Thành viên idoc2012

LUẬN VĂN: Hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình

- 12 tháng trước
Chia sẻ
/7 trang
Tải xuống miễn phí
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO 0906.345.800
Tải xuống miễn phí (7 trang)
Thành viên idoc2012

LUẬN VĂN: Hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình

- 12 tháng trước
545
Báo lỗi

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động thương mại bùng nổ mạnh mẽ với xu hướng toàn cầu hoá sâu sắc. cung với nhu cầu ngày càng phát triển của con người, các dịch vụ hàng hoá ngày càng được mở rộng. Trong sự hỗn độn của thị trường đó, không thể thiếu một trung gian tài chính quan trọng, một doanh nghiệp mà bất cứ doanh nghiệp nào khác cũng cần đó là các ngân hàng. Cùng với thời gian ngân hàng đã phát triển từ ngân hàng một cấp thành ngân hàng hai cấp. Với hệ thống ngân hàng hai cấp các ngân hàng đã từng bước hoàn thiện và thực hiện vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường.

Nội dung

LUẬN VĂN:

Hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh

Ngân hàng Công thương Ba Đình

Lời mở đầu

Trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trên đà đi lên và hội

nhập quốc tế. Ngân hàng thương mại Việt Nam, một trong các tổ chức tài chính quan trọng

nhất của nền kinh tế không nằm ngoài quỹ đạo này.

Trong giai đoạn hiện đại hoá toàn hệ thống ngân hàng, các Ngân hàng thương mại luôn đa

dạng hoá các nghiệp vụ của mình. Bên cạnh những nghiệp vụ truyền thống là cho vay, nhận

tiền gửi, thanh toán... thì những nghiệp vụ mới cũng được hình thành như bảo lãnh, cho thuê

tài chính, kinh doanh ngoại hối... Đối với các Ngân hàng thương mại, hoạt động bảo lãnh mới

chỉ là bước đầu và đang còn mới mẻ với khách hàng của họ, đặc biệt trong điều kiện kinh tế

hiện nay thì việc thực hiện nghiệp vụ này không phải là đơn giản. Đó là nghiệp vụ mang lại

thu nhập cao nhưng rủi ro cũng không nhỏ.

Nhận thức được điều này, em xin chọn đè tài: “Hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân

hàng Công thương Ba Đình” làm chuyên đề thực tập.

Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:

Chương 1: Tín dụng bảo lãnh trong Ngân hàng

Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại NHCT Ba Đình

Chương 3: Giải pháp nâng cao hoạt động bảo lãnh tại NHCT Ba Đình

Chương 1:

Tín dụng bảo lãnh trong ngân hàng

1. Khái quát về ngân hàng thương mại và tín dụng ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động thương mại bùng nổ mạnh mẽ với xu

hướng toàn cầu hoá sâu sắc. cung với nhu cầu ngày càng phát triển của con người, các dịch vụ

hàng hoá ngày càng được mở rộng. Trong sự hỗn độn của thị trường đó, không thể thiếu một

trung gian tài chính quan trọng, một doanh nghiệp mà bất cứ doanh nghiệp nào khác cũng cần

đó là các ngân hàng.

Cùng với thời gian ngân hàng đã phát triển từ ngân hàng một cấp thành ngân hàng hai

cấp. Với hệ thống ngân hàng hai cấp các ngân hàng đã từng bước hoàn thiện và thực hiện vai

trò của mình trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự

phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng

thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân

hàng. Chúng ta sẽ tìm hiểu bản chất và vai trò của ngân hàng thương mại Việt Nam để hiểu

được tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế hiện nay.

1.1. Khái niệm và bản chất của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trên lĩnh

vực tiền tệ, thực hiện các công việc chủ yếu là cho vay, nhận tiền gửi và thanh toán.

Như vậy NHTM cũng là một doanh nghiệp thực hiện công việc kinh doanh, nhưng khác

với các doanh nghiệp khác là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, chúng không nằm ngoài quy

luật của hoạt động kinh doanh đó là kiếm lời và an toàn.Vậy thì bằng cách nào các ngân hàng

thu được lợi nhuận cao nhất

mà chúng có thể, chung hoạt động như thế nào chúng ta sẽ xem qua các tài sản nợ và tài

sản có của ngân hàng để hiểu rõ đặc điểm của nó.

NHTM thực hiện kinh doanh bằng cách bán tài sản nợ và dùng tiền để mua các tài sản

có, ngoài ra còn thực hiện các dịch vụ nhằm thu phí dịch vụ.

Tài sản nợ của NHTM hay còn gọi là nguồn vốn, bao gồm những khoản tiền gửi có thể

phát séc, khoản tiền gửi phi giao dịch, các khoản đi vay và vốn của ngân hàng.

Tiền gửi phi giao dịch là tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kì hạn, khoản tiền này chiếm một tỷ

trọng lớn (51%), những khoản tiền này chỉ dùng để gửi tiết kiệm không dùng để giao dịch.

NHTM thực hiện nhận tiền gửi và huy động tiền gửi từ nhân, các tổ chức kinh tế và có trách

nhiệm hoàn trả đã tạo nên một phần tài sản nợ cho ngân hàng.

Khoản vốn của ngân hàng chiếm tỷ trong nhỏ nhất (7%), là phần chênh lệch giữa tài sản

nợ và tài sản có. Các vốn này của ngân hàng là một cái đệm để chống đỡ sụt giảm giá trị của

tài sản có, tức là điều dẫn đến ngân hàng không trả được nợ. Khoản vốn nay trích từ một phần

lợi nhuận giữ lại và bán cổ phiếu mới

Tài sản có của ngân hàng là kết qủa của việc sử dụng vốn của ngân hàng đó. Những tài

sản có là những tài sản mang lại thu nhập cho ngân hàng,tức những tài sản thu được thiền trả

lãi và các phí dịch vụ khác tạo nên lợi nhuận cho ngân hàng.

Tài sản có bao gồm tiền dự trữ, tiền mặt trong quá trình thu, tiền gửi ở các ngân hàng

khác, các chứng khoán, tiền cho vay và những tài sản có khác.

Tiền cho vay chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong tài sản có và mang lại lợi nhuận chủ yếu

cho ngân hàng.

Việc chuyển các tài sản nợ thành các tài sản có ngân hàng đã cung cấp các dịch vụ cho

công chúng như thanh toán, phân tích tín dụng... và cũng giống

như bất cứ quá trình sản xuất khác trong một hàng kinh doanh ngân hàng tạo ra được các

dịch vụ hữu ích mà chi phí thấp nhất và có được doanh thu cao nhờ tài sản có thì ngân hàng

đó sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại sẽ bị tổn thất và đào thải.

Nhưng hoạt động ngoại bản quyết toán là việc mua bán những công cụ tài chính, bán các

món cho vay và thu phí từ các dịch vụ. Trong môi trường cạnh tranh hiện naythì các ngân

hàng luôn quan tâm đến việc kiếm lời từ những hoạt động ngoại bản này.

Như vậy thông qua các tài sản của ngân hàng ta thấy rằng ngân hàng là tổ chức thu hút

tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh

nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng là tổ chức cho vay

chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với nhà nước. Khi

khách hàng có nhu cầu về vốn, mua sắm, dự trữ hay các khoản đầu tư khác thì ngân hàng sẽ

cung cấp tín dụng, khi có nhu cầu thanh toán thì ngân hàng sẽ cung cấp các dịch vụ đa dạng

như thanh toán băng séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi... và khi khách hàng cần những thông tin

để lập kế hoạch dự án thì họ thơừng tìm đến các ngân hàng để nhờ tư vấn.

1.2. Một số dịch vụ cơ bản của ngân hàng

Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp.

Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào khả năng đáp ứng các dịch vụ tài chính mà xã hội

có nhu cầu. Ngân hàng có một số dịch vụ cơ bản sau:

1.2.1. Mua bán ngoại tệ

Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua, bán) ngoại

tệ: Mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.

1.2.2. Nhận tiền gửi

Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi cách để huy

động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi thanh toán và tiết

kiệm của khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ đế bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn

trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng

đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu

tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh.

1.2.3. Cho vay

1.2.3.1. Cho vay thương mại

Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối

với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước).

Danh mục tài liệu tham khảo

1. TS. Phan Thị Thu Hà, Ngân hàng thương mại, NXB. Thống kê, 2004.

2. PTS. Nguyễn Ngọc Hùng, Lý thuyết tiền tệ - ngân hàng, NXB. Tài chính, 1998.

3. Quy chế bảo lãnh ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành.

4. CTV, "Hoạt động của Ngân hàng Công thương Việt Nam năm 2004 và định hướng

năm 2005", Tạp chí Ngân hàng, số 2 năm 2005.

5. Quyết định số 151/QĐ-HĐQT-NHCT1 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Công thương

Việt Nam phê duyệt về "Mô hình tổ chức của chi nhánh NHCT theo dự án hiện đại hoá

ngân hàng".

6. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2004, mục tiêu kinh doanh năm 2005 của

NHCT Ba Đình.

7. Báo cáo hoạt động bảo lãnh năm 2003, 2004 của NHCT Ba Đình.

Có thể bạn quan tâm
Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
372/10 Điện Biên Phủ, Phường 17, Q.Bình Thạnh, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT
Lên đầu trang