Chia sẻ 10,000 VNĐ
Tài liệu Khi hau viet nam
Tài liệu này có phí 10,000 VNĐ

bạn cần mua tài liệu để được xem đầy đủ nội dung

Tài liệu này có thể xem trước 1 trang

/17 trang
Thành viên xemtailieuhaylam

Khi hau viet nam

- 12 tháng trước
2,396
Báo lỗi

hay

Nội dung

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA TỰ NHIÊN

(((

TIỂU LUẬN

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA KHÍ HẬU VIỆT NAM

Lớp: SP Địa lý K37

Sv: Thiều Thị Thanh Huyền �

KHÍ HẬU VIỆT NAM LÀ KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA

Tính chất nhiệt đới

VÙNG KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI

Tính chất nhiệt đới của khí hậu nước ta được quyết định bởi vị trí địa lý. Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nội chí tuyến của nửa cầu bắc từ vĩ độ 8o30’B → 23o23’B.

Chế độ nhiệt đặc trưng với nền nhiệt cao

Với vị trí nêu trên, trên đất nước ta Măt Trời luôn luôn nằm cao trên đường chân trời và tất cả mọi nơi trên lãnh thổ đều có mặt trời qua thiên đỉnh lúc giữa trưa hai lần trong năm. Chính vì vậy mà góc nhập xạ lớn, lượng nhiệt hằng năm rất cao. Cụ thể hơn những thông số dưới đây sẽ làm rõ ý nền nhiệt cao của nước ta.

Địa điểm

Nhiệt độ TB năm

( 0 C )

Tổng nhiệt độ năm

( 0 C )

Lạng Sơn

Hà Nội

Vinh

Huế

Qui Nhơn

TP Hồ Chí Minh

21,2

23,5

23,9

25,1

26,8

27,1

7738

8577

8723

9161

9782

9891

Số giờ nắng: 1400-3000 h/năm

ToTB năm: > 20o C, tăng dần từ B→N

Tổng nhiệt độ/năm: 8000-9000o C

Biên độ nhiệt giảm dần về phía Nam (TP.HCM 3.1oC, Huế 9,4oC, Hà Nội 12,5 oC

Bức xạ tổng cộng lớn: 120-130 kcal/cm2/năm

Cán cân bức xạ luôn (+): >75 kcal/cm2/năm

Tuy nhiên chế độ nhiệt lại có sự khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc do khoảng cách giữa hai lần mặt trời lên thiên đỉnh tăng dần từ Bắc vào Nam (ở cao nguyên Đồng Văn khoảng cách này chỉ diễn ra trong vài ngày nhưng tại bán đảo Cà Mau lại tới gần 5 tháng).

Miền Bắc: chế độ nhiệt có dạng chí tuyến với 1 cực đại, 1 cực tiểu trong năm.

TMax: tháng 6 or tháng 7

TMin:: tháng 12 or tháng 1

Miền Nam: chế độ nhiệt có dạng xích đạo, đặc trưng là có 2 cực đại, 2 cực tiểu trong năm.

TMax: tháng 4, tháng 8

TMin:: tháng 6, tháng 12

Chế độ ngày ngắn và ít dao động trong năm

Sự chênh lệch thời gian giữa ngày dài nhất (Hạ chí – 22/6) và ngày ngắn nhất (Đông chí – 22/12) không lớn, chỉ từ 1h→2h30.

Trên cao nguyên Đồng Văn ngày dài nhất (Hạ chí – 22/6) là 13h23’ và ngày ngắn nhất (Đông chí – 22/12) là 10h46’. Như vậy độ chênh lệch là 2h27’.

Ở vĩ độ 20oB: trị số tương ứng chênh lệch là 2h26’

Ở vĩ độ 20oB: 1h10’

Chế độ ẩm đặc trưng với lượng mưa và độ ẩm lớn

Chế độ ẩm cao của nước ta có được là do nguồn cung cấp gần như vô tận của Biển Đông rộng lớn và nóng ẩm quanh năm, ngoài ra lượng ẩm này còn được bổ sung bằng nguồn hơi nước và nước mưa từ các khối không khí nóng ẩm của vùng chí tuyến Tây Thái Bình Dương và vùng xích đạo thuộc Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương định kì và thường xuyên mang đến nước ta theo cơ chế hoạt động của gió Tín Phong và gió mùa. Cụ thể như sau:

Lượng mưa dồi dào nhưng phân bố không đều theo không gian và thời gian

Lương mưa TB năm: 1500 – 2000m/năm

Những nơi là sườn đón gió ở vùng núi cao (Bắc Quang – Hà Giang, Thừa Thiên Huế…) lượng mưa đạt hơn 2000mm/năm

Những thung lũng khuất gió (Mường Xén – Nghệ An….) chỉ khoảng 700mm/năm

Số ngày mưa nhiều trên 100 ngày thậm chí có những vùng trên 150 ngày như Thừa – Thiên Huế.

Thời kì mùa mưa chiếm 80-85% tổng lượng mưa năm.

