Chia sẻ Download
Tài liệu Lịch sử bóng chuyền I
/7 trang
Thành viên idoc2012

Lịch sử bóng chuyền I

- 12 tháng trước
273
Báo lỗi

Lịch sử bóng chuyền I [sửa] Nguồn gốc của bóng chuyền Vào ngày 9 tháng 2, 1895 ở Holyoke, Massachusetts, Hoa Kỳ, William G.Morgan, một hướng dẫn viên môn giáo dục thể chất YMCA, đã tạo nên một môn thể thao mới gọi là "Mintonette".

Nội dung
Microsoft Word - Bong chuyen I

Lịch sử bóng chuyền I

[sửa] Nguồn gốc của bóng chuyền

Vào ngày 9 tháng 2, 1895 ở Holyoke, Massachusetts, Hoa Kỳ, William G.Morgan, một hướng dẫn viên môn giáo dục thể chất YMCA, đã tạo nên một môn thể thao mới gọi là "Mintonette". Môn này được xem là một trò giải trí được khuyên chơi trong nhà và với số lượng người chơi không bị hạn chế. Mintonette đã lấy một số đặc trưng của nó từ môn tennis và bóng ném. Một môn thể thao trong nhà khác, bóng rổ, cũng được tạo ra và chỉ cách nơi đây 10 dặm (16 kilomet), ở thành phố Springfield, Massachusetts chỉ 4 năm về trước. Mintonette đã được thiết kế để trở thành một môn thể thao trong nhà ít thô bạo hơn so với bóng rổ và dành cho các thành viên cũ của YMCA, trong khi vẫn cần một chút nỗ lực thể thao. Những luật đầu tiên, được viết bởi William G Morgan, đòi hỏi một cái lưới cao 6 ft 6 in (1.98 m), một sân 25×50 ft (7.62×15.24 m), và không giới hạn người chơi. Trận đấu bao gồm 9 lượt với 3 lượt giao banh cho mỗi đội ở mỗi lượt, và không giới hạn số lần chạm banh cho mỗi đội trước khi đưa banh qua phần sân đối phương. Khi phát banh lỗi, đội sẽ còn thêm một lần phát banh. Đánh banh qua lưới được xem là phạm lỗi (cùng với việc mất điểm hoặc phát ra ngoài)—trừ phi đó là lần phát bóng đầu tiên.

Sau một lần qua sát, Alfred Halstead, chú ý tính volleying nature của trò chơi trong trận thể thao biểu diễn đầu tiên vào năm 1896, tại trường quốc tế đào tạo YMCA (hiện giờ gọi là Springfield College), trò chơi nhanh chóng được biết đến với tên “volleyball” (bóng chuyền) (ban đầu được phát âm thành hai tiếng: “volley ball”). Luật của bóng chuyền được xây dựng sơ lược bởi trường quốc tế đào tạo YMCA và trò chơi phát triển rộng ra ở nhiều YMCA khác.[2][3]

[sửa] Những cải tiến và phát triển sau này

Qủa bóng đầu tiên được sử dụng hiện vẫn còn đang tranh cãi; một vài nguồn dẫn nói rằng Spalding đã tạo ra quả bóng đầu tiên vào năm 1896, trong khi các nguồn khác nói rằng nó được tạo ra vào năm 1900. [4][5][6] Các luật chơi phát triển dần theo thời gian: ở Philippines vào năm 1916, kĩ năng và sức mạnh của chuyền 2 và đập banh đã được xây dựng, và 4 năm sau luật “3 chạm” và luật cấm phát banh từ hàng phía sau được phát triển. Vào năm 1917, trò chơi chuyển từ 21 sang 15 điểm. Vào năm 1919, khoảng 16 000 quả bóng chuyền được sản xuất bởi American Expeditionary Force cho quân đội của họ và Những quốc gia thuộc khối Đồng Minh, điều đa góp phần phát triển bóng chuyền ở các nước mới.[4]

Quốc gia đầu tiên ngoài Mỹ công nhận bóng chuyền là một môn thể thao là Canada vào năm 1900.[4] Hiệp hội quốc tế, Fédération Internationale de Volleyball (FIVB), được thành lập vào năm 1947, và giải Vô địch Quốc tế đầu tiên được tổ chức vào năm 1949 dành cho nam và năm 1952 dành cho nữ.[7] Môn thể thao này giờ trở nên phổ biến tại Brazil, Châu Âu (nơi mà đặc biệt là Ý, Hà Lan, và các nước Đông Âu hiện là cường trong môn thể thao này từ thập niên 1980), ở Nga, và một vài nước khác gồm Trung Quốc và phần lớn các quốc gia ở Châu Á, cũng như ở Mỹ.[2][3][7]

Bóng chuyền bãi biển, phiên bản khác chơi trên cát của bóng chuyền với chỉ 2 người mỗi bên, được chấp nhận bởi FIVB để trở thành một môn thể thao vào năm 1987 và thêm vào các môn thể thao trong chương trình Olympic vào Thế vận hội Mùa hè 1996.[4][7] Bóng chuyền còn là một môn thể thao trong Paralympics tổ chức bởi World Organization Volleyball for Disabled (Hiệp hội bóng chuyền cho người tàn tật).

[sửa] Bóng chuyền trong Thế vận hội

Bài chi tiết: Bóng chuyền trong Thế vận hội Mùa hè

Lịch sử của bóng chuyền Olympic đánh dấu từ Thế vận hội Mùa hè 1924 tại Paris, nơi mà bóng chuyền được như một phần mô tả sự kiện thể thao của Châu Mĩ.[8] Sau khi sự thành lập của FIVB và một số hiệp hội châu lục, bóng chuyền bắt đầu được đề nghị để trở một môn thể thao chính thức. Vào năm 1957, một giải đấu đặc biệt được tổ chức tại kì họp IOC lần thứ 53 ở Sofia, Bulgaria để ủng hộ cho đề nghị này. Cuối cùng yêu cầu này cũng được chấp thuận, và bóng chuyền chính thức trở thành môn thể thao nằm trong chương trình thi đấu tại Thế vận hội Mùa hè 1964. [4]

Giải đấu bóng chuyền Olympic ban đầu chỉ là một giải đấu bình thường: tất cả các đội thi đấu với các đội còn lại và được xếp hạng theo tỉ lệ chiến thắng, trung bình set, và trung bình điểm. Một điểm bất cập của hệ thống giải đấu vòng tròn tính điểm là những đội chiến thắng có thể được dự đoán từ trước khi giải đấu kết thúc, điều này lằm cho khán giả mất đi sự hứng thú đối với kết quả của các trận đấu còn lại. Để đối phó với trình huống này, giải đấu được chia ra làm 2 nhóm cùng với một vòng đấu cuối cùng loại bỏ các giải đấu bao gồm cá trận tứ kết, bán kết và chung kết vào năm 1972. Con số các đội tham gia giải đấu Olympic tăng dần qua các năm từ 1964. Từ 1996, các sự kiện cho cả nam lẫn nữ có đến 12 quốc gia thi đấu. Mỗi liên đoàn bóng chuyền châu lục đều có ít nhất một hiệp hội của một quốc gia nằm trong Olympic.

Liên Xô từng giành được huy chương vàng nam bóng chuyền vào năm 1964 và 1968. Sau khi giành huy chương đồng vào năm 1964 và bạc vào

năm 1968, Nhật cuối cùng cũng có được tấm huy chương vàng bóng chuyền nam vào năm 1972. Huy chương vàng nữ thuộc về Nhật vào năm 1964 và 1976. Năm đó, sự ra đời của kĩ năng phòng thủ mới, tấn công sau hàng chắn, đã giúp Ba Lan vượt qua Liên Xô sau 5 set đấu sít sao. Từ lúc đội bóng chuyền nam mạnh nhất lúc bấy giờ thuộc về khối Đông Âu, việc tẩy chay sự dẫn đầu của Mĩ tại Thế vận hội Mùa hè 1980 đã không có nhiều ảnh hưởng đến môn bóng chuyền nam như ở bóng chuyền nữ. Liên Xô sưu tầm huy chương vàng ở môn bóng chuyền nam thứ 3 của họ với chiến thắng 3-1 trước Bun-ga-ri (đội bóng chuyền nữ của họ cũng có được tấm huy chương vàng thứ 3). Với việc tẩy chay Liên Xô ở Thế vận hội Mùa hè 1984 tại Los Angeles, đội Mĩ đã vượt qua Brazil trong trận chung kết để dành tấm huy chương vàng. Ý giành được chiếc huy chương đầu tiên (huy chương đồng nam) vào năm 1984, báo hiệu cho sự phát triển vượt bậc trong bóng chuyền Ý.

Tại Thế vận hội Mùa hè 1988, Karch Kiraly và Steve Timmons đưa đội tuyển Mĩ đến với tấm huy chương vàng thứ 2 liên tiếp của họ. Vào năm 1992, việc đánh giá thấp Brazil đã khiến các đội được yêu thích như C.I.S., Hà Lan và Ý gây thất vọng trước cơ hội giành được tấm huy chương vàng Thế vận hội đầu tiên của họ. Đội á quân Hà Lan, huy chương bạc năm 1992, trở lại dưới sự dẫn dắt của Ron Zwerver và Olof van der Meulen để giành chức vô địch vào năm 1996 sau chiến thắng 5 set trước Ý. Huy chương đồng nam năm 1996, Serbia và Montenegro (tham gia khi còn là Liên bang Nam Tư vào năm 1996 và 2000) đánh bại Nga trong trận chung kết vào năm 2000, giành tấm huy chương vàng đầu tiên của họ. Vào năm 2004, Brazil chiến thắng đội á quân Ý trong trận chung kết. Vào Thế vận hội Mùa hè 2008, đội tuyển Mĩ đã đánh bại Brazil trong trận chung kết môn bóng chuyền nam.

Xem thêm: Bóng chuyền tại Mĩ và Bóng chuyền tại Canada

[sửa] Luật chơi

Sân bóng chuyền

[sửa] Sân thi đấu

Bóng chuyền được chơi trên sân dài 18m (59 feet) và rộng 9m (29.5 feet), được chia thành hai nửa 9 m × 9 m bởi một lưới rộng 1m (40-inch) đặt giữa sân, mép trên cao 2,47m (7 feet 11 5/8 inches) đối với nam, và 2,24m (7 feet 4 1/8 inches) đối với nữ (chiều cao này có thể thay đổi đối với từng giải đấu chuyên nghiệp và nghiệp).

Có một vạch song song và cách lưới 3m trên phần sân của mỗi đội, được xem là "vạch tấn công". Vạch "3m" (hoặc 10 foot) này chia phần sân mỗi đội thành "hàng trước" và "hàng sau" (cũng có thể gọi là sân trước và sân sau). Lần lượt ta có 3 khu vực: được đánh số như dưới đây, bắt đầu từ khu "1", là vị trí của người giao bóng.

Sự di chuyển người chơi

Sau khi giành được quyền giao bóng (còn được gọi là siding out), các thành viên của đội phải di chuyển theo chiều kim đồng hồ, với người chơi lúc trước ở vị trí "2" di chuyển tới vị trí "1" và lần lượt như vậy, người chơi ở vị trí "1" di chuyển tới vị trí "6".

Sân được bao quanh bởi một diện tích gọi là vùng tự do, rộng ít nhất là 3m và là nơi người chơi có thể vào và đánh bóng sau khi phát bóng.[9] Mọi vạch thể hiện đường biên của sân và vùng tấn công được vẽ hoặc sơn trong phạm vi kích thước của sân. Nếu bóng chạm vào vạch thì được xem như là ở trong. Có một cọc nhỏ đặt tại nơi trực giao của lưới và đường biên và được xem là đường biên đứng. Bóng chỉ thực sự qua lưới nếu vượt được qua giữa hai cọc này (hay đường kéo dài vuông góc của nó tới trần nhà) mà không chạm vào chúng.

[sửa] Bóng

Bài chi tiết: Bóng chuyền (bóng)

FIVB tuyên bố trái bóng chuyền phải được làm bằng da hoặc da nhân tạo với khí nén bên trong, có chu vi 65–67 cm, nặng khoảng 260–280 g. Áp lực bên trong bóng khoảng 0.30–0.325 kg/cm2.[10] Một vài nơi khác cũng có quy định tương tự.

[sửa] Cách chơi

Có 2 đội chơi, mỗi đội gồm sáu người. Để bắt đầu trận đấu, đội giành quyền giao bóng được quyết định bằng cách tung đồng xu. Người chơi ở đội giao bóng (người giao bóng) tung quả bóng lên và cố gắng đánh bóng

sao cho nó vượt qua lưới và chạm đất trong phần sân của đối phương. Đội bên kia phải phối hợp với nhau sao cho đưa bóng ngược trở lại qua lưới với nhiều nhất là 3 lần chạm bóng (không kể một lần chắn bóng). Những lần chạm bóng đó thường là “bump” (tâng bóng) hay “pass” (bắt bước 1) để khống chế những đường bay của bóng và chuyền cho người kiến tạo đợt tấn công “setter” (chuyền 2); bước tiếp theo (thường là những quả chuyền bóng bằng cổ tay đẩy bóng bằng ngón tay) người kiến tạo đợt tấn công chuyền bóng cho người thực hiện đợt tấn công “attacker” để người này đập bóng; và cuối cùng là người thực hiện đợt tấn công, người mà “spike” (đập bóng) (nhảy cao lên không trung, giơ một tay cao trên đầu và đập bóng để bóng bay nhanh và mạnh xuống mặt đất phần sân đối phương) đánh trả bóng qua lưới. Đội khống chế bóng mà đang thực hiện đợt tấn công như đã miêu tả ở trên được gọi là ở trạng thái “offense” (tấn công).

Đội đang ở trạng thái “defense” (phòng thủ) cố gắng ngăn chặn đối phương đánh bóng trực diện xuống phần sân của mình: người chơi đứng trên lưới nhảy lên và đưa tay lên cao hết mức có thể (nếu được, có thể đưa tay qua phần sân bên kia) để “block” (chắn banh) quả banh đối phương. Nếu ban xuống gần đến mặt đất, vượt qua hàng chắn, những người còn lại của đội phòng thủ có thể cố gắng chặn bóng không cho chạm mặt đất bằng cách “dig” (đào) (thường là dùng tay thuận để chuyền hoặc lái một cách khó khăn trái banh). Sau khi đào thành công, đội chuyển sang thế tấn công.

Trò chơi tiếp tục như trên, đỡ và đánh bóng trở lại bên kia, đến khi bóng chạm đất hoặc người chơi phạm lỗi. Lỗi thường gặp nhất là không thể đưa được bóng qua phần sân đối phương sau 3 lần chạm bóng, hay làm bóng chạm mặt đất bên ngoài phần sân thi đấu. Quả bóng được tính “in” (trong sân) nếu bất kì phần nào của trái bóng chạm đất từ vạch biên và vạch cuối sân trở vào, và một cú đập mạnh có thể làm biến dạng quả bóng đến nỗi khi chạm đất tưởng như nó ra ngoài thì thực sự nó lại trong sân. Người chơi có thể khống chế bóng từ ngoài sân nếu bóng bay ra ngoài phần sân thi đấu.

Các lỗi thường gặp khác là người chơi chạm bóng liên tục 2 lần (trừ 1 lần chắn bóng), người chơi “catching” (cầm bóng), chạm lưới trước khi lượt banh kết thúc, hay đưa bất kì bộ phận cơ thể nào qua dưới lưới sang phần sân đối phương. Có rất nhiều lỗi được định nghĩa trong luật chơi, hầu hết là các lỗi hiếm gặp. Những lỗi này thường là hàng sau hay libero đập banh hay chắn banh (người chơi ở hàng sau có thể tham gia tấn công nếu họ nhảy đập banh từ sau vạch 3 mét), người chơi không ở đúng vị trí khi trái bóng được giao, tấn công cú giao bóng trực diện hoặc trên lưới, sử

dụng người chơi khác để chơi bóng, đạp vạch biên cuối sân khi giao bóng, thời gian giao bóng quá 8 giây hay giao bóng trước khi trọng tài cho phép,[11] hay chơi bóng khi bóng còn đang ở phần sân đối phương.

[sửa] Tính điểm

Khi bóng chạm đất bên trong phần sân quy định hay có người phạm lỗi, đội không phạm lỗi được tính 1 điểm, dù họ giao banh hay không. Nếu bóng chạm vạch, trái bóng đó được tính trong sân. Đội mà giành được được điểm sẽ giao banh ở lượt tiếp theo. Nếu đội ghi điểm không giao trái banh trước đó, thì các thành viên trong đội phải quay vòng vị trí theo chiều kim đồng hồ. Trò chơi tiếp tục, với đội nào đạt 25 điểm trước (và hơn đối phương tối thiểu 2 điểm) thắng set đấu đó. Trận đấu theo thể thức đánh 5 ăn 3 và nếu phải đánh đến set thứ 5 thì đội chiến thắng set chỉ cần đạt 15 điểm trước (vẫn phải cách đối phương 2 điểm) sẽ là đội thắng trận. (Cách tính điểm khác với từng giải đấu và cấp độ; giải ở các trường cấp 3 thường chỉ đánh 3 set ăn 2; giải NCAA) vẫn đánh đến 25 điểm trong cả 5 set ở mùa giải 2008.) [12]

Trước 1999, điểm số có thể được ghi chỉ khi đội ghi điểm là đội giao bóng và mỗi set chỉ đánh đến 15 điểm. FIVB thay đổi bộ luật vào năm 1999 (với việc thay đổi bắt buộc vào năm 2000) sang sử dụng bộ luật hiện tại (thường được biết dưới tên “rally point system” (hệ thống tính điểm theo lượt đánh)), chính thức làm cho mỗi trận đấu có thể tính toán được thời gian cùng với dễ dự đoán và thân thiện với việc phát sóng trên truyền hình.

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT