ

không có quyền dùng đất thuê để bán hay thế chấp vay vốn, còn tài sản trên

đất thì lại được bán, cho thuê, liên doanh, liên kết… Tuy nhiên, đất và tài sản

trên đất là gắn chặt với nhau. Vì vậy, cần quy định hết sức cụ thể những vấn

đề về quyền đối đất và tài sản trên đất một cách đồng bộ không tách rời nhằm

tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hộ SXKD năng động hơn trong sử dụng hiệu

quả đất thuê của mình.

- Chính sách về đền bù, bồi thường giải phóng mặt bằng cũng cần có sự

thay đổi nhằm tháo gỡ những khó khăn khi Nhà nước thu hồi đất, chuyển mục

đích sử dụng đất, giải phóng về cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp tiếp cận và

thực hiện nhanh chóng thu hồi đất để tạo mặt bằng SXKD. Về giá không nên

quy định giao cho từng tỉnh thành phố quy định khác nhau mà nên thống nhất

toàn quốc theo khu vực khác nhau để tránh việc giá giáp danh rất khó thực hiện

như hiện nay. Đặc biệt là Bắc Ninh có phần giáp gianh với Thủ đô Hà Nội có

mức giá đất rất khác nhau, gây khó khăn trong việc thu hồi đất, giải phóng mặt

bằng để phát triển SXKD. Đồng thời cũng không nên quy định giá phải quy định

công bố hàng năm, khi đó những tháng cuối năm sẽ rất khó thu hồi đất vì người

dân trông chờ sự thay đổi giá của ngày 1/1 hàng năm. Nên quy định giá được

thay đổi khi có biến động giá của thị trường ở một mức độ nào đó.

Việc thu hồi đất mở rộng SXKD ở các LN chủ yếu là thông qua việc

hình thành các khu, cụm công nghiệp có đặc điểm là quy mô lớn và diễn ra

trong nhiều năm, nên Nhà nước cũng ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù cho

nông dân ở khu vực có dự án theo hướng đặc biệt và nhất là với các địa bàn

Từ Sơn, Tiên Du và thành phố Bắc Ninh.

Khuyến khích tạo điều kiện cho họ chuyển đổi được nghề nghiệp, ổn

định đời sống sau khi giao lại đất sản xuất, nông nghiệp cho Nhà nước để thực

137

hiện chủ trương phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và mở rộng đô

thị như: Cần tổ chức điều tra, khảo sát hàng năm để nắm tình hình lao động,

việc làm của người dân ở khu vực bị thu hồi đất để từ đó có biện pháp cụ thể

giải quyết việc làm cho từng đối tượng; phải gắn việc đào tạo nghề với việc

sử dụng nghề sau khi đào tạo, đào tạo gắn với địa chỉ cần sử dụng, xây dựng

chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm đồng bộ riêng cho khu vực bị thu

hồi đất theo hướng gắn trực tiếp trách nhiệm của từng chủ đầu tư khi thực

hiện dự án có sử dụng đất…

- Ngoài ra, để tạo điều kiện cho việc thu hồi đất, tỉnh cũng cần tăng cường

đội ngũ cán bộ địa chính các cấp đảm bảo đủ số lượng và năng lực để hoàn thành

nhiệm vụ, tăng cường đầu tư ngân sách cho công tác quản lý đất đai đặc biệt là

đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập

quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính. Nhà nước

cũng cần phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có tính ổn định, cụ thể

trình tự, thủ tục hành chính và chế độ trách nhiệm của cán bộ chuyên môn và

UBND các cấp trong việc cập nhật, quản lý các thông tin biến động về đất đai

đảm bảo phản ánh đúng hiện trạng đất đai trên thực địa và hồ sơ địa chính. Mặt

khác cần có các chế tài và biện pháp kiên quyết xử lý những phần tử lợi dụng

quy chế dân chủ, kích động, lôi kéo các hộ nông dân cản trở thực thi chính sách

thu hồi đất của Nhà nước. Kiên quyết thu hồi đất của các cơ sở SXKD sử dụng

đất không đúng mục đích, kéo dài thời gian đầu tư theo quy định để giao lại cho

các cơ sở SXKD khác có hiệu quả hơn theo quy hoạch sử dụng đất… Nhà nước

cũng cần sớm ban hành luật về giao dịch bất động sản điều chỉnh các giao dịch

về quyền sử dụng đất, tài sản trên đất, các giao dịch thuê lại đất thuê v.v… Có

bản tin định kỳ về giá đất và công bố rộng rãi, lành mạnh thị trường bất động

sản, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở SXKD tiếp cận dễ dàng hơn với

đất đai thông qua thị trường bất động sản.

138

Tóm lại, cùng với việc rà soát công tác quy hoạch LN, cụm công

nghiệp LN để phân bố hợp lý vùng miền, ngành nghề, cơ cấu sản phẩm, cơ

cấu kinh tế cần cải tiến rút ngắn quy trình thời gian các bước trong triển khai

dự án để các DN nhanh chóng có được mặt bằng đi vào SXKD, đồng thời chú

trọng công tác tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất.

3.3.2. ChÝnh s¸ch vÒ khuyÕn khÝch ®Çu t−

Chính sách khuyến khích đầu tư cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng mở

rộng quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế nói chung và ở

các LN nói riêng. Từ đó một mặt tạo điều kiện các cơ sở SXKD, doanh

nghiệp nhanh chóng trưởng thành, nhanh chóng tận dụng thời gian để tăng

tích luỹ cho đầu tư nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, mặt khác chỉ bằng

cách mở cửa nhiều và nhanh hơn thị trường trong nước đi đôi với đổi mới các

cơ chế quản lý khác ở các LN thì mới hy vọng sản phẩm của LN cạnh tranh

với thị trường hội nhập quốc tế. Chính sách khuyến khích đầu tư cần phải

được hoàn thiện theo hướng đẩy mạnh tốc độ cải thiện môi trường đầu tư ở

các LN, coi việc cải thiện môi trường đầu tư ở các LN là công cụ chủ chốt của

chính sách khuyến khích đầu tư cho các LN, đồng thời chú ý tới định hướng

chất lượng của môi trường đầu tư ở các LN phải hơn hẳn so với các khu vực

nông thôn khác, nâng cao chất lượng các chính sách ưu đãi đầu tư của tỉnh,

nâng cao hiệu quả đầu tư của tỉnh cho LN và nâng cao hiệu quả của bộ máy

nhà nước trong việc thực thi chính sách khuyến khích đầu tư đối với LN. Một

số giải pháp cụ thể là:

- Hoàn thiện những văn bản hướng dẫn đầy đủ hơn, cụ thể hơn về một

số nội dung như: cơ chế phối hợp giữa Trung ương, địa phương và các bộ

ngành liên quan trong việc hoạch định và triển khai chính sách khuyến khích

đầu tư, đặc biệt là việc cụ thể giữa chính quyền địa phương các cấp và các sở,

ban, ngành thuộc tỉnh; quy định rõ quy trình và nguyên tắc minh bạch hoá thủ

139

tục hành chính liên quan đến đầu tư và các quy định về tăng cường thực hiện

cơ chế “một cửa liên thông” trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư; các quy

định cụ thể hoá quyền kinh doanh bình đẳng của các nhà đầu tư cũng như

hoàn chỉnh các khung khổ pháp lý về cạnh tranh, bảo hộ về tiêu chuẩn chất

lượng sản phẩm, thương hiệu v.v...; các quy định về hệ thống tiêu chí xác

định dự án đầu tư được hưởng ưu đãi theo lĩnh vực, địa bàn ưu đãi và đầu tư

có điều kiện v.v... Đồng thời địa phương cần phải rà soát loại bỏ những quy

định về khuyến khích, ưu đãi đầu tư không phù hợp, cạnh tranh không lành

mạnh giữa các địa phương, gây thiệt hại cho Nhà nước và không khuyến

khích được cho các LN phát triển như Quyết định số 60/QĐ-UBND về

khuyến khích thu hút đầu tư của tỉnh Bắc Ninh.

- Chính sách khuyến khích đầu tư cần hoàn thiện bổ sung các quy định

về quản lý gián tiếp của tỉnh đối với hoạt động của các dự án sau khi dự án đã

hoàn thành khâu đầu tư nhằm vừa tăng khả năng kiểm soát của tỉnh vừa

không tạo ra các thủ tục ban đầu nặng nề, nâng cao trách nhiệm chủ đầu tư

trong quá trình thực hiện dự án. Có các quy định riêng biệt các trường hợp

tình thế như việc gia hạn cho thuê đất, chuyển mục đích thuê đất trước đầu tư,

giao dịch thuê đất sau đầu tư v.v... Đồng thời tỉnh cũng cần thiết ban hành các

định chế đẩy mạnh thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài, đổi mới việc khuyến

khích các DN của LN đầu tư ra nước ngoài như đơn giản thủ tục đăng ký và

cấp phép, mở rộng lĩnh vực, danh mục dự án, sản phẩm... được khuyến khích

đầu tư ra nước ngoài. Nhà nước cần bổ sung chính sách có tính dài hạn về

khung khổ, ổn định cơ quan thực thi các ưu đãi đầu tư, các phương pháp kiểm

tra chất lượng công tác hành chính theo các chuẩn mực quốc tế...

- Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tạo môi trường thông thoáng

cho đầu tư: Ngoài việc hoàn thiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”,

chính sách cần giới hạn dự án đầu tư kinh doanh có điều kiện, tăng số lượng

140

các dự án của các cơ sở tại các LN không cần cấp phép. Hoàn thiện quy trình

nghiệp vụ, thông tin liên quan đến đăng ký thành lập doanh nghiệp như: xây

dựng kho dữ liệu tên DN quốc gia để tra cứu tránh nhầm lẫn tên doanh

nghiệp, thực hiện đăng ký kinh doanh qua mạng, nâng cao tính tự chịu trách

nhiệm nội dung kê khai trong hồ sơ DN, cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ ghi

nhận quyền kinh doanh của công dân, rút ngắn thời gian khắc dấu cho DN,

nâng cao kỷ cương, kỷ luật quản lý hành chính v.v...

- Hoàn thiện và đổi mới chính sách ưu đãi đầu tư như sử dụng các ưu

đãi đầu tư một cách có chọn lọc và thận trọng đưa ra các ưu đãi cụ thể sát với

điều kiện thực tế, chính sách ưu đãi phải rõ ràng, cụ thể, thực hiện đơn giản,

dễ dàng, các quy định đối tượng, điều kiện, quy trình thủ tục thực hiện ưu đãi

phải công bố công khai và đảm bảo công bằng và gắn với thời gian, không

gian cụ thể. Đặc biêt là chính sách ưu đãi phải dựa trên kết quả hoạt động của

dự án, chứ không dựa trên kế hoạch hay đề xuất trong kế hoạch của nhà đầu

tư, ví dụ như hỗ trợ ưu đãi trên cơ sở số thu nộp ngân sách hàng năm khi dự

án đi vào hoạt động. Chính sách ưu đãi đầu tư cần sử dụng đồng bộ các công

cụ về thuế, tín dụng, giá cả... trong khuôn khổ cho phép của các thông lệ quốc

tế và các cam kết hội nhập của nước ta. Tỉnh cũng cần chú trọng đúng mức

đến các chính sách hỗ trợ sau đầu tư như: cần có tổ chức của Tỉnh chịu trách

nhiệm đối thoại với DN và người quản lý dự án đầu tư để tháo gỡ những khó

khăn trong quá trình đầu tư và sau đầu tư, hỗ trợ hình thành các thiết chế hỗ

trợ hoạt động kinh doanh, giải quyết tranh chấp, cung cấp thông tin, ngăn

ngừa các hoạt động phi pháp, phát triển thị trường dịch vụ kinh doanh v.v...

- Khuyến khích và hỗ trợ thành lập các Hiệp hội, ngành nghề, các tổ

chức xã hội nghề nghiệp. Các tổ chức này thể hiện quyền làm chủ của nhân

dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, theo đúng nghĩa

là nơi nhân dân tự tổ chức, tự hoàn thiện, cùng hỗ trợ giúp nhau trong hoạt

141

động SXKD cũng như trong đời sống. Hoạt động hỗ trợ của Hiệp hội đối với

từng DN cụ thể trên nhiều lĩnh vực như: hỗ trợ về thị trường, hỗ trợ về công

nghệ tư vấn xây dựng dự án, dịch vụ tìm các nguồn tín dụng trong và ngoài

nước cho các dự án phát triển... đã thực sự trở thành chỗ dựa, người bạn đồng

hành cùng DN, là cầu nối quan trọng giữa các cơ sở SXKD trong các LN với

các cơ quan Đảng và Nhà nước. Vì vậy Nhà nước cần khuyến khích và tạo

điều kiện để các thành phần kinh tế, các loại hình SXKD hình thành và ra đời

các tổ chức Hiệp hội và Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động của

những Hiệp hội đó. Những hiệp hội đáng chú ý có thể thành lập và hoạt động

hiệu quả ở tỉnh Bắc Ninh có thể là: Hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hội DN

trẻ, Hiệp hội sắt thép, Hiệp hội đồ gỗ, Hiệp hội giấy … Để các loại hình Hiệp

hội hoạt động có hiệu quả, vấn đề cần quan tâm trước hết là Nhà nước tôn

trọng tiếng nói của người đại diện cho cộng đồng DN cùng Hiệp hội tổ chức

những cuộc đối thoại thẳng thắn về những vấn đề xuất phát từ thực tế cuộc

sống, tạo thuận lợi đến mức cao nhất cho DN phát triển SXKD, đồng thời vẫn

bảo đảm sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Thậm chí Nhà nước cho phép các

Hiệp hội cùng với các cơ quan quản lý của Nhà nước trong việc soạn thảo văn

bản pháp quy và lấy ý kiến của cộng đồng DN trước khi ban hành. Làm được

việc đó thì chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ đi vào đời sống

và nhanh chóng trở thành hiện thực. Nhà nước cũng nên từng bước chuyển

giao một số chức năng và một số dịch vụ công của các cơ quan Nhà nước

đang thừa hành cho các tổ chức Hiệp hội có thể làm được và làm tốt để các cơ

quan Nhà nước tập trung vào hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô. Việc Nhà

nước tập trung quá nhiều dịch vụ vào các cơ quan Nhà nước đã phát sinh

những tiêu cực, tham nhũng. Nhà nước cần hỗ trợ các tổ chức Hiệp hội như

tạo ra khung pháp lý, hỗ trợ một phần kinh phí trong các hoạt động xúc tiến

thương mại, xúc tiến đầu tư v.v...

142

- Đổi mới chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các làng

nghề: Các chính sách hỗ trợ đầu tư CSHT nông nghiệp nông thôn nói chung

và LN nói riêng cần phải được gom lại thành một chính sách thống nhất

không nên để rời rạc nhiều chính sách hiện nay. Chính quyền địa phương cần

hoàn thiện chính sách này theo hướng: thống nhất cơ chế hỗ trợ kinh phí từ

nguồn ngân sách tỉnh, kết hợp với nguồn vốn, ngân sách các cấp, vốn huy

động đóng góp của nhân dân, vốn tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân

khác, tạo điều kiện cho các LN, chính quyền cơ sở phát huy quyền chủ động

trong việc huy động vốn, bố trí sắp xếp danh mục và phân bổ vốn đầu tư xây

dựng kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi phù hợp với quy định về phân

cấp đầu tư và phân cấp quản lý ngân sách, khắc phục các hạn chế về chính

sách vừa cồng kềnh, nhiều thủ tục, khó thực hiện và thiếu chặt chẽ, quy định

thống nhất hỗ trợ theo tỷ lệ (%) tính trên giá trị quyết toán được cấp có thẩm

quyền phê duyệt, tăng cường vai trò giám sát của các đoàn thể và quần chúng

nhân dân trong công tác đầu tư xây dựng CSHT nhằm đảm bảo sự minh bạch,

hiệu quả vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các LN. Nhà nước

cần ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế phục vụ tăng trưởng hiệu

quả như là hệ thống giao thông, điện nước, thông tin liên lạc, hạ tầng thương

mại v.v... ở các LN, nhất là các LN mũi nhọn có sản lượng lớn, tốc độ phát

triển nhanh và các LN gắn liền với các sản phẩm du lịch - văn hoá, gắn liền

với các lễ hội truyền thống, di tích lịch sử văn hoá... đồng thời cũng khuyến

khích, ưu đãi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng CSHT dưới

nhiều hình thức như BOT, BT, BO v.v... tỉnh cần đầu tư kinh phí cho việc xây

dựng quy hoạch các khu, cụm công nghiệp LN và hỗ trợ đầu tư xây dựng

CSHT các khu, cụm công nghiệp này khắc phục tình trạng sản xuất manh

mún, phân tán ở các LN, trước mắt là ở các làng Đa Hội, Đồng Kỵ, Phong

Khê, Mẫn Xá, Đại Bái v.v...

143

3.3.3. ChÝnh s¸ch vÒ th−¬ng m¹i, thÞ tr−êng

Đổi mới cơ chế chính sách phát triển thương mại thị trường có ý nghĩa

đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển hay suy vong của các LN. Cơ

chế chính sách phát triển thương mại, thị trường đối với các LN cần phải: tiếp

tục ưu tiên cho xuất khẩu, phát triển sản xuất, thu hút lao động, thúc đẩy tăng

trưởng GDP, gắn kết thị trường trong nước với thị trường nước ngoài nhưng

phải lấy phát triển tổng thể thị trường trong nước làm tiền đề, cơ sở để mở

rộng và phát triển thị trường ra nước ngoài; lấy việc phát huy những đặc

điểm, nguồn lực thuận lợi của các LN và những sản phẩm có lợi thế cạnh

tranh của LN để làm phương châm đổi mới chính sách thương mại, thị trường

đối với LN, đa dạng hoá các loại thị trường nhưng cần phải chú ý đến các thị

trường trọng điểm. Tiếp tục tổ chức lại thị trường trong nước, đồng thời chủ

động hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới trên cơ sở giữ vững độc lập

tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ phương hướng hoàn thiện chính

sách thương mại, thị trường này, trong thời gian tới cần thực hiện một số giải

pháp cơ bản sau:

- Hoàn thiện chính sách về tổ chức thị trường nội địa nhằm tạo ra các

mô hình tổ chức thị trường và các kênh lưu thông hàng hoá đa dạng cho các

LN: xây dựng và phát triển các mô hình tổ chức thị trường phù hợp với từng

địa bàn và từng mặt hàng như có thể tổ chức lưu thông liên kết dọc theo

ngành, nhóm hoặc mặt hàng với nhiều loại hình thương nhân thuộc các thành

phần kinh tế mà nòng cốt là các doanh nghiệp lớn có khả năng tích tụ và tập

trung vốn, có hệ thống tổ chức kinh doanh, có mạng lưới mua bán gắn với sản

xuất và tiêu dùng, có mối liên kết ổn định và lâu dài với sản xuất. Đối với

những DN này Nhà nước cần phải hoàn thiện các cơ chế chính sách hiện hành

và các giải pháp khác nhằm hỗ trợ, khuyến khích họ tích cực phát triển mạng

lưới, thực hiện các phương thức mua bán theo hợp đồng, theo đơn đặt hàng và

144

qua đại lý, đẩy mạnh việc cung ứng, nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm cho

các LN. Đồng thời cũng cần rà soát, hoàn chỉnh chính sách đầu tư, tín dụng,

bảo hiểm để các đơn vị này có điều kiện củng cố, mở rộng kinh doanh, đảm

bảo nguyên vật liệu, hàng hoá ứng trước, hỗ trợ và chuyển giao kỹ thuật,

thanh toán tiền hàng cho các bên thực hiện hợp đồng và các bên nhận làm đại

lý. Trước mắt cần tập trung hỗ trợ, khuyến khích phát triển các hệ thống phân

phối hàng hoá có lợi thế và sản lượng lớn ở tỉnh Bắc Ninh như các mặt hàng

đồ gỗ ở Đồng Kỵ, Phù Khê sắt thép ở Đa Hội, đồng mỹ nghệ ở Đại Bái v.v…

- Hoàn thiện chính sách xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm

làng nghề: thương hiệu là điều kiện cần thiết để thu hút vốn đầu tư phát triển

sản xuất, là cơ sở để mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng mới đồng thời

là một tác nhân cần thiết cho sự vận hành của cơ chế thị trường. Các chính

sách về thương hiệu cần phải rỡ bỏ những hạn chế với đầu tư cho thương

hiệu, Nhà nước không nên khống chế tỷ lệ % trên doanh thu để chi phí cho

các hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu. Đồng thời Nhà nước cần

nghiên cứu và xây dựng khung pháp lý các văn bản hướng dẫn về định giá tài

sản vô hình của DN như việc xây dựng và ban hành hệ thống các phương

pháp đánh giá tài sản thương hiệu nhằm thúc đẩy các DN tích cực xây dựng

và phát triển thương hiệu. Mặt khác cũng cần phải tăng cường quản lý Nhà

nước về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và thương hiệu nói riêng theo

hướng xem xét và nâng các mức chế tài xử lý các vi phạm về thương hiệu.

Nhà nước cũng cần hỗ trợ nâng cao nhận thức về vai trò LN và các sản phẩm

của LN như có thể đưa các nội dung giáo dục lòng tự hào LN và sản phẩm

độc đáo của LN hay tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng

nhằm góp phần quảng bá thương hiệu và tiếp thị.

- Hoàn thiện chính sách xúc tiến thương mại, thông tin và tiếp thị: Tỉnh

cần chú trọng và tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, kinh phí và con người

145

cho các tổ chức xúc tiến thương mại, các trung tâm giới thiệu, quảng bá hàng

hoá ở địa phương để đẩy mạnh xúc tiến thương mại đặc biệt là trung tâm xúc

tiến thương mại của Sở Công thương hiện nay. Quy định các cơ chế phối hợp

giữa hệ thống xúc tiến thương mại với các hệ thống khuyến khích xúc tiến tư

vấn, đầu tư, hệ thống khuyến nông, khuyến lâm… để cung cấp thông tin và

dự báo thị trường trong và ngoài nước đối với những mặt hàng của các LN,

các thông tin về thị hiếu, chính sách thuế, phí thuế, các yêu cầu về tiêu chuẩn,

chất lượng hàng hoá của khách hàng để định hướng sản xuất cho các LN làm

ra các sản phẩm phù hợp, có sức cạnh tranh cao, tìm kiếm, chắp lối bạn hàng,

giới thiệu đối tác, quảng cáo triển lãm cho các sản phẩm LN. Xây dựng và kết

nối mạng thông tin giữa các cơ quan xúc tiến thương mại các cấp và các cơ sở

lớn ở các LN. Thành lập các điểm thông tin thị trường tại các chợ đầu mối ở

nông thôn, các trung tâm sản xuất ngành nghề ở các LN: tiếp tục thực hiện

mở rộng đối tượng, hình thức, nâng cao mức hỗ trợ của các hoạt động hội

chợ, triển lãm, hội thảo… trong và ngoài nước, các đơn vị, cá nhân tổ chức

cũng như các DN, cơ sở SXKD có sản phẩm tham gia, trong đó đáng chú ý là

các điểm như Phong Khê, Châu Khê, Đồng Kỵ, Đại Bái, Văn Môn ... Nhà

nước cũng cần xây dựng cơ chế hỗ trợ về thông tin, đặc biệt là các thông tin

về thị trường xuất khẩu trên các kênh cung cấp thông tin: sách, báo, truyền

thanh, truyền hình, Website… cũng như chế độ thưởng cho các tổ chức, cá

nhân có công khai thác thị trường, quảng bá sản phẩm của các LN. Đồng thời

trong khuôn khổ của WTO cần phải có những hỗ trợ về tài chính trong giai

đoạn đầu của việc xây dựng và bảo hộ thương hiệu hàng hoá của DN.

- Thống nhất và cụ thể hoá các chính sách công nhận và tôn vinh các làng

nghề và các nghệ nhân làng nghề nhằm giáo dục nâng cao ý thức người dân và

quốc tế biết đến sản phẩm LN và các LN độc đáo ở nước ta. Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn cần cụ thể hơn nữa tiêu chuẩn LN theo tinh thần Nghị định

146

66/2006/NĐ-CP của Chính phủ để UBND các tỉnh ra quyết định công nhận LN.

Đối với các nghệ nhân, Bộ Văn hoá thể thao và du lịch chủ trì phối hợp với các

Hiệp hội, Bộ ngành liên quan ban hành tiêu chuẩn nghệ nhân, nghệ nhân ưu tú,

nghệ nhân nhân dân và ra quyết định công nhận. Việc công nhận LN, nghệ nhân

phải được thực hiện định kỳ thường xuyên như các danh hiệu vinh dự nhà nước

khác. Đặc biệt là Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho các nghệ

nhân như: khi công nhận ngoài giấy chứng nhận, biểu trưng, huy hiệu cần có tiền

thưởng xứng đáng. Hỗ trợ các loại thuế trong hoạt động truyền và dạy nghề; hỗ

trợ các chi phí tập huấn, chi phí tham gia hỗ trợ triển lãm các sản phẩm do chính

nghệ nhân làm ra; được vay ưu đãi hoặc hỗ trợ lãi suất để đầu tư nghiên cứu chế

thử sản phẩm mới, sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao .v.v….

- Hoàn thiện tổ chức và quản lý các hiệp hội ngành nghề: Nhà nước cần

xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động của các hiệp hội ngành nghề từ việc cụ

thể hoá quyền xác lập, thành lập, sát nhập, giải thể, quyền và nghĩa vụ pháp lý

của hiệp hội, cũng như thể chế hoá các mối quan hệ phối hợp giữa các hiệp hội

LN với các cơ quan chính quyền, thúc đẩy các hình thức liên kết doanh nghiệp,

cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thâm nhập, phát triển thị trường, tạo điều kiện cho

doanh nghiệp thông qua các hiệp hội tham gia xây dựng và hoàn thiện cơ chế

chính sách. Tỉnh cũng cần có chính sách tạo điều kiện cho các hiệp hội phát huy

được vai trò của họ như giao hoặc đặt hàng cho các hiệp hội tham gia tích cực

hơn vào các chương trình phát triển KT - XH nói chung và ngành nghề, LN nói

riêng, tham gia tư vấn, phản biện, xây dựng, đóng góp có các chính sách chế độ

có liên quan. Đồng thời tỉnh cũng cần có các chính sách giúp đỡ cụ thể cho các

hiệp hội trong những bước đi ban đầu như đào tạo, tập huấn cán bộ làm công tác

hiệp hội, tăng cường phổ biến pháp luật đối với hiệp hội, hỗ trợ kinh phí để hiệp

hội xúc tiến thương mại, hỗ trợ tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trụ sở, trang thiết

bị cho các hiệp hội phát huy tốt vai trò của mình.

147

- Đổi mới chính sách xuất, nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế:

Trước tiên cần phải xây dựng hoàn chỉnh cơ chế điều hành xuất nhập khẩu

hàng hoá ổn định, lâu dài trong thời gian tới trên cơ sở chính sách pháp luật

hiện có, lộ trình đã cam kết trong hội nhập quốc tế và tình hình thực tế hoạt

động SXKD và xuất nhập khẩu thời gian vừa qua. Đặc biệt là việc tiếp tục

đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại: xoá bỏ thủ tục

phiền hà, công khai, minh bạch, ổn định môi trường pháp lý, bảo hộ hợp lý có

chọn lọc những mặt hàng lợi thế bằng các công cụ phù hợp với các cam kết

quốc tế: rà soát lại các quy định hiện hành để loại bỏ các quy định không còn

phù hợp, chồng chéo thay thế bằng các quy định mới như các danh mục hàng

hoá xuất nhập khẩu đầy đủ, rõ ràng, phù hợp với quy định của WTO và các

cam kết quốc tế, hoàn thiện các chính sách biện pháp tạo thuận lợi và bảo hộ

cho các DN trong nước nói chung và ở các LN nói riêng được quốc tế thừa

nhận như hạn ngạch thuế quan, quy chế xuất xứ, các biện pháp chống bán phá

giá, chống trợ cấp, chính sách cạnh tranh, quy chế đối xử quốc gia trong

thương mại quốc tế v.v… Song song với vận dụng linh hoạt các định chế của

WTO, cần phải ban hành các chính sách hỗ trợ xuất khẩu phù hợp với quy

định về trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nông nghiệp nhằm giúp các doanh

nghiệp, cơ sở SXKD ở các LN trong các khâu đào tạo nguồn nhân lực, nghiên

cứu khoa học, công nghệ mới, xúc tiến thương mại v.v… Đồng thời Nhà nước

cần rà soát hàng rào kỹ thuật của các nước để tuyên truyền phổ biến, nâng cao

nhận thức của các nhà sản xuất, xuất khẩu trong nước về rào cản các nước

nhằm tránh những rủi ro trong quá trình sản xuất và xuất khẩu.

- Hoàn thiện chính sách nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác

quản lý thị trường: tập trung nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống buôn

lậu và gian lận thương mại. Đặc biệt là kiểm soát và ngăn chặn hàng hoá Trung

Quốc buôn lậu qua tuyến Lạng Sơn, Quảng Ninh về Hà Nội qua Bắc Ninh. Kết

148

hợp giữa hướng dẫn, tổ chức thực hiện với kiểm tra các hoạt động của các

thương nhân trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về thương mại, xử

lý các sai phạm kịp thời, nghiêm minh. Tiếp tục rà soát sửa đổi, bổ sung các

chính sách về quản lý thị trường cho phù hợp với các luật sửa đổi, các luật mới

ban hành trong quá trình hội nhập WTO. Có chính sách quan tâm đến lực lượng

quản lý thị trường như củng cố về mặt tổ chức, đầu tư, bổ sung trang thiết bị

chuyên ngành, đào tạo cán bộ, có chế độ đãi ngộ thoả đáng…

3.3.4. ChÝnh s¸ch vÒ thuÕ

Chính sách thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối

với các nền kinh tế phải vừa động viên được nguồn lực đồng thời thúc đẩy

phát triển nhanh sức sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư,

khuyến khích đổi mới công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát

triển kinh tế bền vững, nâng cao đời sống nhân dân. Chính sách thuế vừa phải

đảm bảo huy động đầy đủ nguồn thu vào ngân sách nhà nước đáp ứng nhu cầu

chi ngân sách nhà nước phục vụ CNH, HĐH đất nước nhưng đồng thời phải

khoan sức dân, tạo điều kiện cho họ tích luỹ, tăng khả năng đầu tư phát triển.

Chính sách thuế cũng cần phải phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,

thực hiện bảo hộ hợp lý, có chọn lọc, có thời hạn, có điều kiện, tăng sức cạnh

tranh của nền kinh tế để thúc đẩy phát triển SXKD. Chính sách thuế phải tạo

môi trường pháp lý bình đẳng, công bằng, không phân biệt các thành phần

kinh tế khác nhau. Hệ thống thuế phải được cải cách đơn giản, minh bạch,

công khai, tách dần chính sách xã hội ra khỏi chính sách thuế, nhanh chóng

hiện đại hoá và nâng cao năng lực bộ máy quản lý thuế. Từ định hướng đó,

một số giải pháp hoàn thiện chính sách thuế là:

- Hoàn thiện thuế giá trị gia tăng: Đây là sắc thuế chủ yếu chiếm tỷ

trọng cao trong hệ thống chính sách thuế cũng như trong cơ cấu thực hiện

nghĩa vụ ngân sách nhà nước ở các LN. Đối với sắc thuế này cần phải rà soát

149

lại các nhóm hàng hoá dịch vụ để giảm bớt số nhóm hàng hoá dịch vụ không

chịu thuế tạo điều kiện cho việc tính thuế, khấu trừ thuế được liên hoàn giữa

các khâu trong quá trình SXKD, áp dụng một mức thuế xuất để đảm bảo công

bằng về nghĩa vụ thuế và đơn giản trong việc tính thuế. Hoàn thiện phương

pháp tính thuế, tiến tới xác định ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng

để thực hiện một phuơng pháp tính thuế khấu trừ, phù hợp với thông lệ quốc

tế. Quá trình hoàn thiện trên được diễn ra theo lộ trình nhất định từ luật sửa

đổi bổ sung một số điều của luật thuế giá trị gia tăng năm 2003 (kỳ họp thứ

III, quốc hội khoá XI) đến luật thuế giá trị gia tăng năm 2005 (kỳ họp thứ

VIII, quốc hội khoá XI). Trong giai đoạn tiếp theo cần tiếp tục chuyển một số

đối tượng không chịu thuế sang đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, áp dụng

thống nhất mức thuế xuất khoảng 10%, phương pháp tính thuế hoàn thiện

hiệu quả, công bằng hơn.

- Hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp: Đây là thuế trực thu vào kết

quả SXKD. Trong giai đoạn hiện nay năng suất, hiệu quả và mức tích luỹ của

nền kinh tế nói chung và LN ở nước ta nói riêng còn thấp so với khu vực và

quốc tế, quy mô các cơ sở SXKD còn nhỏ, công nghệ lạc hậu v.v… Vì vậy để

nền kinh tế nói chung và các LN nói riêng phát triển bền vững thì giải pháp hoàn

thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp là phải giảm mức thuế suất, giảm

diện miễn giảm thuế, thống nhất mức thuế suất và ưu đãi thuế giữa các thành

phần kinh tế để kích thích đầu tư và đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh. Luật

thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi năm 2003 cũng đã cải cách theo hướng đó

nhưng chưa toàn diện và đồng bộ. Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp trong

thời gian tới cần được hoàn thiện một cách toàn diện theo hướng đề xuất là:

chuyển các hộ SXKD cá thể, cá nhân hành nghề độc lập, cá nhân có tài sản cho

thuê sang áp dụng thuế thu nhập cá nhân, giảm mức thuế suất thuế thu nhập

doanh nghiệp phổ thông từ 28% xuống 25% và có thể áp dụng mức thấp hơn cho

150

các năm tiếp theo, chuyển các ưu đãi miễn, giảm thuế để thực hiện các chính

sách xã hội sang thực hiện các biện pháp tài chính khác.

- Hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu và các công cụ bảo hộ

khác: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu vào các hoạt động xuất

nhập khẩu hàng hoá dịch vụ. Các giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới là

tiếp tục khuyến khích tối đa cho xuất khẩu, sửa đổi các quy định về thuế xuất,

giá tính thuế, thời hạn nộp thuế để thực hiện cam kết và thông lệ quốc tế, sửa

đổi quy trình, thủ tục nộp thuế cho phù hợp với luật hải quan, góp phần tăng

cường quản lý hoạt động xuất nhập khẩu theo cam kết quốc tế. Tiếp tục cắt

giảm thuế suất bằng 0% theo đúng lộ trình cam kết, đồng thời thu gọn mức

thuế nhập khẩu (nên khoảng 5 mức), xoá bỏ hoàn toàn việc miễn, giảm thuế

nhập khẩu. Mặt khác cần nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện và ban hành các

loại thuế mang ý nghĩa tự vệ như: thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp

đối với hàng hoá của các nước ngoài bán phá giá, trợ cấp vào thị trường Việt

Nam để bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước nói chung và các LN nói riêng,

áp dụng thuế chống phân biệt đối xử đối với hàng hoá nhập khẩu của nước

ngoài trong trường hợp phía nước ngoài phân biệt đối xử đối với hàng hoá

xuất khẩu của Việt Nam.

- Hoàn thiện thuế tài nguyên: Đây là loại thuế thu vào việc khai thác,

sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nên có ảnh hưởng khá lớn đến các LN do các

đặc điểm vốn có của các LN. Vì vậy hướng hoàn thiện là phải tăng cường bảo

vệ môi trường, khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả.

Các giải pháp cụ thể là: nên mở rộng diện chịu thuế tài nguyên trên nguyên

tắc tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên khai thác đều chịu thuế, tính thuế

trên sản lượng khai thác để khuyến khích khai thác tài nguyên tiết kiệm, hiệu

quả. Mức thuế xuất được phân biệt: tài nguyên không tái tạo lại được chịu

mức thuế cao hơn tài nguyên tái tạo được, tài nguyên quý hiếm chịu mức thuế

151

cao hơn tài nguyên thông thường, giá tính thuế là giá bán tài nguyên thương

phẩm tại nơi khai thác, hạn chế việc miễn giảm thuế tài nguyên.

- Hoàn thiện các chính sách thu từ đất đai (thuế sử dụng đất):

Các chính sách thuế liên quan đến đất đai phải góp phần quản lý, sử

dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả. Giải pháp cụ thể đề xuất là:

+ Đối với thuế sử dụng đất: Mọi tổ chức cá nhân sử dụng đất đều phải

nộp thuế sử dụng đất (trừ trường hợp thuê đất). Đất sử dụng vào mục đích

kinh doanh phải điều tiết cao hơn đất ở; đất ở, đất xây dựng công trình thu cao

hơn đất sử dụng mục đích nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản. Căn cứ tính

thuế là: diện tích, giá tính thuế, thuế xuất. Giá tính thuế xác định theo giá các

loại đất sát với giá thị trường do luật đất đai quy định.

+ Đối với thu tiền sử dụng đất khi giao quyền sử dụng đất và thu tiền

thuê đất xác định phù hợp với giá thực tế chuyển nhượng quyền sử dụng đất,

chuyển nhượng quyền thuê đất trên thị trường. Quy định và mở rộng các hình

thức đấu giá công khai, minh bạch để thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất.

+ Đối với thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, quyền thuê đất phải có

biện pháp điều tiết theo hướng: bỏ thuế chuyển quyền sử dụng đất. Thu nhập từ

chuyển quyền sử dụng đất, quyền thuê đất của các cơ sở SXKD sau khi nộp thuế

thu nhập doanh nghiệp, phần thu nhập còn lại phải nộp thuế bổ sung theo mức

luỹ tiến từng phần. Thu nhập từ chuyển nhượng đất của cá nhân không kinh

doanh phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh nhà đất

phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Tiếp tục hoàn thiện chính sách phí, lệ phí: Phí, lệ phí là khoản thu bù

đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí cung cấp dịch vụ công cho các tổ chức cá

nhân. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện là; tiếp tục rà soát, bãi bỏ các loại phí,

lệ phí không hợp lý, gây cản trở và gánh nặng chi phí đầu vào của SXKD, gây

phiền hà cho sản xuất và đời sống. Các loại phí thu do cung cấp dịch vụ sẽ

152

chuyển sang giá dịch vụ, các loại phí lệ phí mang tính chất thuế sẽ chuyển dần

thành thuế, thống nhất mức thu phí đối với các tổ chức cá nhân trong nước và

nước ngoài để thực hiện công bằng xã hội, xây dựng mức thu phí, lệ phí hợp

lý giảm chi phí đầu vào cho SXKD và xuất khẩu.

- Hoàn thiện và ban hành một số chính sách thuế khác:

+ Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt: Hướng hoàn thiện là mở rộng đối

tượng chịu thuế, điều chỉnh thuế xuất phù hợp với mục tiêu điều tiết thu nhập

và hướng dẫn tiêu dùng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Tiến tới xoá bỏ miễn

giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đảm bảo công bằng nghĩa vụ nộp thuế và nguyên

tắc không phân biệt đối xử giữa sản xuất trong nước và nhập khẩu. Trước mắt

bổ sung đối tượng nộp thuế và thuế xuất một số hàng hoá dịch vụ tiêu dùng

cao cấp và nhập ngoại nhằm điều tiết thu nhập người tiêu dùng, hạn chế họ sử

dụng tích luỹ tiêu dùng xa xỉ, khuyến khích đầu tư tích luỹ cho SXKD.

+ Đối với thuế thu nhập cá nhân cần nhanh chóng hoàn chỉnh để ban

hành theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế liên

quan đến thu nhập các hộ SXKD, người hành nghề độc lập, người có tài sản

cho thuê, có thu nhập từ việc cho vay vốn, thu nhập từ lãi cổ phần, trái phiếu,

hạ mức khởi điểm chịu thuế và thuế xuất hợp lý, cho phép khấu trừ chi phí tạo

ra thu nhập, thuế xuất theo mức luỹ tiến từng phần với tổng điều tiết cao hơn

mức điều tiết của thuế thu nhập doanh nghiệp (khoảng 30%) nhằm ưu đãi đối

với phát triển SXKD và đòi hỏi các cá nhân trong các LN tiết kiệm đóng góp

xây dựng tổ quốc đồng thời khuyến khích họ thành lập DN mở rộng SXKD.

+ Đối với thuế bảo vệ môi trường là loại thuế thu vào các đối tượng gây ô

nhiễm môi trường nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, chống chuyển dịch công

nghệ “bẩn” vào Việt Nam và tạo lập quỹ bảo vệ môi trường cần phải nhanh

chóng hoàn thiện và ban hành nhằm góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm môi

trường nghiêm trọng ở các LN hiện nay. Nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường

chỉ dùng cho bảo vệ môi trường, không dùng cho việc khác.

153

- Đổi mới chính sách quản lý thuế theo hướng hiện đại hoá toàn diện

công tác quản lý thuế: kiểm soát đối tượng chịu thuế, nộp thuế, hạn chế thất

thu thuế, ở các LN. Do vậy, nhà nước cần tăng cường đầu tư cho công tác

truyền thông, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành chính sách thuế của người

dân; đầu tư, khuyến khích phát triển các dịch vụ tư vấn thuế, công tác hạch

toán kế toán, quản lý hoá đơn chứng từ, quy trình, thủ tục nộp thuế…; Tích

cực thực hiện luật quản lý thuế quy định rõ nhiệm vụ, nghĩa vụ, trách nhiệm

của các bên tham gia vào quá trình quản lý thuế, cụ thể các chế tài xử lý và

cưỡng chế thuế đối với các hành vi sai phạm chính sách thuế; tăng cường

công tác thanh tra, kiểm tra về chấp hành chính sách thuế của các bên liên

quan, triển khai tích cực việc áp dụng công nghệ thông tin vào hầu hết các

khâu quản lý thuế, kiểm tra tờ khai, đối chiếu hoá đơn, xác định nợ đọng,

thông báo phạt, quản lý hoá đơn chứng từ trên máy, cung cấp dịch vụ thuế

qua mạng. Thiết lập mạng khai báo làm thủ tục hải quan trong cả nước, kết

nối tin học giữa các cơ quan thu liên quan và các DN, cơ sở SXKD. Đồng

thời kiện toàn công tác quản lý và hệ thống quản lý thu thuế theo hướng cải

cách hành chính thuế, nâng cao quyền hạn, trách nhiệm và hiệu lực bộ máy

quản lý thuế, mở rộng uỷ nhiệm thu một số khoản thu cho chính quyền cơ sở

nhằm chống thất thu và giảm chi phí quản lý thuế.

3.3.5. ChÝnh s¸ch vÒ tÝn dông

Do đặc điểm của LN các cơ sở SXKD chủ yếu là các hộ và các DN nhỏ

và vừa nên khả năng tích tụ vốn hạn chế. Vì vậy hoàn thiện chính sách tín

dụng phải cải tiến các điều kiện vay vốn đảm bảo cung cấp đủ vốn cho các

DN, cơ sở SXKD ở các LN đầu tư mở rộng SXKD, hộ SXKD tiếp cận được

dễ dàng với các nguồn vốn, khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề, LN

trọng điểm có lợi thế ở địa phương, đồng thời góp phần hình thành thị trường

vốn ở nông thôn nói chung và các LN nói riêng. Vì vậy cần:

154

- Đổi mới tư duy về việc sử dụng thế chấp là công cụ chính trong chính

sách cho vay của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Mở

rộng các hình thức xem xét cho vay không cần thế chấp, đồng thời xoá bỏ

việc hình sự hoá các quan hệ tín dụng của ngân hàng, tổ chức tín dụng với các

hộ SXKD, các DN ở LN. Mặt khác Nhà nước nên có định chế chính sách

nhằm chuyển vai trò của ngân hàng từ DN cho vay sang nhà đầu tư. Tức là

hoạt động tín dụng ngân hàng sẽ cùng các hộ cơ sở SXKD, DN để đầu tư

SXKD, cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro trong SXKD. Vì vậy cũng rất cần nhanh

chóng hình thành đầy đủ khung pháp lý để thúc đẩy các ngân hàng thương

mại tăng cường liên kết với các DN, cơ sở, hộ kinh doanh sử dụng vốn ngân

hàng thương mại để đầu tư SXKD, kể cả đầu tư trung và dài hạn, từ đó thúc

đẩy nhu cầu vay vốn và tính toán sử dụng vốn có hiệu quả ở các LN.

- Hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi hiệu quả, phù hợp với kinh tế

thị trường và các cam kết trong hội nhập kinh tế thế giới.

Chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước cần hỗ trợ đúng đối tượng

theo quan điểm thị trường hoá nguồn cung cấp vốn cho tất cả các dự án đầu tư

trong nền kinh tế. Nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng gặp khó khăn khi tiếp

cận thị trường tín dụng chính thức. Đồng thời đưa ra chỉ tiêu về số người

được hưởng lợi từ vốn vay tín dụng ưu đãi càng lớn thì càng được tạo điều

kiện cho vay ưu đãi nhằm sử dụng đúng hướng nguồn vay theo chính sách ưu

đãi. Theo đó chính sách tín dụng cần tập trung hỗ trợ tín dụng cho các DN

nhỏ và vừa, hộ kinh doanh chuyển đổi cơ cấu kinh doanh, các dự án đầu tư

CSHT… và đặc biệt là các dự án SXKD ở các LN theo đúng ngành nghề

chính của LN, các dự án về bảo vệ môi trường LN, CSHT LN … Nhà nước

cần hoạch định chương trình tổng thể hỗ trợ phát triển các LN trong đó có các

DN vừa và nhỏ là chính, lấy tín dụng ưu đãi là công cụ hỗ trợ để từ đó có thể

hình thành các quỹ tín dụng phục vụ riêng cho các LN mang tính chuyên

155

nghiệp và có một số chính sách đặc thù ưu đãi ngoài lãi suất như: ưu đãi phí

dịch vụ, ưu đãi cung cấp ngoại tệ, ưu đãi theo uy tín của khách hàng, đơn giản

hoá thủ tục và cung cấp miễn phí thông tin đến các đối tượng ưu tiên để họ có

điều kiện hưởng thụ tín dụng ưu đãi.

- Tăng cường chính sách cải thiện chất lượng thị trường tín dụng để

các nhà đầu tư ở các LN có được lượng vốn cần thiết và chi phí thấp:

Hệ thống ngân hàng cần tiếp tục hiện đại hoá mạng lưới công nghệ

thông tin nhằm tăng hiệu quả hoạt động, giảm thiểu tối đa các rủi ro, hạ thấp

chi phí dịch vụ ngân hàng và lãi suất. Xây dựng hệ thống đăng ký thế chấp

nội mạng toàn quốc để tạo điều kiện thuận lợi cho DN, phòng chống hành vi

lừa đảo, lạm dụng trong hoạt động thế chấp. Nhà nước cũng cần khuyến khích

các hình thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố các giấy tờ có giá như trái

phiếu, chứng chỉ tiền gửi … của các tổ chức tín dụng vì khi đó các tổ chức tín

dụng sẽ tiết kiệm thời gian công sức quan tâm đến khả năng tài chính của

khách hàng mà chỉ cần tập trung đánh giá tình hình tài chính của các đơn vị

phát hành.

Nhà nước cũng cần có những chính sách để mở rộng, phát triển thị

trường cho thuê tài chính. Tín dụng thuê mua là một hình thức quan trọng của

đầu tư, là biện pháp thay thế vốn ngân hàng, giúp cho các cơ sở SXKD ít vốn

hoặc không có tài sản thế chấp dễ dàng có tài sản để tiến hành SXKD.

Nhà nước cũng cần khuyến khích các ngân hàng mở rộng hệ thống của

mình ở các LN, cho phép các NH được sử dụng hộ cá thể làm đại lý trong việc

cho vay ở các LN. Mặt khác cũng cần phân luồng vốn với một tỷ lệ thích hợp

cho các LN, các ngành nghề, sản phẩm trọng điểm, có lợi thế cạnh tranh để đáp

ứng nhu cầu vốn. Định kỳ phân tích tình hình thị trường vốn nhằm hướng dẫn,

bổ sung, sửa đổi các quy định về vay và cho vay phù hợp và khuyến khích đầu

tư vào các LN như lãi suất, thời gian vay, thủ tục vay, mức cho vay v.v…

156

Nhà nước cần đa dạng hoá các loại hình hoạt động và tổ chức của hệ

thống tín dụng, cho phép nhiều thành phần kinh tế tham gia, đồng thời thể chế

hoá các quy định về các loại hình kinh doanh tín dụng. Khuyến khích phát

triển các loại quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng, các quỹ chuyên dụng… để

đưa vốn về các LN.

Nhà nước cũng cần nhanh chóng rà soát, nghiên cứu để hoàn thiện các thể

chế pháp lý nhằm phát triển thị trường tín dụng phi chính thức bằng các quy định

chặt chẽ hơn và thực hiện các quy định đó một cách nghiêm khắc, nhất quán hơn

để bảo vệ lợi ích của các chủ thể có liên quan, đặc biệt là người có vốn.

- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn cho các hộ SXKD,

DN trong các LN: do yếu thế về quy mô nên các cơ sở SXKD ở các LN

thường khó tiếp cận với vốn, chủ yếu là do không đủ tài sản thế chấp. Nhà

nước cần sớm thành lập các quỹ đầu tư phát triển ở các địa phương từ nhiều

các nguồn vốn khác nhau để giải quyết cho vay đối với các dự án SXKD, đầu

tư CSHT LN và các dự án thuộc các lĩnh vực ưu tiên phát triển theo định

hướng của địa phương. Tỉnh Bắc Ninh cần khẩn trương kiện toàn và tăng

cường năng lực, đặc biệt là vốn cho Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DN nhỏ và

vừa: thông qua quỹ này các cơ sở SXKD ở các LN có thể tiếp cận được các

nguồn vốn tín dụng đồng thời cũng chia sẻ rủi ro cho các ngân hàng thương

mại. Ngoài việc bảo lãnh tín dụng còn là nơi cung cấp thông tin, trung gian tổ

chức đối thoại để các đối tác hiểu biết lẫn nhau… Bên cạnh đó Nhà nước cần

hoàn thiện thể chế nhằm xây dựng và mở rộng hoạt động của các quỹ đầu tư

rủi ro, các công ty kinh doanh và khai thác nợ với các thành phần kinh tế

được tham gia quản lý. Các cơ quan chức năng của tỉnh, đặc biệt là các trung

tâm khuyến công, khuyến nông, xúc tiến thương mại, trung tâm thông tin tín

dụng… coi trọng việc cung cấp thông tin cần thiết cho các DN tiếp cận được

các nguồn vốn nước ngoài.

157

Tỉnh cũng cần sớm xây dựng, phê duyệt, thành lập Quỹ Đầu tư phát

triển theo Nghị định số 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2007 của Chính phủ về

tổ chức và hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương nhằm huy động

các nguồn lực cho đầu tư phát triển ở địa phương, trong đó chú trọng đến

LN, đặc biệt là các hoạt động đầu tư trực tiếp hoặc cho vay đầu tư các dự

án liên quan đến phát triển LN và góp phần thành lập các DN ở các LN để

làm động lực phát triển các ngành nghề ở các LN.

Nhà nước cần khẩn trương nghiên cứu, thành lập mô hình trung tâm

thông tin tín dụng tư nhân nhằm bổ trợ cho các trung tâm tín dụng Nhà

nước. Các trung tâm thông tin tín dụng tư nhân thu thập thông tin và lưu

giữ thông tin trên phạm vi rộng hơn nhiều, bao gồm các khoản vay của DN

và của các hộ tư nhân. Được sự đồng ý của người đi vay, các ngân hàng sẽ

được tiếp cận các thông tin tín dụng của các đối tượng này để đánh giá mức

độ rủi ro, trên cơ sở đó đưa ra lãi suất phù hợp, vì thế nó mang lại lợi ích

cho cả người đi vay và cả ngân hàng. Để hình thành trung tâm thông tin tín

dụng tư nhân cần thiết phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý phù hợp, có

sự tham gia của các đối tác liên quan và sự hợp tác giữa khu vực công - tư

và sự hiểu biết của toàn xã hội. Trước mắt cần hoàn thiện các chính sách

liên quan đến bảo mật trong ngân hàng, bảo vệ dữ liệu và bảo vệ người tiêu

dùng. Trong đó những nhân tố pháp lý quan trọng cần thiết tạo điều kiện

cho trung tâm thông tin tín dụng tư nhân hoạt động là: trách nhiệm báo cáo

và quyền truy cập thông tin phải được áp dụng không chỉ đối với các định

chế tài chính mà cần áp dụng cho cả các công ty viễn thông, công ty thu

hồi nợ, các công ty cung cấp dịch vụ hạ tầng v.v..; cho phép cung cấp cả

thông tin tích cực và thông tin tiêu cực; thời gian lưu giữ thông tin, cơ chế

sửa chữa thông tin, các quyền kiểm tra thông tin v.v…

158

3.3.6. ChÝnh s¸ch vÒ khoa häc c«ng nghÖ

Từ thực tế tình hình các LN hiện nay, có thể thấy khoa học công nghệ

là một nhân tố vô cùng quan trọng có tính đột phá nhằm phát triển các LN

theo hướng CNH, HĐH nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế

thế giới. Việc hoàn thiện các chính sách khoa học công nghệ phải kết hợp

được hài hoà giữa nghiên cứu và phát triển với ứng dụng và chuyển giao

khoa học công nghệ, kết hợp giữa công nghệ hiện đại, tiên tiến với những

công nghệ cổ truyền để đảm bảo tính độc đáo của sản phẩm LN; đổi mới tư

duy quản lý Nhà nước đối với hoạt động khoa học công nghệ nhằm chuyển từ

vai trò người tham gia trực tiếp sang vai trò chỉ huy, tạo môi trường thuận lợi

và khuyến khích các hoạt động khoa học công nghệ, gắn kết hoạt động khoa

học công nghệ với quá trình SXKD và phát triển kinh tế nhằm thúc đẩy phát

triển thị trường khoa học công nghệ. Một số giải pháp cụ thể là:

- Rà soát các chính sách về sở hữu trí tuệ, hợp đồng công nghệ, khuyến

khích trong hoạt động khoa học công nghệ… những cơ sở pháp lý liên quan

đến hoạt động khoa học công nghệ để bổ sung, sửa đổi cho phù hợp theo đúng

hướng chú trọng đến khả năng thực thi, giảm thiểu tối đa những gánh nặng

không cần thiết cho những đối tượng được điều chỉnh hoặc gây khó khăn cho

đối tượng điều chỉnh do năng lực thực thi chính sách của bộ máy quản lý Nhà

nước yếu kém. Đồng thời phải có các chế tài đủ mạnh xử lý những vi phạm,

tăng cường năng lực cho các cơ quan, đơn vị tham gia hoạt động khoa học

công nghệ, mở rộng và hỗ trợ các dịch vụ như thủ tục hành chính đăng ký hợp

đồng công nghệ, dịch vụ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hệ thống thông

tin liên lạc… Nhà nước cần giao trách nhiệm cụ thể cho các bộ ngành và địa

phương về quản lý, thúc đẩy đổi mới công nghệ và ứng dụng công nghệ vào

SXKD đồng thời với việc tăng cường hơn nữa trong việc cung cấp cho các cơ

quan này những công cụ và nguồn lực nhất định để hoàn thành nhiệm vụ đó.

159

- Tăng cường các chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ: Nhà

nước cần đặc biệt chú trọng đến việc chuyển giao công nghệ từ các nước đang

phát triển vào nước ta thông qua các công cụ như thuế, tín dụng v.v… Các

chính sách khuyến khích này cũng cần chú trọng tới các mức độ phát triển công

nghệ của DN như có mức ưu đãi nhiều hơn cho nhập khẩu phần mềm công

nghệ độc lập. Nhà nước cũng cần thông qua chính sách xúc tiến và ưu đãi đầu

tư để thu hút những nhà đầu tư lớn trên thế giới và đầu tư vào những lĩnh vực

công nghệ cao. Mở rộng và khuyến khích các hình thức liên doanh, liên kết,

hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài nhằm tranh thủ việc chuyển giao khoa

học công nghệ vào nước ta. Nhà nước cần đơn giản hoá các thủ tục và giảm bớt

các phí tổn đối với nhập khẩu hàng hoá là vật tư máy móc thiết bị, công nghệ

tiên tiến cũng như nhập cảnh đối với các cán bộ kỹ thuật, các nhà khoa học,

nhà đầu tư nước ngoài. Có chính sách khuyến khích và hỗ trợ nhằm làm giảm

phí sử dụng internet, cước phí viễn thông vì đây là phương tiện chính mà thông

tin công nghệ, bí quyết sản xuất được truyền bá, chuyển giao.

Nhà nước cũng cần xem xét lại những yêu cầu chung về kỹ thuật đối với

việc nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng cho phù hợp với tình hình hiện nay,

tạo điều kiện cho các DN, cơ sở SXKD ở LN cải thiện điều kiện sản xuất,

nâng cao chất lượng sản phẩm.

- Hoàn thiện chính sách thúc đẩy nghiên cứu và phát triển khoa học

công nghệ, đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ: Nhà nước cần tăng

cường tài trợ kinh phí cho các viện nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu cơ

bản, có cơ chế khuyến khích đổi mới công nghệ tiên tiến thông qua các chính

sách ưu đãi đầu tư, thuế và tín dụng. Phát triển các hoạt động thông tin tư vấn

và chuyển giao công nghệ trong sản xuất ở LN. Ưu đãi và khen thưởng kịp

thời các nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào SXKD nâng cao

năng lực cạnh tranh của sản phẩm, tạo ra các sản phẩm mới, sản phẩm có chất

160

lượng cao, sản phẩm đảm bảo vệ sinh môi trường… thành lập mạng lưới các

trung tâm ngân hàng dữ liệu thông tin thị trường khoa học công nghệ để các

DN tra cứu, nghiên cứu, ứng dụng và triển khai.

Nhà nước cũng cần có những hướng dẫn chi tiết về chính sách liên quan

đến chất lượng sản phẩm, các thủ tục để xác định chất lượng sản phẩm và xin

cấp giấy chứng nhận. Các chính sách về tiêu chuẩn hoá kỹ thuật cũng cần được

nhanh chóng nghiên cứu ban hành nhằm phát triển hệ thống tiêu chuẩn thống

nhất, tạo điều kiện cho DN dễ dàng áp dụng vào quá trình sản xuất.

Chính sách khoa học công nghệ cần tập trung khuyến khích các DN

dành nhiều nguồn lực hơn cho nghiên cứu và phát triển. Các chi phí này được

hạch toán vào chi phí gián tiếp, kể cả các thiết bị quan trọng có giá trị không

quá lớn. Các thiết bị phục vụ trực tiếp cho nghiên cứu và phát triển được miễn

thuế. Tiến hành rà soát, đánh giá lại công nghệ và sản phẩm truyền thống ở

các LN để có biện pháp bảo tồn và phát triển, tạo mẫu mã và sản phẩm mới.

Đồng thời với việc hỗ trợ nghiên cứu thị trường để dự toán phát triển công

nghệ, phân tích thực trạng công nghệ DN hiện tại, tăng cường năng lực thẩm

định dự án nhằm nâng cao chất lượng các dự án đầu tư đổi mới công nghệ của

các cơ sở SXKD, doanh nghiệp ở các LN. Các địa phương cũng cần tăng

cường các chính sách đào tạo, thu hút, sử dụng nhân tài nhằm thu hút nhiều

các cán bộ khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học về làm việc tại các cơ quan,

DN trong tỉnh thông qua các ưu đãi về thu nhập, nhà ở, biên chế v.v…

- Chính sách phát triển hệ thống các dịch vụ trung gian trên thị trường

khoa học công nghệ: Nhà nước cần huy động tối đa sự tham gia của khu vực

tư nhân vào cung cấp các loại hình dịch vụ này thông qua sử dụng các biện

pháp hỗ trợ tư nhân các dịch vụ này, đồng thời cần tạo mọi điều kiện để nuôi

dưỡng các loại hình dịch vụ hỗ trợ thị trường khoa học công nghệ, tránh tập

trung vào công tác quản lý nhà nước một cách quá chặt chẽ. Hệ thống thông

161

tin về khoa học công nghệ cần được củng cố lại, kể cả việc thiết lập chợ khoa

học công nghệ trên mạng. Hệ thống thông tin phải được cập nhật đầy đủ,

thường xuyên, gia tăng các công cụ tiện ích, các dịch vụ đi kèm như dịch vụ

tư vấn công nghệ, môi giới công nghệ tiến tới định hướng tạo ra những dịch

vụ mang tính chuyên nghiệp. Mở rộng các hoạt động thuê mua các sản phẩm

khoa học công nghệ như; cho thuê vận hành máy móc thiết bị hay công nghệ

bằng hợp đồng dịch vụ, mua hoặc bán dưới hình thức trả góp các sản phẩm

khoa học và công nghệ.

Nhà nước cần nghiên cứu và ban hành chính sách nhằm hình thành và

phát triển các dịch vụ về thẩm định và đánh giá công nghệ, có kế hoạch chuyển

dần từ nhiệm vụ của các tổ chức Nhà nước sang khu vực tư nhân nhằm tăng tính

cạnh tranh, nâng cao chất lượng các dự án khoa học và công nghệ.

Thành lập các trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ tại các LN có

xu thế phát triển mạnh để phổ biến kiến thức, kỹ năng ngành nghề, hỗ trợ dạy

nghề, cung cấp thông tin, hỗ trợ chuyển giao công nghệ mới cho các cơ sở

SXKD ở các LN. Nghiên cứu hình thành các loại hình hỗ trợ vốn khác với

đầu tư cho khoa học và công nghệ như Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ hỗ trợ

nghiên cứu sáng tạo công nghệ v.v…

- Cải cách triệt để hệ thống các tổ chức khoa học công nghệ: hướng cải

cách là phải có lộ trình khẩn trương trong việc chuyển đổi các tổ chức khoa học

công nghệ công lập sang các loại hình ngoài công lập. Riêng một số tổ chức

nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu và phát triển lĩnh vực mang tính công ích và

nghiên cứu chính sách cần nghiên cứu chuyển sang cơ chế hoạt động theo đơn

đặt hàng, Nhà nước mua dịch vụ công do các tổ chức này cung cấp. Ngoài việc

chuyển đổi hình thành và cơ chế hoạt động, nhiều cơ chế chính sách khác cũng

cần phải hoàn thiện đồng bộ như: áp dụng cơ chế cạnh tranh việc cung cấp các

khoản đầu tư và chi tiêu cho thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ,

162

khuyến khích thương mại hoá các kết quả nghiên cứu, ưu đãi miễn các loại thuế

từ hoạt động nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ của các tổ chức

khoa học công nghệ, các nhà khoa học vào áp dụng thực tiễn tại các LN.

3.3.7. ChÝnh s¸ch vÒ ®µo t¹o vµ ph¸t triÓn nguån nh©n lùc

Chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa lớn để nâng cao năng lực cạnh

tranh của các LN. Để khai thác và phát huy cao nhất lao động và năng lực sáng

tạo của người lao động trong các LN, các chính sách cơ chế về đào tạo, phát

triển nguồn nhân lực cần tập trung hoàn thiện theo một số giải pháp cơ bản sau:

- Tỉnh cần phải sớm triển khai nghiên cứu, đánh giá và phân loại lực

lượng lao động ở các LN và các vùng lân cận hiện nay. Thông qua thực trạng

về số lượng, chất lượng nguồn lao động và tình hình sử dụng lao động hiện

nay ở các hộ gia đình SXKD, các doanh nghiệp, hợp tác xã... để xác định

hướng củng cố và tăng chất lượng nguồn lao động, đồng thời có định hướng

phân bố lao động gắn với sử dụng các nguồn lực khác phù hợp về trình độ,

sức khoẻ và yêu cầu SXKD ở các LN hiện nay. Mặt khác, từ việc nghiên cứu,

đánh giá này để các địa phương lập kế hoạch, dự án cho việc sử dụng nguồn

lao động chuyên ngành, lao động phụ và lao động thời vụ hợp lý để khắc phục

tình trạng thừa, thiếu lao động và sự căng thẳng về lao động dư thừa ở nông

thôn và các LN, đồng thời để có những biện pháp xây dựng và điều tiết thị

trường lao động ở các LN, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đáp ứng nhu

cầu sản xuất của LN cả về số lượng và chất lượng.

- Đổi mới đầu tư nhà nước cho đào tạo người lao động: cần xác định rõ

mục tiêu học nghề và hành nghề phù hợp với nhu cầu của các ngành nghề ở

các LN. Tỉnh nên nghiên cứu để thực hiện hệ thống cấp giấy chứng nhận đủ

trình độ hành nghề cho người lao động, tách biệt với các chứng chỉ đào tạo

trong nhà trường, nhằm đề cao tinh thần lao động chuyên nghiệp trong xã hội

nói chung và các LN nói riêng. Tỉnh cũng cần có chính sách cơ cấu hệ thống

163

dạy nghề công lập hiện nay để các cơ sở này vừa có cơ sở vật chất, công

nghệ, giáo viên có tri thức, kỹ năng chuyên nghiệp phù hợp với yêu cầu đào

tạo tay nghề cho người lao động ở các LN, vừa có khả năng đào tạo giáo viên

cho các cơ sở đào tạo tư nhân và DN. Khuyến khích các nhà đầu tư, nhất là

doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nghề. Mở cửa rộng cho các nhà đầu

tư nước ngoài gia nhập thị trường đào tạo lao động ở nước ta. Ngoài khuyến

khích về thuế, có thể tài trợ ban đầu hoặc ưu tiên giao đất cho các dự án đào

tạo. Nhà nước ưu tiên đầu tư vào các khâu ban hành các tiêu chuẩn đào tạo

ngang tầm khu vực và giám sát quá trình đào tạo hướng tới các tiêu chuẩn đó.

Khuyến khích các tổ chức đào tạo trong nước hợp tác đào tạo với tổ chức

nước ngoài để nhanh chóng nâng cao chất lượng đào tạo. Nhà nước cũng cần

tài trợ hợp lý cho người đi du học nước ngoài.

- Thành lập và kiện toàn các trung tâm dịch vụ về nguồn nhân lực ở nông

thôn để cung cấp thông tin về việc làm cho người lao động giúp người lao động

tìm được việc làm phù hợp với trình độ và khả năng nghề nghiệp của mình, kiểm

soát việc thi hành pháp luật lao động trong các cơ sở SXKD ở LN để đảm bảo

quyền lợi cho người lao động, xây dựng các chương trình và tổ chức đào tạo cho

các chủ hộ SXKD, chủ doanh nghiệp và người lao động. Chính quyền địa

phương các cấp cần có sự kết hợp tổ chức, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho các

chủ hộ, chủ doanh nghiệp về văn hoá, khoa học kỹ thuật, các kiến thức về quản

trị doanh nghiệp và thị trường thông qua các hình thức như: đào tạo tại các trung

tâm, mở các lớp tập huấn ngắn hạn, mở các câu lạc bộ giám đốc để thông qua đó

họ vừa học hỏi kinh nghiệm vừa tìm kiếm bạn hàng, liên doanh liên kết... Đây là

những hình thức cần được tỉnh khuyến khích phát triển mạnh, đáp ứng được nhu

cầu của các LN trong việc tư vấn, giải quyết những khó khăn ngoài khả năng

giải quyết của các DN, thông qua đó nâng cao kiến thức cho các chủ DN, chủ hộ

SXKD ở các LN trong tỉnh.

164

- Chính sách khuyến khích đa dạng hoá các hình thức dạy nghề cho

người lao động theo nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau trên cơ sở lập kế

hoạch về nhu cầu lao động cần được đào tạo trong từng ngành nghề của các

LN. Trước tiên cần phải khuyến khích các chủ cơ sở nghề truyền thống tổ

chức, thực hiện đào tạo nghề truyền thống cho người lao động. Nhà nước cần

có chính sách tạo điều kiện về thủ tục mở cơ sở, lớp đào tạo, miễn thuế thu

nhập cho hoạt động cho đào tạo nghề truyền thống, tạo điều kiện về mặt bằng

đất đai..., khuyến khích phát triển các hình thức kèm cặp nghề trong sản xuất

cho người lao động phù hợp với đặc thù nghề truyền thống ở địa phương.

Tỉnh cũng cần tăng cường đứng ra tổ chức lớp và mời các nghệ nhân, thợ giỏi

ở các LN và các nơi khác đến để dạy nghề theo lối truyền nghề. Các trung tâm

dạy nghề ở các huyện cần phát huy vai trò trong đào tạo các ngành nghề

truyền thống, đồng thời cũng là chuyển đổi nghề cho lao động mất việc làm

trong nông nghiệp do bị thu hồi đất của quá trình đô thị hoá, phát triển các

khu, cụm công nghiệp. Phát triển các trung tâm dạy nghề tư nhân để tăng số

lượng lao động có tay nghề đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển các LN.

Kết hợp với các trường đại học hoặc các viện nghiên cứu để mở lớp cho các

học viên là những lao động của các LN, giúp đỡ họ nâng cao trình độ kỹ

thuật, mỹ thuật, hướng dẫn họ tạo ra những mẫu mã sản phẩm đẹp, phong

phú, có tính mỹ thuật cao. Mặt khác thông qua các hiệp hội, các quỹ phát triển

để mở lớp và tạo nguồn kinh phí cho đào tạo nguồn nhân lực ở các LN. Tỉnh

cần có chính sách thu hút khen thưởng và ưu đãi các nghệ nhân, lao động có

tay nghề cao tham gia tích cực và hiệu quả vào hoạt động dạy nghề. Cần tiêu

chuẩn hoá và định kỳ tổ chức xét, công nhận và trao tặng các danh hiệu cao

quý, cũng như thưởng vật chất xứng đáng cho những nghệ nhân, thợ giỏi,

những nhà kinh doanh có tài làm ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, xuất

khẩu nhiều và người có phát minh sáng chế, cải tiến máy móc thiết bị, công

nghệ sản xuất phục vụ sự phát triển của LN.

165

- Bổ sung hoàn thiện chính sách, biện pháp về tăng cường quản lý nhà

nước về lao động và việc làm: chính sách đào tạo việc làm cho người lao

động phải gắn kết với chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ở các LN.

Phải lồng ghép chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong các dự

án phát triển KT - XH ở các khu vực LN và tạo việc làm cho lao động ở khu

vực LN, đặc biệt là ở các khu, cụm công nghiệp LN.

Chính sách cho vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm, chương trình

mục tiêu xoá đói giảm nghèo, các chương trình khuyến nông, khuyến công... cho

lao động ở nông thôn nói chung và ở các LN nói riêng phải đồng thời gắn với

đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho người lao động thông qua các hợp đồng đào

tạo với các cơ sở đào tạo. Xây dựng chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc

làm cho người dân ở khu vực bị thu hồi đất để họ có cơ hội làm việc tại các DN

và các cơ sở, hộ SXKD ở các LN. Từng bước hình thành cơ chế, các hình thức

thích hợp về đào tạo lại, đào tạo nâng cao, bổ túc tri thức, tay nghề thường xuyên

đối với người lao động ở nông thôn nói chung và các LN nói riêng. Mạng lưới

đào tạo phải đáp ứng phổ biến, thuận lợi cho nhu cầu đào tạo lại, đào tạo nâng

cao của tất cả những người lao động ở các LN và các vùng lân cận có nhu cầu.

Đào tạo lại, đào tạo nâng cao phải bao trùm ở tất cả các cấp trình độ đào tạo, đặc

biệt là lao động chuyên môn kỹ thuật ngành nghề.

Mặt khác, tỉnh cần có chính sách để nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ

và nguồn nhân lực ở các LN để phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế. Để hội nhập

hiệu quả, tham gia bình đẳng vào “sân chơi” chung của kinh tế thế giới, đòi hỏi ở

các LN phải có một đội ngũ cán bộ am hiểu thể lệ của các định chế quốc tế, có

trình độ chuyên môn thương mại và ngoại ngữ. Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ

cán bộ này bao gồm cả đào tạo mới, đào tạo nâng cao kiến thức mọi mặt về

chuyên môn, ngoại ngữ, hệ thống pháp luật trong nước và quốc tế để sử dụng

trong công tác đàm phán quốc tế cũng như triển khai các cam kết trong nước.

166

3.3.8. ChÝnh s¸ch vÒ b¶o vÖ m«i tr−êng cña c¸c lµng nghÒ

Vấn đề môi trường là một trong những điều kiện quyết định của phát

triển bền vững. Chính sách bảo vệ môi trường ở các LN là một bộ phận cấu

thành không thể tách rời của chính sách phát triển LN. Một số giải pháp cần

được tiếp tục hoàn thiện và triển khai là:

- Xây dựng và hoàn thiện chính sách ngăn ngừa ô nhiễm môi trường

đồng bộ.

Ngoài các luật chung, trước mắt cần xây dựng, hoàn chỉnh các văn bản

pháp chế dưới luật, đặc biệt là các quy định về bảo vệ môi trường tại một địa

phương hoặc trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể, các quy định về chế độ, thể

lệ, tổ chức quản lý bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

Trước tiên, cần hoàn chỉnh các chính sách về thuế ô nhiễm, lệ phí môi

trường. Người gây ô nhiễm phải chi trả những chi phí cho việc khống chế ô

nhiễm, làm sạch môi trường hoặc bồi thường thiệt hại cho những người phải

chịu ô nhiễm. Đây chính là sự kết hợp biện pháp quản lý và biện pháp kinh tế

nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa người gây ô nhiễm và người chịu ô nhiễm. Mặt

khác, người sử dụng tài nguyên phải trả tiền, tức là chi phí trách nhiệm do người

tiêu dùng hiện tại để lại cho người sử dụng trong tương lai. Ở mỗi một địa

phương hoàn toàn có thể xác định được số lượng, quy mô, quy trình công nghệ,

ngành nghề... đối với các LN từ đó hoàn toàn có thể xác định được mức độ gây ô

nhiễm đến từng nhân tố của môi trường xung quanh. Thông qua đó để xây dựng

các tiêu chí, các mức thuế, phí phù hợp chi tiết do từng loại hình LN.Ví dụ như

đối với LN sản xuất giấy thì xây dựng thuế, phí theo lượng nước thải hoặc thuế

môi trường theo quy mô sản xuất và công nghệ khác nhau.

Thứ hai là cần phải xây dựng một quy trình kiểm soát ô nhiễm ở mức

chi tiết cho từng loại hình LN: LN đồ gỗ, LN đồ gốm, LN đồ đồng, LN sắt

thép, LN chế biến thực phẩm… thông qua việc xác định các nhóm đối tượng

167

gây ô nhiễm giống nhau của từng loại ngành nghề đế sử dụng các công cụ

quản lý luật định triển khai thực nghiệm quy mô nhỏ đối với từng loại hình

LN, triển khai hệ thống thông tin kết hợp với chế độ kiểm tra hợp lý với từng

LN, xây dựng các chỉ tiêu chất lượng nền đối với các khu vực không khí,

vùng nước bị ô nhiễm ở các khu vực LN, có những quy trình, thủ tục cải cách

trong cấp giấy phép và thanh tra môi trường phù hợp, đảm bảo chặt chẽ với

từng ngành nghề, phát huy các năng lực nội bộ từng LN, phát huy sự ủng hộ

của cộng đồng cho từng hành động có ý nghĩa phù hợp với từng LN...

Thứ ba là xây dựng các quy định về chế độ, thể lệ tổ chức quản lý và

bảo vệ môi trường. Tổ chức chức năng, nhiệm vụ, lề lối làm việc của hệ thống

quản lý nhà nước về môi trường, quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, của từng

ngành, từng cấp trong bảo vệ môi trường, đặc biệt là thể chế riêng quy định

cho cấp chính quyền cơ sở, nêu cao trách nhiệm tự quản cũng như các thể chế

phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong bảo vệ môi trường...

- Quy hoạch và xây dựng khu công nghiệp LN đạt tiêu chuẩn môi trường:

Hiện nay, Bắc Ninh còn thiếu mô hình quy hoạch tổng thể dành riêng

cho khu công nghiệp LN. Để thay đổi căn bản các vấn đề về môi trường cũng

như hiệu quả kinh tế của LN thì giải pháp này là hữu hiệu nhất. Thực tế đã

hình thành nhiều khu cụm công nghiệp LN, song còn nhiều chắp vá, hạn chế,

kể cả hiệu quả kinh tế cũng như môi trường vẫn chưa được xử lý triệt để. Xây

dựng một quy hoạch đạt tiêu chuẩn môi trường, thiết nghĩ cần phải giải quyết,

tháo gỡ một số bất cập hiện nay như sau:

+ Các hộ dân sống xen lẫn khu vực sản xuất, thậm chí sản xuất ngay tại

nơi sinh hoạt gia đình. Ngoài ra nơi sản xuất và nơi giới thiệu lẫn lộn làm cho

sản xuất và thương mại đều kém hiệu quả.

+ Phương thức SXKD ở các LN còn phân tán và mang tính đơn lẻ, khó

khăn cho thương mại hoá sản phẩm toàn vùng. Các hộ dân trong làng phải tự

168

vận động tìm nguồn tiêu thụ bằng các kênh riêng của mình nên hiệu quả chưa

được cao so với tiềm năng thực sự của tất cả các LN.

+ Đặt vấn đề quy hoạch không chỉ bó hẹp bởi kiến trúc mặt bằng mà ở góc

độ nào đó liên quan đến vấn đề quy hoạch về chiến lược sản xuất và thương mại

toàn vùng và không đơn thuần là con số cộng của thị trường các LN phân tán.

+ Không có thu gom và xử lý riêng chất thải tập trung cho khu vực các

LN. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động và cư

dân trong vùng mà còn cản trở việc phát triển SXKD lâu dài. Thực tế hiện

nay, các giải pháp tình thế chỉ góp phần đưa rác thải từ chỗ này sang chỗ khác

xa khu dân cư hơn nhưng chưa xử lý triệt để.

Vì vậy, mục tiêu hay tiêu chí cho việc quy hoạch và xây dựng khu công

nghiệp LN cần phải tuân thủ là:

+ Thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, tạo mọi điều kiện thuận lợi

cho hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ của các hộ dân, các doanh

nghiệp của LN;

+ Mang lại hình ảnh một khu công nghiệp LN vừa khang trang, vừa cổ

kính, phù hợp với các tiêu chí phát triển du lịch LN;

+ Thiết kế khu xử lý rác thải, góp phần giải quyết triệt để vấn đề ô

nhiễm môi trường;

+ Tạo được động lực góp phần phát huy nét đẹp truyền thống LN, hội

tụ đầy đủ các yếu tố giàu đẹp, văn minh ngay từ trong từng mảng quy hoạch

ban đầu các khu vực công cộng, các phân khu chức năng sản xuất, thương

mại, dịch vụ, giao thông, cây xanh...

+ Khai thác hiệu quả hơn quỹ đất hiện có của địa phương, đáp ứng nhu

cầu SXKD vừa gần nơi sinh sống vừa đảm bảo điều kiện lao động tốt.

- Kiện toàn các cơ quan quản lý môi trường ở tỉnh và huyện đủ mạnh để

thực thi các nhiệm vụ bảo vệ môi trường nói chung và môi trường LN nói riêng.

169

Hiện nay, ở cấp tỉnh quản lý nhà nước về môi trường nằm trong Sở Tài

nguyên - Môi trường, ở cấp huyện chưa có tổ chức cụ thể, vì vậy cần phải xây

dựng một tổ chức môi trường ở cấp huyện, thậm chí ở cấp xã đối với những xã

có LN lớn, mức độ ô nhiễm nghiêm trọng đảm bảo thích ứng và có các cơ chế

hiệu quả để thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Nhiệm vụ của các cơ quan này, trước mắt cần phải tăng cường công tác

đánh giá tác động môi trường, kiểm soát ô nhiễm, thanh sát môi trường, điều

phối quản lý, trong đó địa bàn trọng tâm có các LN. Đặc biệt công tác đánh

giá tác động môi trường là một trong những công cụ có hiệu quả để bảo vệ

môi trường ở các LN cần phải được chú trọng. Thông qua việc đánh giá tác

động môi trường để thực hiện các chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch,

chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tại các LN nói

riêng phát triển theo hướng lâu dài.

Việc đánh giá tác động môi trường phải được thực hiện ngay từ khâu

lập kế hoạch cho phát triển LN và phải được kết hợp chặt chẽ trong việc quy

hoạch phát triển của cả vùng xung quanh LN. Các lĩnh vực phải được ưu tiên

tiến hành đánh giá tác động môi trường LN là các cơ sở LN sản xuất giấy, chế

biến nông sản thực phẩm, sản xuất chế biến sắt, thép... có nguồn chất thải lớn

gây ô nhiễm nguồn nước, không khí...

Công tác kế hoạch hoá cũng cần phải được quan tâm đúng mức nhằm

gắn kết vấn đề bảo vệ môi trường vào quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội. Không chỉ xét yếu tố môi trường khi phê duyệt dự án hoặc khi đã

thực hiện mà còn phải lồng ghép ngay từ khâu đầu khi lập quy hoạch, kế

hoạch. Việc xác định môi trường LN là đối tượng của kế hoạch hoá, cần sự

phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan kế hoạch, cơ quan quản lý môi trường với

các tổ chức khác và chính quyền các cấp, đặc biệt là chính quyền xã, trưởng

thôn nơi có LN.

170

Các tổ chức môi trường này cũng cần được tăng cường công tác đào tạo

để có đủ năng lực trong việc kế hoạch hoá công tác môi trường, đánh giá tác

động môi trường, kiểm soát ô nhiễm, thanh tra, điều phối môi trường, phối

hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở trong quản lý môi trường nói chung và

các LN nói riêng.

- Tăng cường công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức của

người dân nói chung và ở LN nói riêng về môi trường.

Công tác bảo vệ môi trường, phát triển bền vững nói chung và ở các

LN nói riêng chỉ có thể thành công nếu huy động được đông đảo nhân dân

tham gia một cách tự giác.

Về tổng thể cần có một chương trình giáo dục môi trường trong các nhà

trường, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững cho

mọi người dân. Đồng thời phải thiết lập những khoá đào tạo chuyên nghiệp

dài ngày và ngắn ngày kể cả hội thảo, phát triển đào tạo đội ngũ chuyên gia

trong lĩnh vực môi trường.

Việc nâng cao nhận thức về môi trường ở các LN cần phải được ưu tiên

hàng đầu. Cần chú trọng việc phát hành và phổ biến các tư liệu phục vụ nâng

cao nhận thức, đáp ứng các công cụ, phương tiện cho công việc phổ biến và

nâng cao nhận thức của quần chúng, đồng thời tìm kiếm, phối hợp, sự trợ giúp

của các cơ quan thông tin đại chúng (báo, đài...), các nhóm tình nguyện, các

tổ chức đoàn thể quần chúng... qua đó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp điều

chỉnh các hành vi của người dân. Mặt khác, cũng có thể áp dụng các dịch vụ

vận dụng kiến thức như thiết lập một mạng lưới vận dụng kiến thức với cơ

chế chi trả chi phí thích hợp để phổ biến các cách làm ăn đúng đắn điển hình

về môi trường. Đồng thời cần đào tạo trên quy mô lớn những người làm công

tác tuyên truyền vận dụng kiến thức và các tổ chức phi Chính phủ liên quan

đến phát triển nông thôn và các hoạt động bảo vệ môi trường nhằm đưa nhanh

171

công tác bảo vệ môi trường thành một phần việc trong tiến trình phát triển

tổng hợp nông thôn nói chung và ở các LN nói riêng.

- Chú trọng đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường LN một cách thoả đáng:

Trước tiên cần thông qua các công cụ chính sách pháp luật, tiêu chuẩn

và đánh giá môi trường, các công cụ kinh tế, công cụ thông tin giáo dục... để

kêu gọi các doanh nghiệp, các hộ LN. Khi đầu tư cần lựa chọn các phương án

đầu tư bảo đảm hoà nhập với môi trường theo các mục đích gắn kết kinh tế

với môi trường.

Mặt khác, Nhà nước (ngân sách) cần có sự đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích

thoả đáng như:

+ Quy hoạch và đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý chất thải, bãi chôn

lấp chất thải... ở các LN tập trung, đặc biệt là ở các cụm công nghiệp LN đã

hình thành;

+ Khuyến khích và hỗ trợ kinh phí cho các hộ, tổ chức sản xuất LN đầu

tư mở rộng sản xuất, đầu tư thay đổi công nghệ đạt tiêu chuẩn về môi trường

thông qua các chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách hỗ trợ khuyến

công, khuyến khích xuất khẩu, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ...

+ Hỗ trợ đầu tư xây dựng CSHT ở các LN như: chính sách hỗ trợ ngân

sách cho làm đường giao thông nông thôn, kiên cố hoá kênh mương... cần

phải ưu đãi hơn đối với LN;

+ Đầu tư thoả đáng cho các giải pháp về xây dựng chính sách chế độ

riêng ở địa phương về môi trường, quy hoạch xây dựng khu công nghiệp LN

đạt tiêu chuẩn môi trường, công tác đánh giá tác động môi trường, công tác

giáo dục đào tạo, tuyên truyền...

+ Đầu tư cho công tác nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ ở

các LN nhằm giúp các LN đổi mới cách làm, công nghệ, mở rộng sản xuất

theo hướng bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

172

Ngoài ra, cũng cần tranh thủ tối đa sự tài trợ, ủng hộ, giúp đỡ của các tổ

chức khác về môi trường, các đối tượng khác trong và ngoài nước quan tâm đến

công tác môi trường LN, kể cả sự đóng góp trực tiếp của các hộ, doanh nghiệp ở

LN nhằm xã hội hoá nguồn kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường ở các LN.

3.4. mét sè kiÕn nghÞ trong hoµn thiÖn chÝnh s¸ch 3.4. mét sè kiÕn nghÞ trong hoµn thiÖn chÝnh s¸ch 3.4. mét sè kiÕn nghÞ trong hoµn thiÖn chÝnh s¸ch 3.4. mét sè kiÕn nghÞ trong hoµn thiÖn chÝnh s¸ch

ph¸t ph¸t ph¸t ph¸t triÓn lµng nghÒ ë tØnh b¾c ninhtriÓn lµng nghÒ ë tØnh b¾c ninhtriÓn lµng nghÒ ë tØnh b¾c ninhtriÓn lµng nghÒ ë tØnh b¾c ninh

3.4.1. Tăng c−êng h¬n n÷a vai trß cña UBND tØnh vµ c¸c Së, Ban,

ngµnh cña tØnh trong c«ng t¸c chØ ®¹o, qu¶n lý ph¸t triÓn lµng nghÒ

Trước tiên UBND tỉnh nên thành lập Ban chỉ đạo phát triển LN với đồng

chí Lãnh đạo UBND tỉnh là trưởng ban, các thành viên tham gia là Lãnh đạo các

Sở, ngành liên quan. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ nắm bắt tình hình, đánh giá định

kỳ tình hình SXKD và phát triển ở các LN, nghiên cứu, đề xuất, chỉ đạo, tổ chức

thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường, khuyến khích phát triển LN

bền vững. Ban chỉ đạo là đầu mối trong việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc các cơ

quan chức năng trong việc thực thi các nhiệm vụ liên quan tới phát triển LN.

Trước mắt cần chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

- Khẩn trương rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển LN. Xây

dựng chương trình khuyến khích phát triển LN, phổ biến chính sách cho các cán

bộ quản lý DN ở các LN, hỗ trợ thành lập các Hiệp hội ngành nghề, tham gia

tích cực vào việc lập các dự án đầu tư phát triển ở các LN. Xây dựng quy chế

quản lý các khu, cụm công nghiệp LN. Xây dựng và chỉ đạo triển khai các

chương trình khuyến công, xúc tiến thương mại, phát triển các LN mới v.v…

- Hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó quy

hoạch thoả đáng đối với sự phát triển của các LN. Hoàn thiện các cơ chế

chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư của địa phương, trong đó chú ý một

cơ chế, chính sách thông thoáng, ưu đãi riêng cho phát triển ở các LN. Hoàn

173

thiện các quy trình “cơ chế một cửa liên thông” trong việc cấp giấy phép đầu

tư, đăng ký kinh doanh đảm bảo nhanh chóng, thuận tiện, đơn giản thủ tục

cho các DN, cơ sở SXKD.

- Hướng dẫn các huyện, thành phố thuộc tỉnh thực hiện xây dựng quy

hoạch chi tiết các khu, cụm công nghiệp LN; quy hoạch chi tiết phát triển các

LN; kiện toàn cơ chế phân cấp quy hoạch đầu tư xây dựng cơ bản theo hướng

tăng cường phân cấp cho cơ sở; cải tiến quy trình thẩm định quy hoạch, chỉ

đạo và giám sát quá trình đầu tư CSHT LN, khu, cụm công nghiệp LN…

- Khẩn trương hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất phát triển các LN theo

quy hoạch mới đảm bảo khai thác hợp lý, hiệu quả tài nguyên, khắc phục tình

trạng ô nhiễm môi trường ở các LN. Ban hành văn bản hướng dẫn quy trình các

bước để tiến hành thuê đất trong việc đầu tư SXKD của các DN, hộ gia đình ở

các LN. Xây dựng chiến lược địa phương về bảo vệ môi trường ở các LN.

- Xây dựng chiến lược phát triển du lịch LN. Tăng cường các biện pháp

tuyên truyền, quảng bá hình ảnh địa phương nhằm thu hút đầu tư, tạo điều

kiện cho việc giao lưu, hợp tác SXKD, thương mại… Xây dựng mô hình các

LN đạt tiêu chuẩn về môi trường, văn hoá, xã hội và CSHT đồng bộ.

- Tăng cường sự hỗ trợ các DN, cơ sở SXKD ở các LN đổi mới công

nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hỗ trợ tạo mẫu mã mới, hỗ trợ các đề tài

nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu phát triển liên quan tới LN, xây dựng

chính sách và triển khai tích cực việc hỗ trợ xây dựng thương hiệu, mẫu mã

sản phẩm mới v.v… Tăng cường hướng dẫn áp dụng và quản lý nhà nước về

đăng ký bản quyền và sở hữu trí tuệ công nghiệp. Triển khai mạnh mẽ việc áp

dụng chất lượng ISO trong các cơ quan quản lý hành chính tạo môi trường

thông thoáng liên quan tới hành chính…

- Làm tốt công tác hỗ trợ đầu tư xây dựng CSHT LN, tăng cường các biện

pháp đảm bảo vốn cho vay đầu tư phát triển ở các LN, bảo lãnh tín dụng cho các

174

DN vừa và nhỏ, xây dựng chính sách phân bổ vốn ngân sách ưu tiên cho các địa

bàn có nhiều LN, thực hiện công tác miễn giảm thuế, tư vấn thuế cho các LN v.v…

- Đẩy mạnh phối hợp với các cơ sở đào tạo của Trung ương để nâng

cao chất lượng dạy nghề ở địa phương, tăng cường đào tạo nghề mới và đào

tạo lại lực lượng lao động ở các LN phù hợp với yêu cầu mới của cạnh tranh

và hội nhập. Xây dựng chương trình đưa tin học và ứng dụng trong các ngành

nghề ở các LN; tổ chức tốt hội chợ việc làm, đào tạo ngắn hạn kết hợp với dài

hạn những lao động ở các LN theo nhu cầu của các LN.

- Xây dựng kế hoạch và thực hiện lộ trình đảm bảo CSHT viễn thông,

điện, giao thông… phù hợp và đáp ứng nhu cầu phát triển của các LN, khu,

cụm công nghiệp LN…

- Tăng cường cải tiến các biện pháp quản lý nhà nước trên địa bàn đảm

bảo hỗ trợ tích cực cho các LN phát triển. Thành lập các Ban Quản lý khu,

cụm CN nhằm giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh của các DN, cơ

sở SXKD. Tuỳ huyện, thành phố phải xây dựng chương trình, kế hoạch phát

triển các ngành nghề, LN trên địa bàn và có biện pháp, chính sách tập trung

đầu tư, hỗ trợ thực hiện ưu tiên cho các LN phát triển bền vững.

- Đặc biệt cần tập trung chỉ đạo thực hiện tốt chương trình Marketing

địa phương trong đó mũi nhọn là hình ảnh một tỉnh Bắc Ninh văn hiến và năng

động trong phát triển kinh tế nơi có các LN, lễ hội và du lịch tâm linh. Trong đó

cần làm nổi bật các yếu tố cứng như: ổn định kinh tế, năng suất, chi phí, tài sản,

dịch vụ và mạng lưới hỗ trợ địa phương, cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc, các địa

điểm chiến lược ở tỉnh gồm cả các LN, kế hoạch và chương trình khuyến khích

phát triển LN, đồng thời với các yếu tố mềm như: phát triển chuyên biệt độc đáo

ở một số LN, chất lượng cuộc sống, năng lực của lực lượng lao động, văn hóa,

quan hệ giữa con người, phong cách quản trị, sự năng động và linh hoạt, sự sáng

tạo trong kinh doanh và đời sống xã hội ở các LN.

175

3.4.2. Ph¸t huy vai trß cña c¸c hiÖp héi hç trî ph¸t triÓn c¸c

lµng nghÒ

Các hiệp hội LN là cầu nối giữa các DN, cơ sở SXKD trong các LN với

Nhà nước, là người bảo vệ quyền lợi các DN, cơ sở SXKD trên thương

trường quốc tế, là người thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại chung cho

các DN, hộ SXKD ở các LN. Hiệp hội LN góp phần nâng cao năng lực cạnh

tranh của các ngành nghề, của các LN. Những vai trò đó có ý nghĩa quan

trọng trong việc thực thi các chính sách phát triển LN. Để phát huy vai trò đó,

những kiến nghị đối với các hiệp hội LN là:

- Mở rộng và kiện toàn tổ chức các hiệp hội: Để tăng cường sức mạnh

và tính đại diện cao cho các DN, hộ SXKD trong các LN, các hiệp hội cần

phải đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, tạo lòng tin và thu

hút sự tham gia của đông đảo các DN, hộ SXKD ngành nghề của LN trên cơ

sở làm cho các DN, hộ SXKD thấy được lợi ích của việc tham gia hiệp hội.

Hiệp hội cần mở rộng thành viên của mình trong tất cả các hộ SXKD, các loại

hình DN, kể cả DN có vốn đầu tư nước ngoài có cùng ngành nghề của LN.

Mặt khác, Hiệp hội cần phải kiện toàn cơ cấu tổ chức của mình để đáp

ứng các nhiệm vụ của hiệp hội cũng như những đòi hỏi của các DN, cơ sở

SXKD hiện nay. Cơ cấu tổ chức cần phải có các bộ phận chuyên trách xử lý

tập trung vào những khó khăn chính của các DN, hộ SXKD ở các LN hiện

nay như: bộ phận nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, bộ phận đào tạo và

phát triển nguồn nhân lực, bộ phận xúc tiến thương mại, bộ phận công nghệ

thông tin, bộ phận quản lý thương hiệu, bộ phận nghiên cứu thị trường, bộ

phận tổ chức hội chợ triển lãm, bộ phận quảng cáo và quan hệ cộng đồng…

- Đẩy mạnh công tác thu thập, khai thác và hỗ trợ thông tin cho các hội

viên. các hiệp hội phải thu thập thông tin thuộc nhiều lĩnh vực liên quan đến

ngành nghề của LN mình như: thị trường nguyên vật liệu, thị trường lao động,

176

khoa học công nghệ, xuất khẩu, xu thế biến động giá cả, xu thế phát triển của sản

phẩm trong và ngoài nước, tình hình SXKD của ngành nghề, các thông tin về

chính sách, pháp luật của nhà nước… Xây dựng các phương tiện thông tin hiện

đại, nhanh chóng giúp cho các DN, hộ SXKD nắm bắt thông tin kịp thời, mang

tính thời sự. Xây dựng và hoàn thiện các Website của các hiệp hội với những

thông tin cập nhật thời sự và bổ ích, trước mắt các Website này sẽ là kênh thông

tin về sản phẩm của LN đến người tiêu dùng trong và ngoài nước, tiến tới phát

triển các Website trở thành một sàn giao dịch sản phẩm của các DN, hộ SXKD

ngành nghề của LN. Đồng thời tăng cường các thông tin thị trường gắn với quá

trình hội nhập kinh tế quốc tế, các thông lệ trong thương mại quốc tế, cùng với

tuyên truyền đạo đức kinh doanh, văn hoá kinh doanh …

- Tăng cường tư vấn trong đầu tư, đổi mới công nghệ tiên tiến một cách

phù hợp và đồng bộ, hạn chế tối đa việc nhập khẩu các thiết bị công nghệ đã

qua sử dụng. Từng hiệp hội phải luôn cập nhật những thông tin về máy móc

thiết bị liên quan đến ngành nghề của mình và phổ biến cho các hội viên, tạo

môi trường thuận lợi cho các hội viên trao đổi, hỗ trợ nhau những thông tin về

công nghệ, từ đó góp phần đẩy mạnh việc liên kết giữa các DN, cơ sở SXKD

trong LN cùng nhau hợp tác và phát triển.

- Tăng cường liên kết dọc và ngang giữa các bộ phận của ngành nghề

nhằm tăng khả năng cạnh tranh, đặc biệt là sự cạnh tranh về giá cả trên thị

trường khu vực và thế giới. Chính sự liên kết giữa các DN trong ngành nghề

của LN tạo nên sức cạnh tranh mạnh cho toàn ngành nghề phát triển. Hiệp hội

cần phải có những biện pháp cụ thể để các DN, cơ sở SXKD thấy được lợi ích

mang lại từ sự liên kết, hợp tác với nhau.

- Chú trọng vào việc nghiên cứu thị trường: Hiệp hội cần nhận thức vai

trò quan trọng của nghiên cứu thị trường để tiến hành đánh giá thị trường,

xem xét các xu hướng ảnh hưởng đến nhu cầu sản phẩm, nghiên cứu tình hình

177

cạnh tranh, thị phần các đối thủ cạnh tranh, các rào cản thuế quan, phi thuế

quan đối với việc xuất khẩu sản phẩm để từ đó đưa ra các khuyến nghị, tư vấn

cho các DN liên quan đến sản phẩm, cách thức xuất khẩu, kinh doanh sản

phẩm tại các thị trường nghiên cứu. Việc nghiên cứu thị trường phải đảm bảo

tiếp cận và nghiên cứu thị trường mới để đa dạng hoá thị trường nhưng đồng

thời phải tiếp tục nghiên cứu động thái từ các thị trường hiện tại để gia tăng

thị phần, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

- Tăng cường thực hiện vai trò cầu nối giữa DN và Nhà nước: Các

Hiệp hội cần nắm bắt thường xuyên tình hình SXKD và xu thế đang diễn ra

của ngành nghề trong nước và nước ngoài để từ đó tập hợp các ý kiến, kiến

nghị với Nhà nước những biện pháp, chính sách phù hợp hỗ trợ cho các ngành

nghề của LN phát triển. Hiệp hội cần nhận rõ xu hướng phát triển ngành nghề,

phát hiện kịp thời những tiêu cực về cạnh tranh, quản lý trong SXKD của LN

để nắm bắt yêu cầu thiết thực của DN, hiểu họ cần gì để hỗ trợ. Đồng thời

Hiệp hội phải là người trợ giúp tích cực cho Nhà nước trong việc xây dựng,

ban hành và thực thi các chính sách phát triển ngành nghề của LN.

- Chú ý tư vấn, hỗ trợ các DN, hộ SXKD trong LN tổ chức thực hiện

công việc quản lý SXKD theo yêu cầu các tiêu chuẩn quản lý chất lượng

sản phẩm, bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh và trách nhiệm xã hội.

Những tiêu chuẩn về quản lý chất lượng là chỉ tiêu đánh giá đầu tiên mà

các nhà nhập khẩu của các nước phát triển quan tâm trước khi đàm phán về

giá cả và quy cách sản phẩm cũng như áp dụng những hàng rào kỹ thuật để

hạn chế nhập khẩu các sản phẩm của chúng ta. Vì vậy trong tình hình hội

nhập hiện nay, các hiệp hội cần rất chú ý tới sự tư vấn, hỗ trợ các DN, hộ

SXKD ở các LN quan tâm tới các tiêu chuẩn này để nâng cao khả năng

cạnh tranh của sản phẩm, tạo hình ảnh tốt đẹp cho sản phẩm LN của Việt

Nam trên thị trường quốc tế.

178

3.4.3. §æi míi nhËn thøc trong ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh

cña c¸c c¸ nh©n, tæ chøc ë c¸c lµng nghÒ trong tØnh B¾c Ninh

Các DN, hộ SXKD ở các LN là những người trực tiếp thực hiện các

chính sách phát triển LN. Để các chính sách phát triển LN khả thi cần phải có

sự nỗ lực rất lớn từ các DN, hộ SXKD. Một số kiến nghị đối với họ là:

- Nghiên cứu và điều chỉnh hoạt động SXKD phù hợp với thị trường trong

nước và quốc tế, phù hợp với tình hình mới về cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế

giới. Điều này đặt ra cho các DN, hộ SXKD phải đánh giá lại chiến lược của mình

về sản phẩm, nguồn nhân lực, thị trường… Việc đánh giá năng lực sản phẩm

nhằm đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường, khả năng cạnh tranh của sản

phẩm. Việc đầu tư nghiên cứu thị trường nhằm xác định lượng cầu, thị hiếu, mẫu

mã, những điều kiện, quy cách, quy định về tiêu thụ sản phẩm ở các thị trường

khác nhau. Trên cơ sở nắm bắt nhu cầu thị trường, kết hợp với những điều kiện

hiện có, những tiềm năng mới có thể khai thác để định hướng chiến lược sản

phẩm trên cơ sở kết hợp giữa tiính đặc thù của sản phẩm với tính phổ thông, lựa

chọn giữa xu thế chuyên biệt hoá và đa dạng hoá sản phẩm trong từng giai đoạn.

Từ định hướng sản phẩm để đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng, giảm giá

thành sản phẩm và cải tiến các kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm.

- Đầu tư xây dựng thương hiệu sản phẩm LN: Các DN, cơ sở SXKD

của LN phải nâng cao nhận thức và trang bị các kiến thức về thương hiệu,

thấy rõ tầm quan trọng của thương hiệu để từ đó nâng cao chất lượng, đa dạng

hoá mẫu mã sản phẩm đồng thời cần có chiến lược xây dựng thương hiệu phù

hợp, lựa chọn mô hình hợp lý để cho thương hiệu đến được người tiêu dùng,

được người tiêu dùng chấp nhận và yêu mến thương hiệu.

- Nâng cao trình độ nguồn nhân lực trong DN, cơ sở SXKD ở LN bao

gồm cả đội ngũ lao động và đội ngũ quản lý, chủ DN, chủ hộ SXKD. Các DN

phải coi trọng và đầu tư nguồn tài chính thoả đáng cho công tác này thông qua

tăng cường đào tạo và đào tạo lại dưới nhiều hình thức như cử đi học các

179

chương trình đào tạo chính quy, đào tạo tại chức, truyền nghề trực tiếp tại cơ

sở làm việc, tổ chức hoặc tham gia các hội thi tay nghề, tổ chức tập huấn,

cung cấp thông tin cần thiết v.v…

- Đầu tư và thu hút đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, tăng cường hợp tác,

mở rộng liên kết để nâng cao sức cạnh tranh phát triển bền vững và giảm thiểu ô

nhiễm môi trường: thiết bị công nghệ hiện đại là cơ sở để nâng cao năng suất lao

động, hạ giá thành sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh. Các DN, cơ sở SXKD

cũng cần đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất,

khuyến khích các hoạt động cải tiến, hợp lý hoá sản xuất, sáng chế và có thể cả

các nghiên cứu khoa học liên quan. Đồng thời để mở rộng các mối liên kết kinh

tế, các DN, hộ SXKD ở các LN trên từng địa bàn cần chủ động tham gia hợp tác

giữa các DN lớn với các DN nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế, giữa DN

và các hộ SXKD cá thể. Các DN nhỏ, hộ cá thể có thể làm thầu phụ cho DN lớn,

các DN lớn giúp đỡ các DN nhỏ, hộ cá thể trong hoạch định chiến lược phát

triển sản phẩm, đào tạo nhân lực, công nghệ… làm tăng năng lực cạnh tranh và

gia tăng cơ hội tồn tại phát triển của các LN.

- Các DN, hộ SXKD cần lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp: các hộ SXKD

ở các LN cần phải thấy được lợi ích của việc thành lập DN để thực hiện DN hoá.

Hiện nay ở các LN các DN tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn đang là mô hình

tổ chức có số lượng nhiều nhất. Các mô hình này có lợi thế là chủ động và linh

hoạt trong việc ra quyết định SXKD, khả năng giữ bí mật kinh doanh cao song lại

hạn chế về khả năng huy động vốn, tính minh bạch và công khai tài chính. Vì vậy

tuỳ theo từng điều kiện cụ thể các DN, hộ SXKD nên lựa chọn mô hình theo

hướng công ty hoá như công ty cổ phần, công ty TNHH nhiều thành viên…

- Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, văn hoá LN: sức cạnh tranh của DN

LN được nâng cao nếu tạo được môi trường văn hoá tích cực, lành mạnh, phát

huy năng lực của từng người. Văn hoá là một tài sản vô hình của DN, cơ sở

SXKD, của LN, nó là nhân tố rất quan trọng trong việc kết hợp phát triển SXKD

với du lịch LN, nâng cao hình ảnh LN, tăng sức cạnh tranh sản phẩm của LN.

180

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3:

Luận án đề xuất một số quan điểm về hoàn thiện chính sách phát triển

LN ở tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở xem xét vai trò, tiềm năng, thế mạnh của các

LN gắn với mục tiêu phát triển KT – XH của địa phương trong quá trình

CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó, luận án đã chỉ ra những định

hướng và mục tiêu cụ thể với phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Thực tế

cho thấy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong phát triển kinh tế thị

trường và hội nhập vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với sự phát triển các

LN ở tỉnh Bắc Ninh. Xuất phát từ sự phát triển của LN, luận án đề xuất các

giải pháp cơ bản tiếp tục hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển LN, bao

gồm các chính sách về đất đai, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách

thương mại, chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách tạo nguồn nhân

lực, khoa học công nghệ và chính sách bảo vệ môi trường. Đồng thời, luận án

cũng đề xuất một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý của địa phương,

đối với các hiệp hội LN và đối với các doanh nghiệp, các hộ SXKD ở các LN

nhằm tăng thêm tính khả thi cho các giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy

phát triển LN.

181

KẾT LUẬN

Quá trình CNH, HĐH nông thôn nước ta những năm đổi mới đã tạo

điều kiện cho nhiều LNTT phục hồi phát triển, đồng thời xuất hiện những LN

mới. Hoạt động SXKD của các LN ngày càng đa dạng và có những đóng góp

tích cực vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở nước

ta. Thực tế cho thấy, những chuyển biến tích cực của LN là kết quả từ nhiều

nhân tố tác động, trong đó nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng là các chính

sách KT – XH. Với đề tài luận án “Quá trình hoàn thiện các chính sách

thúc đẩy phát triển ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003 - Thực

trạng, kinh nghiệm và giải pháp”, NCS đã hoàn thành các mục tiêu nghiên

cứu và có những đóng góp sau:

1. Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các chính sách đối với

sự phát triển các LN. Về phương diện lý luận, luận án làm rõ khái niệm, đặc

điểm, vai trò và các nhân tố tác động tới sự phát triển của LN. Đặc biệt, luận

án đi sâu phân tích để làm rõ chính sách phát triển LN những đặc trưng và vai

trò của nó đối với sự phát triển KT – XH ở nông thôn nói chung và các LN

nói riêng. Trong điều kiện hội nhập kinh tế và sự cạnh tranh ngày càng gay

gắt. Để làm rõ những vấn đề lý luận, luận án đã tìm hiểu thực tiễn về chính

sách phát triển LN ở một số nước châu Á để rút ra một số bài học kinh

nghiệm có ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam.

2. Luận án đã khái quát điều kiện tự nhiên, KT–XH để thấy thuận lợi,

khó khăn với sự phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh. Đó cũng là cơ sở cho việc

hoạch định và thực thi chính sách thúc đẩy phát triển LN trong quá trình

CNH, HĐH ở địa phương. Luận án đã đi sâu phân tích hệ thống chính sách

của Nhà nước và địa phương có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển các LN ở

tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến nay. Đồng thời, luận án cũng làm rõ tác

182

động của các chính sách đó đến sự phát triển các LN ở tỉnh Bắc Ninh trên hai

khía cạnh thành tựu và hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế. Từ đó,

làm luận án rút ra sáu bài học kinh nghiệm về chính sách phát triển LN ở tỉnh

Bắc Ninh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Đó cũng là cơ sở cho việc đề xuất

những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phù hợp với sự phát triển các LN

ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

3. Để các LN ngày càng có đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh

tế địa phương trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế thế giới, luận

án đã đề xuất sáu quan điểm về hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển

LN, đã làm rõ định hướng và mục tiêu cụ thể phát triển LN ở tỉnh Bắc

Ninh. Đặc biệt là đóng góp của luận án đã đề xuất các giải pháp cơ bản tiếp

tục hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển LN gồm chính sách đất

đai, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thương mại, thị trường,

chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách khoa học công nghệ, chính

sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và chính sách bảo vệ môi trường.

Luận án cũng đã kiến nghị một số vấn đề gắn với cơ chế, chính sách có ảnh

hưởng trực tiếp đến sự phát triển LN đối với các cơ quan quản lý địa

phương, các hiệp hội LN, các doanh nghiệp và hộ SXKD ở LN nhằm tăng

thêm tính khả thi của các giải pháp trong hoàn thiện chính sách phát triển

LN hiện nay ở tỉnh Bắc Ninh.

183

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Bộ Kế hoạch Đầu tư (2004), phát triển cụm công nghiệp LN - Thực trạng và

giải pháp, kỷ yêu hội thảo khoa học, Hà Nội.

2. Bộ Tài chính (2004), chính sách tài chính về đầu tư CSHT nông thôn và phát

triển ngành nghề nông thôn, tham luận.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Bốn năm thực hiện Quyết định

B2/2000/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách khuyến khích

phát triển LN nông thôn.

4. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Ninh, Nghị quyết 12/NQ - TW về xây dựng, phát triển khu

công nghiệp, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, Tỉnh uỷ Bắc Ninh năm 2010.

5. Bộ Công nghiệp, tác dụng của gia nhập WTO đối với phát triển kinh tế Việt Nam,

(23/3/2006).

6. Bộ Thương mại (8/2003) “Tiếp tục đổi mới chính sách và giẩi pháp đẩy mạnh

tiêu thụ sản phẩm của các LNTT ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2010

7. Bộ Thương mại (2006), 20 năm đổi mới cơ chế chính sách thương mại Việt Nam,

những thành tựu và bài học kinh nghiệm, NXB Thế giới Hà Nội 2006.

8. Cục Thống kê Bắc Ninh (2005), thực trạng Doanh nghiệp Bắc Ninh qua kết

quả điều tra năm 2001, 2002, 2003 và 2004, NXB Thống kê, Hà Nội.

9. Trần Thị Minh Châu “ Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam” NXB

Chính trị Quốc gia Hà Nội 2007

10. Nguyễn Cúc (2000), đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp

vừa và nhỏ ở Việt Nam đến năm 2005, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

11. CIEM - Công ty 7 (2006), 6 năm thi hành Luật Doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu

kinh tế Trung ương.

12. CIEM - SIDA (2006), Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong điều kiện

hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia.

13. Nguyễn Trí Dĩnh chủ nhiệm (2005), những giải pháp nhằm phát triển LN ở một

số tỉnh đồng bằng sông Hồng, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội.

184

14. Nghiêm Xuân Đạt, Tô Xuân Dân, Vũ Trọng Lâm (2002), phát triển và quản lý

các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

15. Vương Văn Điểm (2006), thực trạng và giải pháp phát triển LN tỉnh Bắc Ninh,

một số kinh nghiệm tổ chức sản xuất, đổi mới mẫu mã và mở rộng thị trường

nghề mộc mỹ nghệ, báo cáo tham luận, Thừa Thiên Huế.

16. Lê Mạnh Hùng (2005), định hướng và những giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm

phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn tỉnh Hà Tây, Luận

án Tiến sĩ kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

17. Mai Thế Hơn (2000), phát triển LN truyền thống trong quá trình CNH, HĐH ở

vùng ven thủ đô Hà Nội, Luận án Tiến sĩ kinh tế Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh.

18. Nguyễn Đình Hương (2002), giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở

Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

19. Bùi Văn hưng ( 2006) “ Công nghiệp hoá nông thôn Trung Quốc thời kỳ cải

cách và mở cửa” NXB Thống Kê Hà Nội – 2006.

20. Phạm Thuý Hồng (2004), chiến lược cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và

nhỏ ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

21. Mai Thế Hởn chủ biên 2003, phát triển LN truyền thống trong quá trình CNH,

HĐH, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

22. Lê Chi Mai “Những vẫn đề cơ bản về chính sách và chinhs ách công” NXB Đại

học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – 2001.

23. Đặng Thị Loan, KH Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (2006), kinh tế Việt Nam 20

năm đổi mới (1986 - 2006) thành tựu và những vấn đề đặt ra, NXB Đại học

Kinh tế Quốc gia.

24. Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (2003), thực trạng và những

giải pháp nhằm phát triển LN tỉnh Bắc Ninh, kỷ yêu hội thảo khoa học, Hà Nội.

25. Nguyễn Hữu Khải, Đào Ngọc Tiến (2006), thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ

truyền thống, NXB Lao động - Xã hội.

26. Dương Bá Phượng (2000), LN - thành phố quan trọng của công nghiệp nông thôn

cần được bảo tồn và phát triển, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 266 tháng 7/2000.

185

27. Hồ Xuân Phương, Đỗ Minh Tuấn - Chu Minh Phương (2002). Tài chính hỗ trợ

phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, NXB Tài chính, Hà Nội.

28. Dương Bá Phượng (2001), bảo tồn và phát triển các LN trong quá trình CNH,

HĐH, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

29. Vũ Huy Phúc (1999), xây dựng tiêu chí LN và phát triển LN Hà Tây hiện nay,

Sở Nông nghiệp Hà Tây.

30. Chu Tiến Quang chủ biên (2001), việc làm ở nông thôn - thực trạng và giải

pháp, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

31. Sở Tài chính Bắc Ninh (2006), niên giảm tài chính - ngân sách tỉnh Bắc Ninh

2001 - 2006.

32. Sở Công nghiệp Bắc Ninh (2006), Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 02 -

NQ/TW của BCH Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (Khoá 16).

33. Sở Tài chính Bắc Ninh (2005), Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm

2004, 2005.

34. Sở Công nghiệp Bắc Ninh, Phương hướng và giải pháp phát triển LN TTCN

tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ CNH, HĐH, năm 1998.

35. Nguyễn Việt Sáng (2006), tăng cường quản lý Nhà nước nhằm giải quyết vấn

đề ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững các LN ở tỉnh Bắc Ninh, luận

văn Thạc sĩ kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

36. Nguyễn Sĩ (2001), sự phát triển LN truyền thống ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ

đẩy mạnh CNH, HĐH, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân.

37. Trần Công Sách chủ trì (2003), tiếp túc đổi mới chính sách và giải pháp đẩy

mạnh tiêu thụ sản phẩm của LN truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2000,

đề tài khoa học, Hà Nội.

38. Tỉnh uỷ Bắc Ninh, Nghị quyết 04/NQ - TW về phát triển LN TTCN, tỉnh Bắc

Ninh năm 1998.

39. Tỉnh uỷ Bắc Ninh, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ 15, năm 1997.

40. Tỉnh uỷ Bắc Ninh, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ 16, năm 2001.

41. Tỉnh uỷ Bắc Ninh, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ 17, năm 2006.

186

42. Trung tâm biên soạn từ điển Bắch khoa Việt nam “Từ điển Bách khoa Việt Nam”

Hà Nội-1995.

43. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân “Chính sách trong quản lý kinh tế xã hội”

NXB Khoa học Kỹ thuật- 1998.

44. Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DNNVV tại Hà Nội (TAC - HM) (2006), kết quả

khảo sát doanh nghiệp năm 2005 tại 30 tỉnh thành phố phía Bắc, NXB Bưu

điện, Hà Nội.

45. Chu Thị Thuỷ (2003), một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh

doanh của Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, Luận văn Tiến sĩ kinh tế,

trường Đại học Thương mại, Hà Nội.

46. Đinh Thị Thơm (2005), kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới, thực

trạng và những vấn đề, NXB Khoa học xã hội.

47. Hoàng Trung Tập (2002), khôi phục phát triển LN tiểu thủ công nghiệp ở tỉnh

Bắc Ninh trong những năm tới, luận văn tốt nghiệp Đại học Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh, Hà Nội.

48. Hà Văn Thuỷ (2006), quá trình phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại

Hải Phòng từ năm 1990 đến nay, thực trạng và giải pháp, luận văn và Thạc sĩ

kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

49. Lê Khắc Triết (2005), đổi mới và phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam, thực

trạng và giải pháp, NXB lao động, Hà Nội.

50. Nguyễn Tiệp (2005), nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô

thị hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội, NXB Lao động - Xã hội.

51. Trang Thị Tuyết, 2006, một số giải pháp hoàn thiện nhà nước đối với doanh

nghiệp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

52. UBND tỉnh Bắc Ninh, văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh Bắc

Ninh ban hành năm 2002, 2003, 2004 ,2005.

53. Trần Minh Yến (2003), phát triển LN truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong

quá trình CNH, HĐH, luận án Tiến sĩ kinh tế, Viện Kinh tế học, trung tâm

Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia.

187

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Nguyễn Như Chung (2004) - “Định dạng và quản lý hoạt động tài chính thôn”.

Tạp chí Thanh tra số 4 năm 2004, trang 31.

2. Nguyễn Quốc Chung (2007) - “Nợ đầu tư XDCB ở tỉnh Bắc Ninh thực trạng và

kiến nghị” - Kỷ niệm toạ đàm khoa học: Bộ Tài chính - Dự án đào tạo Tài chính

công Việt - Pháp FSP - ADETEF, Hà Nội ngày 23/3/2007, trang 18.

3. Nguyễn Quốc Chung (2007) - “Cơ cấu chi ngân sách địa phương: Thực trạng,

các nhân tố chi phối và vai trò đối với việc phát triển KT - XH ở tỉnhBắc Ninh” -

Hội thảo Quốc tế cơ cấu chi ngân sách Nhà nước - Viện Khoa học Tài chính -

Dự án VIE/03/010 UNDP Việt Nam.

4. Nguyễn Như Chung (2008) - “Hoàn thiện các chính sách phát triển LN tỉnh Bắc Ninh”

- Tạp chí thị trường giá cả, số tháng 3 năm 2008, trang 16.

5. Nguyễn Như Chung (2008) - “Nguồn vốn cho đầu tư phát triển du lịch LN tỉnh

Bắc Ninh” - Tạp chí thị trường giá cả, số đặc biệt tết Mậu Tý 2008, trang 19.

188

PHỤ LỤC 1

DANH MỤC LÀNG NGHỀ TỈNH BẮC NINH

Số LN, tên làng, xã Tên sản phẩm chính

TT Danh mục LN Số

làng Tên làng, xã

I HUYỆN YÊN PHONG 16

1 Cầu Giữa - Xã Yên Phụ Mỳ gạo, bún khô, bánh đa nem

2 An Ninh - Xã Yên Phụ Mỳ gạo, bún khô, bánh đa nem

3 Cầu Gạo - Xã Yên Phụ Mỳ gạo, bún khô, bánh đa nem

4 Đức Lân - Xã Yên Phụ Mỳ gạo, bún khô, bánh đa nem

5 An Tập - Xã Yên Phụ Mỳ gạo, bún khô, bánh đa nem

1 Sản xuất các sản phẩm

từ tinh bột

6 Thôn Đoài - Xã Tam Giang Mỳ gạo, bún khô, bánh đa nem

1 Quan Đình - Xã Văn Môn Rượu 2 Sản xuất rượu

2 Đại Lâm - Xã Tam Đa Rượu

3 Dịch vụ vật tư 1 Quan Độ - Xã Văn Môn Vật tư tổng hợp

1 Đông Xuất - Xã Đông Thọ Cày bừa, hàng dân dụng 4 Sản xuất đồ gỗ công cụ

sản xuất, mộc - đơn giản 2 Trung Bạn - Xã Đông Thọ Cày bừa, hàng dân dụng

1 Dương Ó - Xã Phong Khê Giấy các loại 5

Sản xuất giấy

2 Đào Xá - Xã Phong Khê Giấy các loại

6 Đúc nhôm 1 Mẫn Xá - Xã Văn Môn Nồi, xoong, chảo

7 Tơ tằm 1 Vọng nguyệt - Xã Tam Giang Tơ tằm

8 Mộc cao cấp: tủ, giường 1 Khúc Toại - Xã Khúc Xuyên Giường, tủ, bàn ghế

II HUYỆN THUẬN THÀNH 5

1 Làm tranh dân gian

giấy màu

1 Đông Hồ - Xã Song Hồ Tranh dân gian giấy màu

2 Nuôi, ươm giống thuỷ sản 1 Mão Điền - Xã Mão Điền Cá con

3 Chế biến thực phẩm từ

rau quả

1 Trà Lâm - Xã Trí Quả Đậu phụ

4 Sản xuất các sản phẩm

từ tre, nứa, lá

1 Thôn Cả - Thị trấn Hồ Thúng, rổ, rá

5 Tơ tằm 1 Đại Mão - Xã Hoài Thượng Tơ tằm, kén

189

III HUYỆN GIA BÌNH 8

1 Đúc và gia công đồng, nhôm 1 Đại Bái - Xã Đại Bái Đồng gò, đúc, nhôm gò, đúc

1 Cao Thọ (Đức) - Xã Vạn Ninh Giường, tủ, bàn ghế, cày, bừa 2

Mộc dân dụng, cày, bừa

2 Kênh Phố - Xã Cao Đức Giường, tủ, bàn ghế, cày, bừa

1 Môn Quảng Phú - Xã

Lãng Ngâm

Nón lá, tre đan, cần câu

2 Ngăm Mạc - Xã Lãng Ngâm Nón lá, tre đan, cần câu

3 Lập Ái - Xã Song Giang Nón lá, tre đan, cần câu

3

Sản xuất các sản phẩm

từ tre, nứa, lá

4 Xuân Lai - Xã Xuân Lai Nón lá, tre đan, cần câu

4 Thêu ren XK 1 Triệu Quang - Xã Đại Lai Thêu ren XK

IV HUYỆN LƯƠNG TÀI 6

1 Đúc và gia công đồng, nhôm 1 Quảng Bố - Xã Quảng Phú Nồi, xoong, mâm, chi tiết khoá

2 Đan lưới vó 1 Lai Tê – Xã Trung Chính Lưới màn

3 Nấu rượu 1 Mi Xuyên - Xã Mĩ Hương Rượu gạo

4 Mộc dân dụng, cày, bừa 1 Tuyên Bá - Xã Quảng Phú Giường, tủ, bàn ghế, cày, bừa

5 Vận tải thuỷ 1 Hoàng Kênh - Xã Trung Kênh Vận tải

6 Chế biến lương phẩm từ gạo 1 Tử Nê – Xã Tân Lãng Mì gạo, bánh đa

V HUYỆN QUẾ VÕ 5

1 Quế Ổ - Xã Chi Lăng Bị cói, chiếu đan, giỏ, thúng,

xề, xảo

1

Sản xuất các sản phẩm

từ tre, nứa, cói

2 Đức Lai - Xã Chi Lăng

Bị cói, chiếu đan, giỏ,

thúng, xề, xảo

1 Phấn Trung - Xã Phù Lãng Chum, vại, chậu, âu, vò… 2

Sản xuất đồ gốm

2 Đoàn Kết - Xã Phù Lãng Chum, vại, chậu, âu, vò…

3 Sản xuất công cụ cầm

tay bằng kim loại

1 Việt Vân - Xã Việt Thống Dao, kéo, liềm, cuốc, xẻng

190

VI HUYỆN TIÊN DU 4

1 Tiền Trong - Xã Khắc Niệm Bún, bánh 1 Sản xuất các sản phẩm

từ tinh bột 2 Tiền Ngoài - Xã Khắc Niệm Bún, bánh

1 Đình Cả - Xã Nội Duệ Xây dựng 2

Xây dựng

2 Duệ Đông - Xã Vân Tương Xây dựng

VII HUYỆN TỪ SƠN 18

1 Trịnh Xá - Xã Châu Khê Sắt, thép các loại 1

Sản xuất thép

2 Đa Hội - Xã Châu Khê Sắt, thép các loại

1 Đồng Kỵ-Xã Đồng Quang Đồ gỗ mỹ nghệ, giường,

tủ, tranh khắc

2 Hương Mạc-Xã Hương Mạc Đồ gỗ mỹ nghệ, giường,

tủ, tranh khắc

3 Mai Động- Xã Hương Mạc Đồ gỗ mỹ nghệ, giường, tủ,

tranh khắc

4 Kim Thiều - Xã Hương Mạc Đồ gỗ mỹ nghệ, giường,

tủ, tranh khắc

5 Kim Bảng - Xã Hương Mạc Đồ gỗ mỹ nghệ, giường,

tủ, tranh khắc

6 Phù Khê Đông-Xã Phù Khê Đồ gỗ mỹ nghệ, giường,

tủ, tranh khắc

7 Dương Sơn - Xã Tam Sơn Đồ gỗ mỹ nghệ

2 Mộc dân dụng, mỹ nghệ

8 Phù Khê Thượng - Xã

Phù Khê

Đồ gỗ mỹ nghệ, giường,

tủ, tranh khắc

1 Hồi Quan - Xã Tương Giang Màn, khăn mặt, khăn tay 3

Dệt

2 Tiêu Long - Xã Tương Giang Màn, khăn mặt, khăn tay

1 Phù Lưu - Xã Tân Hồng Thương nghiệp 4

Thương nghiệp

2 Đình Bảng-Xã Đình Bảng Thương nghiệp

1 Làng Cẩm - Xã Đồng Nguyên Rượu gạo 5

Nấu rượu

2 Làng Xuân Thu - Xã

Đồng Nguyên

Rượu gạo

1 Vĩnh Kiều (Viềng) - Xã

Đồng Nguyên

Xây dựng 6

Xây dựng

2 Tiêu Sơn-Xã Tương Giang Xây dựng

TOÀN TỈNH BẮC NINH 62

191

PHỤ LỤC 2

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC KCN NHỎ VÀ VỪA, CỤM LÀNG NGHỀ ĐẾN 2010

Địa phương

TT Tên khu, cụm CN Ngành nghề

DT (ha)

Năm QH

Năm XD

Ghi chú

Thị xã Bắc Ninh (1)

1 Khu CN Võ Cường

mở rộng Đa nghề

12 2007 2008 Thị xã đề nghị

2 Cụm CN Tam Sơn Đa nghề

20 2008 2009 Huyện đề nghị

3 Cụm CN LN Phù Khê Mộc MN

15 2008 2009 Huyện đề nghị

4 Cụm CN LN Hương Mạc Mộc MN

15 2008 2009 Huyện đề nghị

5 KCN Tân Hồng -

Đồng Quang mở rộng Đa nghề

9.5 2007 2008 Huyện đề nghị (đã phê duyệt

DAĐT)

Huyện Từ Sơn (5)

6 KCN - dịch vụ Phù Chẩn Đa nghề

15 2007 2008 Đã khảo sát địa điểm

7 KCN Tân Chi VLXD 70 2007 2008 Huyện đề nghị

8 KCN Nội Duệ Đa nghề

15 2007 2008 Huyện đề nghị

9 KCN Việt Đoàn CBNS 50 2008 2009 Huyện đề nghị

10 KCN Liên Bão Đa nghề

40 2008 2009 Huyện đề nghị

Huyện Tiên Du

(5)

11 KCN Tri Phương CBNS 40 2008 2010 Huyện đề nghị

12 KCN Châu Phong Đa nghề

50 2007 2008 Huyện đề nghị

13 KCN Nhân Hoà Đa nghề

88 2007 2008 Huyện đề nghị

14 KCN Đào Viên - Ngọc

Xá Đa nghề

60 2007 2008 Huyện đề nghị

15 Cụm CN LN Phù Lãng Gốm 40 2007 2008 Do huyện đề nghị

16 KCN Yên Giả Đa nghề

100 2008 2010 Huyện đề nghị

Huyện Quế Võ (6)

17 KCN Bồng Lai Đa nghề

50 2008 2010 Do huyện đề nghị

192

18 Cụm CN LN Phong

Khê II

SX giấy, bao bì

11 2007 2008 Huyện đề nghị

19 Cụm CN LN Tam

Giang

Tơ tằm, dệt lụa

10 2007 2008 Huyện đề nghị

Huyện Yên

Phong (3)

20 Cụm CN LN Văn Môn Cô đúc nhôm

35 2007 2008 Huyện đề nghị

21 KCN Trí Quả Đa nghề

50 2007 2008

VB cho KS-QH của UBND tỉnh số 158/CN.XDCB-

CT ngày 03/02/2005

22 KCN Hà Mãn Đa nghề

35 2007 2008

VB cho KS-QH của UBND tỉnh số 156/CN.XDCB

-CT ngày 03/02/2005

23 KCN An Bình Dệt may

100 2008 2009

VB cho KS-QH của UBND tỉnh số 160/CN.XDCB- CT ngày 03/02/2005

Huyện Thuận

Thành (4)

24 Cụm cảng, CN-DV

TTHồ Đa nghề

20 2008 2009 Sở Công

nghiệp đề nghị

25 KCN Nhân Thắng Đa nghề

20 2008 2010 Huyện đề nghị

26 KCN Thị trấn Gia Bình

Đa nghề

20 2008 2009 Huyện đề nghị

27 Cụm CN LN Xuân Lai Chế biến mây tre

15 2007 2008 Huyện đề nghị

Huyện Gia Bình

(4)

28 Cụm cảng, CN-DV

Cao Đức, xã Vạn Ninh Đa nghề

30 2009 2010 Huyện đề nghị

Huyện Lương Tài (1)

29 Cụm cảng, CN-DV Kênh Vàng – Trung Kênh

Đa nghề

50 2008 2010 Sở Công

nghiệp đề nghị

Tổng DT 1085.5

193

PHỤ LỤC 3

KẾT QUẢ KHẢO SÁT DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

TỈNH BẮC NINH 2005

1. Về chủ doanh nghiệp: Chủ doanh nghiệp là nam 88,42%, nữ 11,58%. Trình

độ chủ doanh nghiệp là trên đại học 0,68%, đại học và cao đẳng 25,38%, trung học

chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật 16,43%, trình độ thấp hơn còn lại 57,49%.

Chủ doanh nghiệp có độ tuổi dưới 30 tuổi 7,75%, từ 30-40 tuổi 31,77%, từ 41-50

tuổi 39,69%, trên 50 tuổi 20,52%.

2. Về sử dụng công nghệ thông tin: Đã sử dụng máy vi tính 50,26%, có mạng

LAN nội bộ 5,71%, đã xây dựng Website 0,85%.

3. Về trình độ công nghệ: 7,75% doanh nghiệp tự xác định là công nghệ tiên

tiến, 81,71% doanh nghiệp tự xác định là thuộc loại trung bình, 10,54% số doanh

nghiệp còn lại là công nghệ lạc hậu và không đánh giá.

4. Về các khó khăn mà doanh nghiệp thường gặp:

- Khó khăn về tài chính (vốn): 65,42%.

- Khó khăn về mở rộng thị trường: 56,81%.

- Khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuât: 50,34%.

- Khó khăn về giảm chi phí sản xuất: 27,17%.

- Khó khăn về thiếu các ưu đãi về thuế; 15,59%.

- Khó khăn về thiếu thông tin thị trường: 13,29%.

- Khó khăn về đào tạo nguồn nhân lực: 8,26%.

- Khó khăn về phát triển sản phẩm mới: 14,82%.

- Khó khăn về tiếp cận công nghệ mới: 12,86%.

- Khó khăn về xử lý môi trường: 2,81%.

5. Về nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp:

- Đào tạo về Tài chính, kế toán: 32,96%.

- Đào tạo về quản trị doanh nghiệp: 31,18%.

- Đào tạo về phát triển thị trường: 20,27%.

194

- Đào tạo về lập kế hoạch, chiến lược kinh doanh: 18,67%.

- Đào tạo về phát triển sản phẩm mới: 12,35%.

- Đào tạo về kỹ năng đàm phán và ký kết hợp đồng kinh tế: 12,35%.

- Đào tạo về quản lý nguồn nhân lực: 10,65%.

- Đào tạo về công nghệ thông tin trong doanh nghiệp: 10,22%.

- Đào tạo về quản lý kỹ thuật: 6,30%.

- Đào tạo về chất lượng sản phẩm: 8,18%.

- Đào tạo về kỹ thuật lãnh đạo và thuyết trình: 5,62%.

6. Nhu cầu cung cấp thông tin kỹ thuật, công nghệ:

- Nhu cầu cung cấp thông tin về cơ chế chính sách liên quan đến doanh

nghiệp: 36,59%.

- Nhu cầu cung cấp thông tin về công nghệ mới; 26,98%.

- Nhu cầu cung cấp thông tin về thị trường: 22,33%.

- Nhu cầu cung cấp thông tin về năng lực sản xuất sản phẩm cùng loại với

doanh nghiệp: 21,4%.

7. Về khả năng tiếp cận các nguồn vốn của Nhà nước:

- Số doanh nghiệp có khả năng tiếp cận được: 53,89%.

- Số doanh nghiệp khó tiếp cận được: 25,75%.

- Số doanh nghiệp không tiếp cận được: 20,36%.

8. Về khả năng tiếp cận các nguồn vốn khác: Có tiếp cận 59,96%; khó khăn

tiếp cận 19,62%; không tiếp cận được 20,42%.

9. Về khả năng tham gia các chương trình xúc tiến thương mại của Nhà nước:

Tham gia được: 4,65%; khó tham gia: 17,48%; không được tham gia: 77,87%.

10. Về khả năng hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp lớn: Đã tham gia

6,71%; khó tham gia 10,11%; chưa được tham gia: 83,18%.

(Nguồn: Báo cáo khảo sát doanh nghiệp 2005 của Sở Kế hoạch- Đầu tư

tỉnh Bắc Ninh).

Gửi nhận xét của bạn về tài liệu này
comments powered by Disqus