Thời gian mưa khác nhau giữa các vùng: ở Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên mưa tập trung vào mùa hạ (tháng 5 → tháng 10,11) còn thời kì mùa mưa ỏ miền trung là vào tháng 8, tháng 9 → tháng 11.

Cân bằng mưa - bốc hơi luôn dương, thừa nước, có dự trữ nước cho thời kỳ khô không mưa. (Hà Nội + 687, Huế + 1868, Cà Mau + 1530)

Độ ẩm tương đối thường trên 80% , nơi cao nhất là Hoàng Liên Sơn đạt 90%.

Cán cân bằng ẩm luôn (+):

Lượng mưa TB tại 1 số nơi

Hà Nội

1537,2 mm

Huế

2867,7 mm

TP.HCM

1930 mm

Mưa lớn tập trung 1 số nơi

Bắc Quang – Hà Giang

4802 mm

Hoàng Liên Sơn

3552 mm

Huế

2867,7 mm

Hòn Ba

3572 mm

Chính tính chất ẩm đặc trưng đã làm cho khí hậu nước ta khắc xa với khí hậu nóng, khô hạn và có tính chất hoang mạc của 1 số nước và khu vực ở Tây Nam Á và hoang mạc Sahara.

Tính chất nhiệt đới của nước ta còn biểu hiện ở sự tham gia của gió Tín phong.

Gió Tín phong thổi thường xuyên từ khu vực chí tuyến Bắc về xích đạo qua lãnh thổ nước ta.

Gió này ổn đinh hướng và tính chất ở độ cao khoảng 5000m.

Ở tầng thấp của khí quyển (1500 – 3000m) dải áp cao cận chí tuyến hoạt động trên bán đảo Đông Dương bị vùng áp cao Xibia về mùa Đông và vùng áp thấp Ấn Độ - Mianma về mùa hạ làm nhiễu loạn hoặc phá vỡ. Chỉ có áp cao Tây Thái Bình Dương thì ổn đinh hơn, nó hoạt động hầu như quanh năm nhưng nhiều khi bị đẩy lùi quá về phía Đông Philippin và không ảnh hưởng đến Việt Nam.

Mùa Đông: gió Tín phong phụ thuộc vào cùng áp cao Xibia, thổi theo hướng Đông Bắc từ vĩ tuyến 16oB trở vào và bản chất có chỉ khác với gió mùa Đông Bắc ở tính chất nóng khô.

Mùa Hạ: gió này thổi theo hướng Đông và Đông Nam từ rìa áp cao Thái Bình Dương xen kẽ với gió mùa Tây nam

Vào thời kì chuyển tiếp giữa hai mùa Đông – Hạ, khi hai luồng gió mùa còn yếu thì gió Tín phong mới có tính chất độc lập và thổi ổn định theo hướng Đông Nam trên cả nước.

Về phương diện khối khí, gió Tín phong có thể hoặc là khối khí chí tuyến Thái Bình Dương (Tm - Tropical Maritime) hoặc là khối khí cực đới lục địa (NPc) đã bị biến tính trở thành khối khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoa (Tp) hay còn gọi là khối khí chí tuyến Đông nam á. Nó đem lại thời tiết nóng trên 20oC vào mùa đông và trên 25oC vào mùa hạ.

Tính chất gió mùa ẩm

Nằm ở khu vực Đông Nam á, nơi diễn ra sự giao tranh mạnh mẽ của hai hệ thống hoàn lưu có quy mô lớn là hoàn lưu tín phong và hoàn lưu gió mùa châu Á chon nên khí hậu Việt nam hoàn toàn chi phối bởi tác động của sự giao tranh này. Chủ yếu khí hậu nước ta chịu ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa châu Á – một trong những hoàn lưu gió mùa đặc sắc nhất thế giới được hình thành chủ yếu là sự tương phản giữa về chế độ nhiệt của lục địa châu Á rộng lớn với Thái Dình Dương và Án Độ Dương.

Có ba hệ thống gió mùa tạo thành hoàn lưu gió mùa châu Á:

Hệ thống Đông Bắc Châu Á, bao trùm vùng viễn đông của nước Nga, Nhật, Triều Tiên.

Hệ thống Nam Châu A: khống chế khu vực Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện, Thái Lan

Hệ thống Đông Nam A: ảnh hưởng chủ yếu đến Philippin và vùng nội chí tuyến Tây TBD.

Cả ba hệ thống gió mùa đều tác đông đến Việt nam nhưng chi phối hơn cả là gió mùa ĐNA.

Bản chất của gió mùa ĐNA

Mùa Đông: khi di chuyển xuống phía nam không khí cực đới bị biến tính mạnh mẽ. Đến khoảng 20oB nó trở thành không khí nhiệt đới vì thế vào mùa đông rất khó phân biệt giữa gió tín phong và gió mùa.

Mùa Hạ: có hai luồng gió chính hoạt động

Từ TBD là luồng gió thuần tuý từ Nam Bán cầu lên, vượt xích đạo vào tháng 5 và tiến lên phía Bắc cùng với rãnh hội tụ chí tuyến

Từ Bắc Ấn Độ Dương: thời kì đầu chỉ là gió Tây Xích đạo, sau đó kết hợp với gió mùa từ Nam bán cầu tạo thành gió mùa Tây Nam mạnh thổi tới Án Độ và Đông Nam á.

Gió mùa ở Việt Nam

Sự chênh lệnh nhiệt độ của lục địa Á- Âu rộng lớn với đại dương Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đã hình thành nên các trung tâm khí áp thay đổi theo mùa, hình thành chế độ gió mùa đặc biệt của nước ta. Cùng với vị trí địa lý đặc biệt, Việt Nam chịu ảnh hưởng của gió mùa là sâu sắc nhất, không ở đâu trong Đông Nam Á gió mùa Đông Bắc lạnh khô lại tràn xa xuống phía nam như thế và cũng không ở đâu mà gió mùa Tây Nam nóng ẩm lại tiến mạnh lên phía bắc như vậy.

Gió mùa mùa đông - gió mùa Đông Bắc (tháng 11→ tháng 4 năm sau)

Dựa vào hình trên → phân tích

Phạm vi hoạt động: ở phía bắc của dãy Bạch Mã (16oB trở ra), GMĐB hoạt động mạnh mẽ

Nguồn gốc:

Vào mùa đông lục địa Á- Âu lạnh và khô, ToTB ~ - 40 → -15o, độ tuyệt đối 1-2g/m3 tạo điều kiện cho sự hình thành một áp cao nhiệt lực rất mạnh – áp cao Xibia (trung tâm áp cao ở khoảng hồ Bai Can), trị số áp suất ở đây lên tới 1040-1060 mb rất mạnh nên khiến cho trên bản đồ đẳng áp trung bình tháng 1 của trái đất vùng áp cao này chi phối sự phân bố khí áp trên toàn khu vực châu Á làm lu mờ cả hệ thống áp cao cận chí tuyến nơi phát sinh của gió Tín Phong. Thường thì vùng áp cao Xibia này xuất hiện từ đầu tháng 9 và đạt đến cực đại vào tháng 1.

Thời kì mùa xuân và mùa thu xuất hiện them các dải áp cao phụ nằm ở khu vực sông Trường Giang vào khoảng vĩ độ 30oB. Chính vì vậy mà hệ thống gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh ở nước ta vào tháng 11→tháng 4 năm sau có nguồn gốc từ áp cao Xibia. Ngoài ra những đợt gió mùa Đông Bắc sớm và muộn thường yếu và ít lạnh hơn thì xuất phát ở vùng áp cao phụ biển Đông Trung Hoa.

Hướng gió: Đông bắc (chủ yếu)

Tính chất: không liên tục, hoạt động theo từng đợt, trung bình nước ta có khoảng 20 đợt GMĐB /năm và số đợt khác nhau trên các vùng (Lạng Sơn: TB 22 đợt/năm, Thanh Hoá: 14-15 đợt/năm, Điện Biên: 5,2 đợt/năm). Đồng nghĩa là GMĐB càng bị suy yếu dần khi xuống phía nam

Hoạt động:

Đầu mùa Đông (th11→th1): áp cao Xibia lạnh và khô đi trực diện qua lục địa nên gây ra thời tiết lạnh khô ở miền Bắc.

Giữa – cuối mùa Đông (th2→th4): trung tâm áp cao Xibia bắt đầu lệch sang phía đông, trước khi đến nước ta thì nó đã qua vùng biển rộng lớn đó là biển Nhật Bản và biển Hoàng Hải Trung quốc nên bị biến tính trở nên ẩm hơn, gây thời tiết lạnh ẩm, mưa phùn, độ ẩm có thể đạt 90% như ở vùng ĐB ven biển.

Lưu ý: cùng thời kì này từ 16oB trở vào với sự suy yếu của gió mùa Đông Bắc thì gió Tín phong lại hoạt động, xuất phát từ áp cao Thái Bình Dương, hướng gió Đông Bắc, gây thời tiết khô và nóng ở Tây Nguyên và Nam Bộ. Nơi đây chịu ảnh hưởng của một mùa khô sâu sắc đối lập với miền Bắc. Duy nhất dải duyên hải Nam Trung Bộ ảnh hưởng bởi bức chắn địa hình nên có mưa.

Sự luân phiên hoạt động của các khối khí trong thời gian này

Khối không khí cực đới lục địa (NPc)

Từ khu vực áp cao cực đới lục địa, khối khí NPc tràn xuống nước ta theo hai đường. Một là từ lục địa đi thẳng xuống qua lãnh thổ Trung Quốc. Hai là 1 đường dịch quá về phía đông qua biển Nhật Bản, Hoàng Hải, Đông Hải. Trên đường di chuyển như vậy khối khí bị biến tính cả về nhiệt và ẩm (nóng lên 2oC vào mùa Đông và 0,5oC vào mùa Hạ cho mỗi độ vĩ tuyến. Tuỳ thuộc vào tính chất ẩm có thể chia thành hai kiểu không khí cực đới lục địa biến tính khô (NPc đất) và không khí cực đới lục địa biến tính ẩm (NPc biển).

Khối không khí cực đới lục địa biến tính khô (NPc đất)

Thời gian hoạt dộng:đầu mùa đông (XI – I)

Hướng di chuyển: Bắc Nam

Điường di chuyển: Đây là bộ phận không khí cực đới tràn đến nước ta theo đường lục địa Trung Quốc.

Phạm vi hoạt động: phía Bắc lãnh thổ nước ta (18oB trở ra)

Đặc tính: là khối không khí lạnh nhất và khô nhất .

Vào giữa mùa đông, các thuộc tính nhiệt độ và độ ẩm riêng biến tính rõ rệt nhất. Nhiệt độ và độ ẩm tuyệt đối thấp nhất vào giữa mùa đông, còn vào thời kì đầu và cuối mùa nhiệt độ có cao hơn.

Có sự thay đổi theo thời gian và không gian. Đầu mùa cao hơn giữa mùa thường lớn hơn 15oC.nhiệt độ và độ ẩm thấp nhất ở miền bắc nước ta là 0-5oC, 5-8g/kg.

Có sự thay đổi theo vĩ độ giữa các vùng lãnh thổ. Ngay trong phạm vi bắc bộ, chênh lệch các thuộc tính nhiệt ẩm rất lớn giữa các phần lãnh thổ phía Đ và phía T. So với vùng Đông Bắc (Cao Bằng – Lạng Sơn) nhiêt độ ở đồng bằng đã cao hơn ~ 1oC vả độ ẩm là 2g/kg và ở Tây Bắc độ chênh lệch tới 2o và 3g/kg.

Có sự thay đổi theo phương kinh tuyến.

ở Trung bộ độ tăng nhiệt độ đath 2-30C, độ ẩm lớn hơn khoảng 2g/kg so với Bắc bộ. Còn ở Nam bộ sự xâm nhập của các khối khí cực đới mạnh nhất cũng không ảnh hưởng đến Nam bộ. nhiệt độ và độ ẩm riêng cao hơn BB trên 15oC, 4-5g/kg.

VD: Tại Hà Nội vào th11 và th3 nhiệt độ NPc đất ~ 16-180C, độ ẩm tuyệt đối 10 – 12g/m3 , độ ẩm tương đối 75% còn từ tháng 12 đến tháng 2 các trị số tương ứng là 13-150C, 7- 9g/m3 và 75% . So với Hà Nội, Lạng Sơn lạnh hơn 1-20C và khô hơn 1-2 g/m3, trái lại Lai Châu thường nóng hơn 2-30C và ẩm hơn 1-1.5g/m3.

NPc đất là khối không khí ổn định nên thời tiết đặc trưng là thời tiết lạnh, khô , quang mây. thời gian hoạt động mạnh nhất của NPc đất vào đầu và giữa mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 1).Từ tháng 2 trở đi không khí cực đới biến tính ẩm (NPc biển ) ngày càng chiếm ưu thế .phạm vi ảnh hưởng của không khí này chủ yếu ở phần lãnh thổ phía bắc đến vĩ độ 160B và sự biến tính khá mạnh đã gần như xóa hết .Vì vậy có thể coi đèo Hải Vân là giới hạn phía nam của phạm vi tác động của gió mùa đông.

Khối không khí cực đới biến tính ẩm (NPc biển )

Vào thời kì nửa sau mùa đông (từ tháng 1 đến tháng 4) trung tâm của vùng áp cao lục địa Châu Á chuyển dịch sang phía đông khiến cho đường di chuyển của không khí cực đới vòng qua vùng biển trước khi tràn vào lãnh thổ Việt Nam.

So với NPc đất thì NPc biển ấm và ẩm hơn rõ rệt, đặc biệt là độ ẩm tương đối khá cao (90%). Kiểu thời tiết thịnh hành là trời lạnh, đầy mây, âm u ,có mưa phùn và mưa nhỏ rải rác, rét buốt khó chịu.

Càng tiến sâu vào lãnh thổ nước ta thuộc tính nhiệt ẩm của khối khí thay đổi càng rõ rệt .thời kì cuối mùa đông nhiệt độ đã tăng 50C và độ ẩm tuyệt đối tăng 4-5g/m3so với giữa mùa đông . Từ B→N, cũng như từ đồng bằng Bắc Bộ lên Tây Bắc sự tăng nhiệt độ tương đói rõ rệt, song sự thay đổi độ ẩm lại không đáng kể . Vào giữa mùa đông, tai Hà Nội, NPc biển có nhiệt độ trung bình khoảng 15-170C, độ ẩm tuyệt đối 9-11g/m3 , độ ẩm tương đối là 90%. Vào cuối mùa đông các trị số tương ứng là 18-200C , 12-14g/m3 và 90% . So với Hà Nội, Lạng Sơn lạnh hơn 1.1 0C và khô hơn 2,1g/m3. Riêng khu vực Tây Bắc do hiệu ứng phơn nên nhiệt độ từ tăng 2-40C và độ ẩm giảm đi đáng kể.

Do hình thành dưới chế độ áp cao nên NPc biển vẫn có tính chất ổn dịnh, không có mưa to , mưa do NPc biển cung cấp khoảng 25%..sở dĩ vào thời gian này có mưa là do hoạt động của frong cực (giữa NPc biển và NPc đất và giữa NPc biển và Tm)

Frong cực

Là loại frong hình thành giữa khối không khí cực mới đến và các khối khí nóng hơn đang tồn tại ở Việt Nam.

Mỗi khi frong cực tràn về nhiệt độ giảm đi nhanh chóng trung bình khoảng 3-50C/24h, có khi đến 5-100C/24h. Tại các khu vực mà NPc biến tính ít nhất như ở khu vực Đông Bắc , nhiệt độ có thể giảm trên 100C/24h. Sự biến thiên về độ ẩm và mưa mỗi khi frong cực tràn về có phần phức tạp hơn rõ nét nhất là sự giảm sút về độ ẩm tuyệt đối .

Tác động gây mưa của frong cực có thể chia ra làm hai thời kì vào nửa đầu mùa đông thường có mưa nhỏ rải rác, vào nửa sau mùa đông có mưa nhỏ và mưa phùn, có khi kéo dài hàng tuần lễ nhưng lượng mưa không đáng kể . Trong các thời kì chuyển tiếp, do các khối khí trước và sau frong nóng và ẩm hơn, ít ổn định nên khi frong về thường có mưa rào và mưa dông với lượng khá lớn , đặc biệt trong các tháng 10-11 khi frong đến khu vực Bình Trị Thiên đã gây mưa rào lớn có khi đến 100 -200mm một đợt, khiến cho mùa mưa ở đây đã lùi sang thời kì thu- đông.

Hàng năm ,frong cực tràn đến Việt Nam trên 20 lần và không đồng đều về số lần ở các khu vực: nơi nhiều nhất là khu vực Đông Bắc (Lạng Sơn 22 lần) → đồng bằng bắc bộ (Hà Nội 22,6 lần) từ phía nam Thanh Hóa chỉ có 14-15 lần .Tại khu Tây Bắc , do bị che khuất sau dãy Hoàng Liên Sơn , số lần frong cực xâm nhập ít hơn cả (Lai Châu 7,2 lần; Điện Biên 5,2 lần).

Frong cực thường dừng lại ở phía bắc vĩ tuyến 160B , cho nên từ sau đèo Hải Vân là phạm vi hoạt động của gió tín phong .Tuy nhiên , mỗi khi gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh thì frong cực cũng có thể tràn xuống các vĩ độ thấp hơn , nhưng không gây hậu quả lớn về thời tiết.

Khối không khí biển Đông Trung Hoa (Tp)

Không khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoa có nguồn gốc là khối không khí cực đới Xibia đã được nhiệt đới hóa do tồn tại lâu ngày trên biển Đông Trung Hoa nên có nhiệt độ và độ ẩm thấp hơn không khí biển nhiệt đới thuần túy.

Nhiệt độ trung bình của không khí này là 18-200C (thấp nhất 14-150C) và độ ẩm tương đối thay đổi phụ thuộc vào NPc biển .Càng đi về phía nam , nhiệt độ và độ ẩm không khí càng tăng tạo nên sự chênh lệch về nhiệt độ tới 20C và độ ẩm tương đối là 5% giữa Bắc Bộ và Nam Bộ.

Không khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoa có ảnh hưởng tới lãnh thổ Việt Nam trong suốt thời kì mùa đông. Ở phần lãnh thổ phía Bắc nó chiếm ưu thế vào thời kì đầu và cuối mùa đông và bị lấn át vào kì giữa mùa đông bởi không khí cực đới .

Ở phần lãnh thổ phía nam , không khí này chiếm ưu thế và đồng thời nó là gió mùa mùa đông có thuộc tính ấm và ẩm khá ổn định với thời tiết nắng, nóng, ít mây, tạnh ráo.

Đặc biệt trong các tháng cuối mùa đông không khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoa do tiếp xúc với bề mặt đất lạnh ở miền Bắc nên độ ẩm nhanh chóng đạt tới trạng thái bão hòa, tạo nên kiểu trời nồm : nhiệt độ thường > 200C, độ ẩm thường tới 95% có mây thấp và mưa phùn .Mỗi khi xuất hiện nhiễu động trên cao đều có khả năng gây mưa vào thời kì này.

Gió mùa mùa hạ (t5→t10)

Bắc bán cầu: Vào mùa hạ, khu vực chí tuyến Bắc bán cầu nóng nhất, do đó hình thành áp thấp I-Ran ở Nam Á. Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương lạnh hơn hình thành áp cao Ha Oai, áp cao Bắc Ấn Độ Dương.

Nam bán cầu: là mùa đông nên áp cao cận chí tuyến Nam hoạt động mạnh.

Về mùa hè: lục địa Á -Âu được hun nóng tạo nên một vùng áp thấp rộng lớn có tâm tại sơn nguyên Iran đồng thời dải áp thấp nội chí tuyến chuyển động theo chuyển động biểu kiến của Mặt Trời sang nửa cầu Bắc và có một nhánh tiến xa về phía chí tuyến trên các bán đảo Nam Châu Á tiếp giáp với phần phía Đông của áp thấp Châu Á. Hệ thống khí áp này kết hợp với nhau tạo thành một sức hút mãnh liệt đối với các luồng khí từ phía Đông đại dương, phía Nam tạo nên một luồng khí xoáy thổi vào lục địa. Đó là gió mùa mùa hạ. Ở Đông Nam Á gió mùa mùa hạ có hướng chung là Tây Nam nên còn được gọi là gió mùa Tây Nam.

Vào mùa hè nước ta chịu tác động mạnh của gió mùa Tây Nam được bắt nguồn từ khối khí xích đạo biển (Em) và khối khí chí tuyến vịnh Bengan - khối không khí nhiệt đới biển Bắc Ân Độ Dương (TBg).

Khối không khí nhiệt đới biển Bắc Ấn Độ Dương (hay còn gọi là khối khí chí tuyến vịnh Bengan - TBg).

Đây là dòng phía tây của gió mùa mùa hạ ở nước ta, có nguồn gốc biển nên nóng và ẩm và phát triển suốt trong bề dày từ mặt đất đến độ cao 4-5 km. Khối không khí này có ToTB 25-270 C, độ ẩm tuyệt đối 20g/m3 và độ ảm tương đối khoảng 85%, thường mang đến những trận mưa đầu mùa hạ.

Ảnh hưởng của khối không khí này trên nước ta có những điểm khác nhau đối với từng khu vực.

Ở Nam Bộ và Tây Nguyên hay có mưa dông nhiệt. Càng lên phía Bắc và sang sườn Đông của dãy núi Trường Sơn, do chịu hiệu ứng phơn, khối không khí này đã mạng lại thời tiết rất khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới 370 C và độ ẩm tương đối thấp dưới 45%., mà vẫn thường được gọi là gió Lào hay gió Tây. Gió Tây tác động mạnh từ Nghệ An đến Quảng Trị và rải rác ở các khu vực phía đông của các dãy núi chạy dọc biên giới Việt – Lào và dãy núi Trường Sơn (khu Tây Bắc, Bình Định, Phú Yên, đôi khi có ảnh hưởng tới tận đồng bằng Bắc Bộ).

Thời gian hoạt động của gió Tây vào khoảng từ tháng 5 - tháng 8. Gió Tây thường thổi từng đợt, đợt ngắn 2-3 ngày, đợt dài có thể tới 10-15 ngày với cường độ mạnh nhất vào buổi trưa đến buổi chiều (từ 11h - 15h).

Khối không khí xích đạo biển (Em).

Đây là dòng phía Nam của gió mùa mùa hạ ở nước ta. Khối không khí này được hình thành từ nửa cầu Nam vượt qua xích đạo và thổi vào Việt Nam thành gió mùa Tây Nam chính thức. Đến lãnh thổ nước ta các thuộc tính về nhiệt và ẩm của khối không khí xích đạo tuy có bị biến tính ít nhiều nhưng bản chất vẫn là nóng và ẩm: To từ 26 – 300C, độ ẩm tương đối 85 – 95%. Khối khí này có tầng ẩm rất dày do tác dụng hội tụ và thăng lên của không khí trên dải hội tụ nhiệt đới.

Do những điều kiện đó, gió mùa Tây Nam ở nước ta không ổn định và thường hay gây mưa lớn, kéo dài làm cho không khí bớt nóng hơn so với khối khí nhiệt đới biển. Khối khí xích đạo hoạt động ở miền Nam nước ta, nhiều hơn ở miền Bắc do thời gian dải hội tụ nhiệt đới nằm ở phía Nam dài hơn, từ tháng 6 -> tháng10, còn ở đồng bằng Bắc Bộ chỉ mạnh nhất vào tháng 8, gây ra kiểu thời tiết mưa ngâu.

Hoạt động của gió mùa mùa Hạ

Đầu mùa hạ (t5 – t7): trung tâm áp thấp Ấn Độ – Mianma hút gió từ vịnh Bengan (TBg – có nguồn gốc từ bắc Ấn Độ Dương) thổi theo hướng Tây Nam vào Việt Nam. Khối khí này mang theo một lượng nhiệt - ẩm cao gây mưa lớn vào đầu mùa hạ cho Nam Bộ và Tây Nguyên. Khi vượt qua dải Trường Sơn Bắc, do hiệu ứng phơn tạo nên gió Tây khô nóng (gió Lào) ở vùng đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ và phần nam của khu vực Tây Bắc

Có hai nguyên nhân thuận lợi cho sự xuất hiện gió Tây khô nóng ở Việt Nam:

Trước hết vào mùa hè ở Bắc Bộ nước ta hình thành nên áp thấp Bắc Bộ khơi sâu tạo sức hút mạnh mẽ với áp cao phát gió trong vịnh Bengan.

Thứ hai thời kỳ này ở lục địa Trung Quốc xuất hiện áp thấp lục địa Hoa Nam (Nam Trung Quốc) tạo sức hút mạnh mẽ và làm cho gió Tây khô nóng có ảnh hưởng rộng lớn.

Nửa sau mùa hạ (t7 – t10/đầu t11) khối khí xích đạo biển (Em) từ nửa cầu Nam thổi theo hướng Đông Nam, vượt xích đạo chuyển thành hướng Tây Nam (do lực Côriôlit) hình thành gió mùa mùa hạ chính thức ở Việt nam, khối khí này đã trải qua một vùng biển rộng lớn ở khu vực Xích đạo và được tăng cường lượng nhiệt ẩm lớn nên đặc tính là nóng và ẩm hơn, gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên.

Gió này kết hợp với dải hội tụ nhiệt đới (khối khí xích đạo ở BBC và NBC tiếp xúc với nhau đều là các khối khí nóng ẩm, chỉ có hướng khác nhau nên hình thành dãi hội tụ nhiệt đới -- nếu khác nhau về nhiệt độ và hướng sẽ tạo nên Frông) và do ảnh hưởng của địa hình và sự xuất hiện của áp thấp Bắc Bộ, luồng gió này chuyển hướng Nam thổi vào ở một số khu vực ở miền Trung và hướng Đông Nam thổi vào miền Bắc. Thuộc tính của khối khí này là nóng ẩm, gây mưa chủ yếu cho cả hai miền Nam, Bắc và mưa lớn từ tháng 9 trở đi cho vùng Trung Bộ

Bên cạnh hậu quả thời tiết nêu trên gió mùa Tây Nam từ bán cầu Nam thổi theo từng đợt, mỗi đợt đều kèm theo sự hoạt động của dải hội tụ tạo nên các xoáy áp thấp. Khi đủ điều kiện về nhiệt ẩm, các xoáy này mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới và bão.

→ Như vậy hoạt động của gió mùa ở nước ta sẽ có những ảnh hưởng rõ rệt nhất đến sự phân mùa ở nước ta.

Miền Bắc: 1 mùa đông lạnh, ẩm, có mưa phùn và 1 mùa hạ nóng, mưa nhiều

Miền Nam: đặc trưng với 1 mùa khô sâu sắc kéo dài, nóng quanh năm và 1 mùa mưa dài từ tháng 5 – tháng 10 khi gió tín phong thịnh hành.

Các kiểu thời tiết chính do gió mùa gây ra ở nước ta

Do sự tác động giữa gió mùa và Tín phong làm cho thời tiết của nước ta có nhiều biến động. Ở miền bắc thường có những giai đoạn lạnh thường xen kẽ với những quãng ngày nóng ấm, nhưng về mùa hạ đem lại thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều. Tình trạng không thuần nhất về bản chất của gió mùa làm xuất hiện những nhiễu động trong cơ chế hoàn lưu. Những nhiễu động này có quy mô và tính chất rất khác nhau, đó là:

Frônt cực đới

Nhiễu động mạnh mẽ nhất trong mùa đông ở miền bắc nước ta, hàng năm có khoảng 15 – 20 đợt frônt tràn tới khu vực nước ta. Do hoạt động trên cao nên hoạt động front thường không gây mưa lớn. Khi có front cực tác động đột ngột, gió mạnh lên đột ngột, vTB = 5 → 10m/s ở đất liền và trên 10m/s ở ven biển và hải đảo. Hướng gió thay đổi nhanh, vùng Đông Bắc có thể giảm xuống dưới 10oC. Lượng mưa phụ thuộc vào thời gian và vùng hoạt động. thời gian đầu mùa đông ở miền Bắc ít mưa. Từ Nghệ An trở vào có mưa, đôi khi mưa lớn. Thời gian cuối mùa đông, hoạt động của front cực gây mưa phùn rất đặc trưng ở Bắc Bộ.

Dải hội tụ nội chí tuyến: là vùng hội tụ giữa 2 tín phong bắc và nam bán cầu nên có thời tiết xấu.

Dải hột tụ hình thành gần xích đạo, tịnh tiến lên phía bắc và tan đi ở các vĩ độ. Tín phong BBC là nhân tố chủ đạo tạo thành dải hội tụ.

Dải hội tụ gây thời tiết xấu ở phía Nam, còn ở phía bắc khi kết hợp với sự hình thành áp thấp mới tạo nên những đợt mưa dài ngày vào tháng 7,8. Điển hình là mưa ngâu

Bão: Là dạng nhiễu động mạnh mẽ nhất trong cơ chế gió mùa, có ý nghĩa quan trọng về mặt thời tiết. Bão thường gây mưa lớn và làm biến động đến lượng mưa của nước ta trong năm.

Nơi phát sinh của bão là khu vực biển Đông nước ta và vùng biển TBD trong khoảng vĩ độ 5-20oB. Bão hình thành trong điều kiện bất ổn định mạnh của khí quyển. Sau khi đạt mức độ phát triển mạnh, bão di chuyển về phía đất liền và thường tan đi khi đổ bộ vào bờ biển.

Hướng bão: Tây – Tây Bắc là chủ yếu

Có khoảng 40% cơn bão hoạt động trên biển Đông đổ bộ vào Việt nam. Năm nhiều nhất 13 cơn (1910), năm không có bão 1885.

Mùa bão có xu thế chậm dần từ bắc vào nam

Ở Bắc bộ và Thanh Hoá: mùa bão từ t6 – t10, TB có 1,42 cơn bão /năm

Khu vực Trung Trung Bộ: mùa bão từ 17 – t10, TB có 1,35 cơn bão /năm

Nam Trung Bộ: mùa bão giới hạn trong 2 tháng 10,11, TB có 0,85 cơn bão /năm.

Nam Bộ: mùa bão t11, 12, TB có 0,15 cơn bão /năm

Bão thường kèm theo mưa lớn. Lượng mưa bão lớn nhất trong một ngày đêm khoảng 200-300mm thậm chí có khi lên tới 500-600mm.

Qua phân tích trên cho thấy hệ thống gió mùa hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đã in đậm dấu ấn lên khí hậu nhiệt đới nước ta thông qua đặc tính và cơ chế hoạt động của các khối khí, các front và dải hội tụ nhiệt đới.

Chính tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của khí hậu đã quyết định tính chất nhiệt đới ẩm của các thành phần tự nhiên khác cũng như của tự nhiên Việt Nam nói chung.

The main types include maritime tropical (mT), maritime polar (mP), maritime Arctic (mA), continental polar (cP) and continental tropical (cT) air masses.

b) Lượng mưa, độ ẩm lớn:

- Lượng mưa trung bình năm cao: 1500–2000 mm. Mưa phân bố không đều, sườn đón gió 3500– 4000 mm.

- Độ ẩm không khí cao trên 80%, cân bằng ẩm luôn luôn dương.

+ Biểu hiện

- L​ượng mưa lớn: Trung bình từ 1500-2000 mm.

- Độ ẩm không khí cao > 80%.

- Cân bằng ẩm luôn d​ương

+ Nguyên nhân: nước ta nằm ven Biển Đông --> làm biến tính các khối không khí đi qua biển.

a) Gió mùa mùa đông: (gió mùa Đông Bắc)

- Từ tháng XI đến tháng IV

- Nguồn gốc: Khối khí lạnh xuất phát từ trung tâm áp cao Xibia di chuyển qua lục địa vào nước ta.

- Hướng gió: Đông Bắc.

- Phạm vi: Miền Bắc (dãy Bạch Mã trở ra)

- Đặc điểm: + Nửa đầu mùa đông: lạnh, khô. + Nửa sau mùa đông: lạnh, ẩm, có mưa phùn.

* Riêng từ Đà Nẵng trở vào, gió tín phong Bắc Bán Cầu thổi theo hướng Đông Bắc gây mưa cùng ven biển miền Trung, còn Nam Bộ và Tây Nguyên là mùa khô.

) Gió mùa mùa hạ: (gió mùa Tây Nam)

- Từ tháng V đến tháng X

- Nguồn gốc: Xuất phát từ trung tâm áp thấp Ấn Độ - Mianma hút gió từ Bắc Ấn Độ Dương qua vịnh Bengan vào nước ta ( khối khí nhiệt đới Bengan – TBg )

- Hướng gió: Tây Nam.

+ Đầu mùa hạ: khối khí từ Bắc Ấn Độ Dương thổi vào gây mưa lớn cho Nam Bộ và Tây Nguyên, riêng ven biển Trung Bộ và phần nam của Tây Bắc có hoạt động của gió Lào khô, nóng.

+ Giữa và cuối mùa hạ: gió tín phong từ Nam Bán Cầu di chuyển và đổi hướng thành gió Tây Nam, gây mưa lớn cho Nam Bộ và Tây Nguyên. Cùng với dải hội tụ nhiệt đới gây mưa cho cả 2 miền Nam, Bắc và mưa vào tháng IX cho Trung Bộ.

* Riêng Miền Bắc gió này tạo nên gió mùa Đông Nam thổi vào (do ảnh hưởng áp thấp Bắc Bộ).

Khí hậu

Biểu hiện

Nguyên nhân

Gió mùa

Gió mùa

Gió mùa mđ

Gió mùa mùa hạ

nằm gần trung tâm gió mùa châu Á, nơi giao tranh của các khối khí hoạt động theo mùa

Hướng gió

ĐB

TN

Nguồn gốc

Áp cao Xibia

áp cao Bắc Ấn Độ Dương

áp cao chí tuyến BCN

Phạm vi hoạt động

Miền Bắc

Cả nước

Thời gian hoạt động

Từ tháng XI đến tháng IV

từ tháng V đến tháng VII

từ tháng VI đến tháng X

Tính chất

lạnh khô, lạnh ẩm

nóng ẩm

nóng ẩm

Hệ quả

mùa đông lạnh ở MB

mưa cho TN, ĐNB, khô nóng Trung Bộ

mưa cho cả nước

Mùa hạ từ tháng VIII có sự hoạt động của dai hội tụ nhiệt đới gây nên bão, dông, lốc xoáy,...

- Ý nghĩa: tạo nên sự phân hoá khí hậu giữa hai miền Nam – Bắc

Nhiệt độ trung bình năm và tổng nhiệt độ năm của một số địa điểm

Gió mùa mùa Đông ở Khu Vực Đông Nam Á

Gió mùa mùa Hạ ở Khu Vực Đông Nam Á

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT