Tài liệu

KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CÁC MÔN HỌC - MÔN TIẾNG VIỆT

Chia sẻ bởi
Lượt xem: 1163     Tải về: 5     Lượt mua: 0    
Báo lỗi
Bình luận
Nhúng
/ 7
Tài liệu KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CÁC MÔN HỌC - MÔN TIẾNG VIỆT - tài liệu, sách iDoc.Vn
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CÁC MÔN HỌC - MÔN TIẾNG VIỆT
Đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt cấp Tiểu học được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc chung về Đánh giá kết quả giáo dục tiểu học xác định tại Chương trình GDPT cấp Tiểu học (Ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), gồm những điểm cơ bản sau : 1. Đánh giá kết quả giáo dục đối với HS ở môn học trong mỗi lớp và cuối cấp nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục, làm căn cứ để điều chỉnh quá trình giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, động viên, ...
Nội dung trích xuất từ tài liệu

Phần 2

KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CÁC MÔN HỌC

_________________________________________________________________

A. CÁC MÔN HỌC ĐÁNH GIÁ BẰNG ĐIỂM SỐ

MÔN TIẾNG VIỆT

I. NGUYÊN TẮC CHUNG

Đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt cấp Tiểu học được thực

hiện trên cơ sở nguyên tắc chung về Đánh giá kết quả giáo dục tiểu học xác định

tại Chương trình GDPT cấp Tiểu học (Ban hành kèm theo Quyết định số

16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo), gồm những điểm cơ bản sau :

1. Đánh giá kết quả giáo dục đối với HS ở môn học trong mỗi lớp và

cuối cấp nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục, làm căn cứ để điều

chỉnh quá trình giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, động

viên, khuyến khích HS chăm học và tự tin trong học tập.

2. Đánh giá kết quả giáo dục ở môn học trong mỗi lớp và cuối cấp

cần phải :

a) Đảm bảo tính toàn diện, khoa học, khách quan và trung thực ;

b) Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ của

môn học ở từng lớp, ở toàn cấp học để xây dựng công cụ đánh giá thích hợp ;

c) Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì ; giữa

đánh giá của GV và tự đánh giá của HS ; giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá

của gia đình, cộng đồng ;

d) Kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và các

hình thức đánh giá khác.

3. Môn Tiếng Việt được đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét

của GV.

II. QUY ĐỊNH VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIẾNG

VIỆT

Quy định về kiểm tra, đánh giá môn Tiếng Việt được nêu tại văn bản

Đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học (Ban hành kèm theo Quyết định số

30/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/9/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

như sau :

1. Môn Tiếng Việt được đánh giá bằng điểm số, cho điểm từ 1 đến

10, không cho điểm 0 và điểm thập phân ở các lần kiểm tra.

2. Việc đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì kết quả học tập

của HS về môn Tiếng Việt được quy định :

a) Đánh giá thường xuyên

- Nhằm mục đích theo dõi, động viên, khuyến khích hay nhắc nhở

HS học tập tiến bộ, đồng thời để GV thực hiện đổi mới phương pháp, điều chỉnh

hoạt động giảng dạy nhằm đạt hiệu quả thiết thực.

- Việc đánh giá thường xuyên được tiến hành dưới các hình thức

kiểm tra thường xuyên (KTTX), gồm : kiểm tra miệng, quan sát HS học tập, bài

tập thực hành, kiểm tra viết (dưới 20 phút).

- Số lần KTTX tối thiểu trong 1 tháng đối với môn Tiếng Việt là 4

lần.

b) Đánh giá định kì

- Nhằm mục đích cung cấp thông tin cho các cấp quản lí chỉ đạo để

quản lí quá trình học tập của HS và giảng dạy của GV ; tiến hành sau từng giai

đoạn học tập : giữa học kì I (GKI), cuối học kì I (CKI), giữa học kì II (GKII), cuối

học kì II (CKII).

- Việc đánh giá định kì được tiến hành dưới các hình thức kiểm tra

định kì (KTĐK), gồm : kiểm tra viết bằng hình thức trắc nghiệm, tự luận trong

thời gian 1 tiết.

- Số lần KTĐK môn Tiếng Việt ở mỗi lớp (mỗi năm học) là 4 lần :

GKI, CKI, GKII, CKII.

* Chú ý :

+ Trường hợp HS có kết quả KTĐK bất thường so với kết quả học tập hằng

ngày hoặc không đủ số điểm KTĐK đều được bố trí cho làm bài kiểu tra lại để có

căn cứ đánh giá về học lực môn và xét khen thưởng.

+ Đối với môn Tiếng Việt, mỗi lần KTĐK có 2 bài kiểm tra : Đọc, Viết.

Điểm của 2 bài kiểm tra này được quy về 1 điểm chung là điểm trung bình cộng

điểm của 2 bài (làm tròn 0,5 thành 1).

+ Khi xác định điểm học lực môn (HLM) KI (hoặc điểm HLM.KII) bằng

cách tính trung bình cộng của điểm KTĐK.GKI và điểm KTĐK.CKI (hoặc trung

bình cộng của điểm KTĐK.GKII và điểm KTĐK.CKII), kết quả có thể là số thập

phân (không làm tròn số).

III. NỘI DUNG, HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN TIẾNG VIỆT

1. Kiểm tra, đánh giá thường xuyên

Để đánh giá thường xuyên kết quả học tập của HS về môn Tiếng

Việt, GV thực hiện các hình thức KTTX với nội dung, yêu cầu cụ thể như sau :

- Kiểm tra miệng : GV thường tiến hành vào đầu tiết học, nhằm củng cố

kiến thức, kĩ năng của bài dạy thuộc cùng một phân môn (chủ yếu ở tiết kế trước),

tạo điều kiện thuận lợi để HS tiếp nhận bài mới. Việc kiểm tra miệng tỏ ra có hiệu

quả tích cực đối với bài học thuộc các phân môn Học vần (lớp 1), Tập đọc, Kể

chuyện, Luyện từ và câu - Tập làm văn (các lớp 2, 3, 4, 5).

- Quan sát HS học tập : GV tiến hành trong suốt quá trình lên lớp ở tất cả

các phân môn, nhằm đánh giá hiệu quả tiếp nhận của HS, kịp thời động viên,

khuyến khích HS tích cực học tập. Quan sát HS học tập trên lớp còn giúp GV tự

điều chỉnh hoạt động dạy học sao cho phù hợp với đối tượng HS cụ thể.

- Yêu cầu HS luyện tập thực hành (thông qua bài tập) : GV đánh giá mức độ

nắm vững về kiến thức, thành thạo về kĩ năng theo yêu cầu cần đạt đối với bài học

cụ thể. Bài tập thực hành môn Tiếng Việt tiểu học có thể được đặt ra ở tất cả các

bài học thuộc các phân môn khác nhau, ví dụ : thực hành luyện đọc (Tập đọc),

thực hành luyện nghe – nói (Kể chuyện, Tập làm văn), thực hành luyện viết

(Chính tả, Tập viết), thực hành để nắm vững kiến thức và kĩ năng tiếng Việt

(Luyện từ và câu),...

- Kiểm tra viết (dưới 20 phút) : Thường áp dụng đối với bài học thuộc các

phân môn Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn. Bài kiểm tra viết

trong thời gian ngắn vừa khích lệ HS nắm vững kiến thức, kĩ năng mới học vừa

củng cố kiến thức, kĩ năng đã học qua các bài trước đó. Thông qua bài kiểm tra

viết (nội dung và hình thức trình bày, diễn đạt), GV còn có thể đánh giá kết quả

vận dụng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng tiếng Việt của HS.

Theo quy định, số lần KTTX tối thiểu trong 1 tháng đối với môn

Tiếng Việt là 4 lần. Do vậy, để thực hiện yêu cầu kiểm tra, đánh giá kết quả học

tập của HS ở tất cả các phân môn, GV cần có kế hoạch KTTX đối với từng HS

theo cách “luân phiên” (có thể ghi rõ trong giáo án những HS được kiểm tra). Ví

dụ : KTTX (lớp 2) tháng thứ nhất : Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập làm văn ;

tháng thứ hai : Tập đọc, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn.

2. Kiểm tra, đánh giá định kì

Kiểm tra đánh giá định kì môn Tiếng Việt được thực hiện 4 lần

trong năm học, theo từng giai đoạn học tập của HS (GKI, CKI, GKII, CKII). Việc

kiểm tra định kì môn Tiếng Việt được thực hiện theo các văn bản hướng dẫn hiện

hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. GV cần lưu ý những điểm cơ bản sau :

a) Mục đích, yêu cầu

- Đánh giá tương đối đầy đủ và toàn diện cả 4 kĩ năng : đọc, viết,

nghe, nói.

- Đảm bảo mục tiêu dạy học ; bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng quy

định cho từng giai đoạn học (GKI, CKI, GKII, CKII) ; đánh giá kiến thức về tiếng

Việt thông qua kết quả thực hiện các bài tập theo chương trình quy định.

VD : với một bài TrN 80 câu hỏi, ta có điểm TB là 42 và tầm hạn là từ 10

điểm (thấp nhất) đến 75 điểm (cao nhất) ; các dữ kiện ấy cho ta biết rằng bài TrN

có độ khó vừa phải cho HS lớp ấy. Mặt khác, nếu cùng bài TrN ấy, HS lớp khác

làm, điểm TB là 69 và tầm hạn là từ 50 đến 80, thì như vậy bài TrN quá dễ đối với

HS lớp này. Ngược lại, nếu ta có TB là 15 và tầm hạn là từ 0 đến 40 thì ta có thể

tin rằng bài TN này là quá khó đối với chúng.

c) Vấn đề mục tiêu khảo sát trong bài trắc nghiệm

Trước khi soạn thảo TrN, ta cần phải biết rõ những điều ta sẽ phải khảo sát

và những mục tiêu nào ta đòi hỏi HS phải đạt được. Muốn vậy, ta phải phác hoạ

sẵn một dàn bài TrN, trong đó có dự trù những phần thuộc về nội dung của môn

hay bài học và những mục tiêu giảng dạy mà ta mong mỏi HS phải đạt được. Có

như vậy mới tránh được khuynh hướng đặt nặng tầm quan trọng vào một phần nào

đó của chương trình giảng dạy mà xem nhẹ các phần khác, hay chỉ chú ý đến

những tiểu tiết mà quên các phạm trù cơ bản.

Nội dung bài khảo sát gồm những tiết mục hay đề mục đã được giảng dạy.

Mục tiêu giảng dạy là những thành quả xác định rõ rệt và có thể đo lường được mà

HS phải đạt tới và biểu lộ qua hành vi có liên quan đến các lĩnh vực tri thức, kĩ

năng và kĩ xảo tương ứng.

Có nhiều cách phân loại mục tiêu giảng dạy, song theo Benjamin Bloom và

các cộng sự, các mục tiêu giảng dạy được phân tích căn cứ vào 6 chức năng trí tuệ

cơ bản, từ thấp lên cao :

- Kiến thức (Nhận biết) : được xem như là sự nhận lại, ghi nhớ và nhớ lại

thông tin.

- Thông hiểu : được xem là loại tri thức cho phép giao tiếp và sử dụng các

thông tin đã có.

- Vận dụng : được xem là kĩ năng vận dụng thông tin (quy tắc, phương

pháp, khái niệm chung) vào tình huống mới mà không có sự gợi ý.

- Phân tích : được xem là loại tri thức cho phép chia thông tin thành các bộ

phận và thiết lập sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.

- Tổng hợp : được xem là loại tri thức cho phép cải biến thông tin từ những

nguồn khác nhau và trên cơ sở đó tạo nên mẫu mới.

- Đánh giá : cho phép phán đoán về giá trị của một tư tưởng, phương pháp,

tài liệu nào đó.

Ở cấp Tiểu học, tiêu chí đề kiểm tra định kì tập trung đánh giá ở 3 mức độ theo tỉ lệ như sau : Nhận biết 50% - Thông hiểu 30% - Vận dụng 20% (theo tài liệu Đề kiểm tra học kì cấp Tiểu học, NXB Giáo dục, 2008).

Gửi nhận xét của bạn về tài liệu này
comments powered by Disqus
Tài liệu liên quan
Sáng kiến kinh nghiệm toán lớp 2 Lượt tải: 217 Lượt xem: 68239
71 bài toán ôn tập học kì 1 lớp 4 Lượt tải: 726 Lượt xem: 66454
Hãy tả một loài hoa mà em yêu thích Lượt tải: 37 Lượt xem: 65213
Có thể bạn quan tâm