Chia sẻ Download
Tài liệu Kiến thức lớp 10  Bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão –cảm nhận về tác phẩm
/6 trang
Thành viên idoc2012

Kiến thức lớp 10 Bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão –cảm nhận về tác phẩm

- 12 tháng trước
1,049
Báo lỗi

Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử.

Nội dung
Microsoft Word - Kiến thức lớp 62

Kiến thức lớp 10

Bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ

Lão –phần 2

Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong

4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần

kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, nhà

Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương

Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử.

Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần

được các sử gia ngợi ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần

là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu

nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuật

hoài” ( Tỏ lòng ) của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của

Trương Hán Siêu.v.v… là những kiệt tác chứa chan tình yêu

nước và niềm tự hào dân tộc.

Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm

trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai

bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quốc công

Hưng Đạo Đại vương”.

Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát

vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó

là bức chân dung tự hoạ của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc giang san kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô

cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn

kháp kỷ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, vừa

mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời

gian chiều dài lịch sử (kháp kỷ thu). Nó thể hiện tư thế người

chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như

các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu

hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn

giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn

yêu quý.

Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba

quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết

đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra

trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí

thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm

lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu : ba quân thế

mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một

hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì

hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…”

trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện

sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu

thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như

một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:

-“Thuyền bè muôn đội;

Tinh kỳ phấp phới

Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…” (Bạch Đằng giang phú)

Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng:

khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại

anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo

hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin

bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi

ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”

(Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm

lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời

Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại.

Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những

võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh

hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử

dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi

thời loạn lạc, giặc giã:

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

“công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công

danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần

quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm

thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một

gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương

máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện

Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên

chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như

Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt

Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo

Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non

sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông).

“Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ

hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ,

tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh

hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ

đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”.

Có thể bạn quan tâm
Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT