Tài liệu

GIÁO TRÌNH CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG part 6

Chia sẻ bởi
Lượt xem: 304     Tải về: 0     Lượt mua: 0     Định dạng:  
Báo lỗi
Bình luận
Nhúng
/ 19
Tài liệu GIÁO TRÌNH  CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG part 6 - tài liệu, sách iDoc.VnGIÁO TRÌNH CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG part 6,Phản ứng của xã hội đối với sự suy thoái đất là bảo tồn đất, có thể đưa ra các phương pháp có thể kiểm soát hoặc ngăn chặn…
background image

 

96

Phản ứng của xã hội đối với sự suy thoái đất là bảo tồn đất, có thể đưa ra các phương pháp 
có thể kiểm soát hoặc ngăn chặn sự thoái hóa đất. Mục đích của bảo tồn đất là duy trì sự hoạt 
động của sinh vật liên tục và lâu dài trong đất, hạn chế mức độ suy thoái đất. Trong thực tế, 
bảo tồn đất và nước là một trong những thách thức to lớn. Đã có những giải pháp công bố và 
đưa vào thực tiễn, tuy nhiên đễ làm sao áp dụng tốt và có những giải pháp thích hợp cho 
từng quốc gia là vấn đề rất cần thiết. 
Chính sách của nhà nước từ trung ương đến địa phương. 

-  Vấn đề về kinh tế xã hội. 
-  Tổ chức cuả các nông dân trực tiếp tham gia sản xuất. 
-  Các công ty xí nghiệp, các tổ chức đoàn  thể. 
-  Thị trường tiêu thụ. 
-  Giáo dục cộng đồng. 
-  Cộng đồng đô thị. 

V.1.4.3 Sử dụng đất ở ĐBSCL 

Trong các phần trước là những đánh giá về tiềm năng thoái hóa đất hiện tại của các nhóm 
đất chính. Kết qủa cho thấy cần phải có những chính sách, biện pháp cụ thể và phù hợp trong 
sử dụng và quản trị đất đai. Bởi lẽ, tiến trình đất cũng diễn biến như chu kỳ sống của con 
người: phát sinh (sinh ra), phát triển (lớn lên), thuần thục (trưởng thành) và bạc màu, cằn cổi 
(già đi). Đối với đất ĐBSCL cần chú ý một số điểm trong sử dụng như sau: 

-  Hiện tại, nhóm đất phù sa đang còn màu mỡ chưa có những trở ngại  đáng kể, cần 

được vun bón, làm đất và có thời gian để đất phục hồi. Nên bố trí mùa vụ và loại cây 
trồng khác nhau (thí dụ: lúa được luân canh với đậu chẳng hạn) để cải thiện độ phì 
của đất và có thể sử dụng tiềm năng phì nhiêu của đất được lâu dài. 

-  Cần bón phân hữu cơ, phân chuồng, phân xanh và làm bờ thửa cho nhóm đất phù sa 

cổ có địa hình cao để tăng độ phì nhiêu cho đất và hạn chế sự xói mòn do nước mưa 
hàng năm (đối với những loại đất có thành phần sa cấu thô ở lớp đất mặt). 

-  Cần có biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập mặn vào các vùng đất ven sông rạch đang 

bị nhiễm mặn hàng năm, để tránh hiện tượng đất bị mặn hóa và dẫn đến sodic hóa đất 
(đối với nhóm đất phù sa nhiễm mặn). Tuy nhiên, cần thận trọng hơn trong các khu 
vực đất phèn tiềm tàng, có tầng đất chứa vật liệu sinh phèn xuất hiện cạn và trung 
bình vì tiềm năng phèn hóa dễ xảy ra khi xây dựng hệ thống đê bao ngăn mặn. 

-  Đặc biệt đối với đất phèn, hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện để 

cải tạo và sử  dụng  đất phèn bằng nhiều cách khác nhau. Nhìn chung, có 3 hướng 
chính: (1) Rửa phèn (đào kinh, mương, rãnh để tháo nước phèn), (2) ém phèn (giữ 
mực thủy cấp trong đất trên tầng  đất chứa vật liệu sinh phèn), (3) bố trí cây trồng 
thích hợp (trồng các loại cây chịu phèn như: khóm, khoai mỡ, bạch  đàn, tràm, ...). 
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là cần phải tính toán để giữ cho môi trường nước và 
sinh thái không bị ô nhiễm và hủy diệt trong sử dụng và cải tạo đất phèn. 

background image

 

97

-  Đẩy mạnh công tác xã hội và khuyến nông hầu giúp người nông dân từng vùng hiểu 

nhiều hơn về mảnh đất của chính mình, để sử dụng và quản trị đất đúng hướng. 

Trên đây là một số đề nghị trong thời gian trước mắt về lâu dài, tùy trường hợp cụ thể của 
từng khu vực ở địa phương sẽ có những biện pháp khác trong sử dụng và quản trị đất đai. 
Nhìn chung, đất sản xuất là nguồn tài nguyên mang tính chất quyết định cho sự tồn tại của 
nhân loại, tiềm năng của đất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, điều cần thiết là phải biết sử 
dụng, vun đắp và cải tạo, mới có khả năng giữ và làm tăng độ phì nhiêu của đất nhằm phát 
triển sản xuất nông nghiệp lâu bền và ổn định. 

V.1.4.4 Bảo tồn tài nguyên đất trên cơ sở phát triển bền vững.    

Cùng với sự giao lưu kinh tế được mở rộng, khối lượng hàng hoá trao đổi giữa Việt Nam và 
các nước tăng nhanh, Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời tăng sử dụng tài 
nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường và suy giảm sinh thái (Mc. Loughlin & Bellinger, 
1995). Hệ sinh thái là cơ sở tồn tại của sự sống trên hành tinh chúng ta, trong đó có loài người. 
Các hệ sinh thái đảm bảo sự vận hành của các chu trình địa hoá, thuỷ hoá, chúng duy trì sự ổn 
định, màu mỡ của đất, nước, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm và giảm nhẹ thiên tai. 
Các quần xã sinh vật (gồm  động vật, thực vật và vi sinh vật)  đóng vai trò rất quan trọng  
trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, đặc biệt là thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ thiên tai: 
hạn hán, lũ lụt cũng như duy trì chất lượng nước. Việc huỷ hoại rừng do khai thác gỗ, khai 
hoang làm nông – công – ngư nghiệp cũng như các hoạt động khác của con người trong quá 
trình phát triển kinh tế làm cho tốc độ xói mòn, sạt lở đất, hoang mạc hoá đất đai tăng lên rất 
nhanh. Đất bị suy thoái khiến thảm thực vật khó có thể phục hồi càng gia tăng các thảm hoạ 
thiên nhiên…gây ô nhiễn môi trường đất, nước không khí. 
Quần xã thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu địa phương, khí hậu vùng 
và toàn cầu: tạo ra bóng mát, khuyếch tán hơi nước, giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết 
nóng bức, giảm sự mất nhiệt khi khí hậu lạnh giá, điều hoà nguồn oxy và cacbonic cho môi 
trường trên cạn cũng như dưới nước thông qua quá trình quang hợp… 
Các quần xã sinh vật đặc biệt là các loại nấm và vi sinh vật có khả năng hấp thụ, phân huỷ 
các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải nguy hại khác… 
 

V.1.5. Quản lý tài nguyên đất 

V.1.5.1 Thu thập dữ liệu gốc về tài nguyên đất  

Đây là việc làm tối cần thiết, là số liệu gốc và nền tảng cho việc thẩm  định và đánh giá 
nguồn tài nguyên đất. Đánh giá tài nguyên đất đai hiện nay có thể được tiến hành dựa trên 
các kỹ thuật tin học như: viễn thám, hệ thống thông tin địa lý, và mô hình hoá tài nguyên đất 

V.1.5.2 Phân loại đất 

Phân loại tài nguyên đất là một trong những công việc không thể thiếu trong việc khảo sát 
TNMTĐ, nó là một trong những phần việc  đầu tiên của phân tích tài nguyên đất (TNĐ). 
Trong các nghiên cứu về  đất cần chú ý sức chứa, sức sản xuất, sự nhạy cảm môi trường 
(MT) và các tác động MT của MT đất. Ví dụ như khi sử dụng tài nguyên đất cho trồng rừng 

background image

 

98

thi trước nhất nên đánh giá xem ảnh hưởng của nó đến chất lượng MT đất nước không khí 
quanh vùng. Kiến thức về hệ sinh thái rất quan trọng để giải quyết các vấn đề trên 

V.1.5.3 Thống kê tài nguyên đất đai 

Thống kê TNĐ nhằm để cung cấp thông tin về sự xói mòn, đưa ra tiêu chuẩn về khả năng sử 
dụng TNMTĐ, và cũng cung cấp cơ sở cho việc qui hoạch và sử dụng đất ở cấp quốc gia và 
cấp vùng. Đánh giá khả năng sử dụng đất đai để phân vùng sử dụng phục vụ cho sản xuất 
nông nghiệp bền vững. 

V.1.5.4 Vấn đề kinh tế xã hội phát sinh trong việc quản lý đất 

- Tốc độ gia tăng dân số 
- Đặc tính môi trường sinh sống 
- Khả năng khai thác vùng đất mới 
- Sự hình thành và phát triển mô hình xã hội mới  
- Hoạt động của con người 

V.1.5.5 Qui hoạch và sử dụng đất nông nghiệp 

Qui hoạch sử dụng đất đai thường dựa chủ yếu vào hệ thống phân loại của FAO-UNESCO, 
và của Mỹ. Mỗi hệ thống đều có những ưu và khuyết khác nhau. Hệ thống phân loại của Mỹ 
đơn giản, trình bày kết quả rỏ ràng có thể dùng để đánh giá phân hạng cho cả nước mà cũng 
có thể dùng để qui hoạch cho cơ sở sản xuất nông nghiệp. Nhược điểm của hệ thống này 
không thể xem xét đến yêu cầu phong phú của cách sử dụng đất khác. 
Những quyết định qui hoạch thường dựa vào khảo sát cơ bản và phân tích có liên quan, được 
thể hiện theo sơ đồ sau: 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Những tham khảo ban đầu 

Khảo sát cơ bản 

Phân loại đất định tính 

Phân tích kinh tế xã hội 

Phân loại đất đai định lượng 

Những quyết định cho qui 

hoạch 

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

Liên hệ quảng cáo

GIÁO TRÌNH CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG part 6

Phản ứng của xã hội đối với sự suy thoái đất là bảo tồn đất, có thể đưa ra các phương pháp có thể kiểm soát hoặc ngăn chặn sự thoái hóa đất. Mục đích của bảo tồn đất là duy trì sự hoạt động của sinh vật liên tục và lâu dài trong đất, hạn chế mức độ suy thoái đất. Trong thực tế, bảo tồn đất và nước là một trong những thách thức to lớn. Đã có những giải pháp công bố và đưa vào thực tiễn, tuy nhiên đễ làm sao áp dụng tốt và có những giải pháp thích hợp cho từng quốc gia là vấn đề rất cần thiết.

Gửi nhận xét của bạn về tài liệu này
Tài liệu liên quan
Giải bài tập xác suất thống kê Lượt tải: 1460 Lượt xem: 115224
Bài tập kiểm toán căn bản có lời giải Lượt tải: 558 Lượt xem: 110022
Bài giảng Hoán vị đại động mạch Lượt tải: 4 Lượt xem: 89028
Có thể bạn quan tâm
Bài giảng Hoán vị đại động mạch Lượt tải: 4 Lượt xem: 89028
Khái niệm văn bản và phân loại văn bản Lượt tải: 244 Lượt xem: 73665
tâm lý học đại cương Lượt tải: 328 Lượt xem: 67125
Bái giảng Giáo dục quốc phòng An ninh Lượt tải: 253 Lượt xem: 52673
Bài tập ma trận và định thức Lượt tải: 185 Lượt xem: 51620