Tài liệu

DOI MOI PHUONG PHAP DAY HOC MON NGU VAN THPT

Chia sẻ bởi
Lượt xem: 330     Tải về: 0     Lượt mua: 0     Định dạng:    
Báo lỗi
Bình luận
Nhúng
/ 4
Tài liệu DOI MOI PHUONG PHAP DAY HOC MON NGU VAN THPT - tài liệu, sách iDoc.VnDOI MOI PHUONG PHAP DAY HOC MON NGU VAN THPT,Phương pháp dạy học môn Ngữ vănThứ Ba, 05/04/2011, 01:48 CH | Lượt xem: 1229 Một vài ý kiến về phương pháp dạy học môn Ngữ văn dành cho…
Phương pháp dạy học môn Ngữ văn
Thứ Ba, 05/04/2011, 01:48 CH | Lượt xem: 1229
Một vài ý kiến về phương pháp dạy học môn Ngữ văn dành cho sinh viên khoa văn và giáo viên giảng dạy bộ
môn tham khảo
1. Trên mục Trao đổi của báo Văn nghệ gần đây, xuất hiện một loạt ý kiến bàn về việc đổi mới phương pháp
dạy học Ngữ văn - một vấn đề tuy đã được nói đến nhiều, song chưa bao giờ hết tính thời sự, nhất là hiện nay,
khi những thông tin về việc dạy học, thi cử môn Văn ớc ngoài không còn xa lạ, khi bộ sách giáo khoa
Ngữ văn mới được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Trong bài báo đăng trên Văn nghệ số 10, 7 - 3 - 2009,
GS Trần Đình Sử nêu thẳng vấn đề: muốn đổi mới căn bản phương pháp dạy học văn, không có con đường nào
khác phải trở về với văn bản văn học. tưởng ấy được hình thành từ nhận thức của ông về thực trạng dạy
học văn trong nhà trường bấy lâu nay: ấy là kiểu dạy học lấy thế bản thay cho văn bản. Thế bản Trần Đình
Sử nói đến đây gồm bài soạn của thầy các tài liệu tham khảo đủ loại, đủ kiểu, chất lượng rất khác nhau,
đầy rẫy trên thị trường sách hiện nay. Theo Trần Đình Sử, chính sự lệ thuộc quá mức của học sinh vào các thế
bản đã đẩy các em vào tình trạng thụ động, luôn luôn chờ đợi những kết quả người khác cảm nghĩ hộ, mất
khả năng t mình thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn chương đ nói lên những cảm nhận,
những rung động của chính bộ óc, con tim của mình bằng chính lời lẽ của mình. Mọi sự bất ổn của tình trạng
dạy học văn bấy lâu nay có nguồn gốc từ đó.
Cách đặt vấn đề, cách mô tả thực trạng và đề xuất giải pháp của GS Trần Đình Sử khiến những ai quan tâm đến
lĩnh vực này phải suy nghĩ. Loạt bài được công bố trên báo Văn nghệ tiếp sau đó, dù thuộc loại ý kiến phản đối
hay tán đồng, hoặc nhân đó mà bàn sâu thêm về phương pháp dạy học văn, đều cho thấy vấn đề mà Trần Đình
Sử đặt ra đã không rơi vào im lặng.
2. Theo tôi, với tưởng cốt lõi được nêu trongi báo, GS Trần Đình Sử đã chỉ rất trúng căn bệnh kinh niên
trong dạy học văn ở nhà trường chúng ta.
2.1. Không thể phủ nhận rằng, khoảng một thập niên trở lại đây, việc đổi mới cách dạy học văn đã được tiến
hành rộng khắp trong cả nước. Vai trò mối quan hệ giữa người dạy người học đã khác trước. Sự chủ
động, tích cực của học sinh trong giờ học được đề cao. Các phương tiện dạy học phong phú hơn. Tuy nhiên, tất
cả những diễn ra môn Văn như thế, chẳng qua cũng chỉ sự khúc xạ những tiến bộ chung về quan niệm
dạy học hiện đại. i gọi "tư tưởng dạy học văn theo hướng coi trọng hoạt động của học sinh, giáo viên
người định hướng tổ chức, không phải người truyền đạo, áp đặt" Nguyễn Minh Phương nêu lên (Văn
nghệ số 13, 28 - 3 - 2009) như một bằng chứng về thành tựu đổi mới dạy học văn, thực chất vẫn nằm trong cái
khuôn chung của giáo dục học. Hoàn toàn thể dùng mệnh đề ấy cho việc đánh giá hiện trạng dạy học bất
kì môn nào.
Rõ ràng, trong thực tế, chưa có được sự đổi mới căn bản, triệt để dựa trên đặc thù môn Ngữ văn phản ánh trong
mối quan hệ bộ ba hữu cơ: thầy giáo (người hướng dẫn, tổ chức) - học sinh (chủ thể tiếp nhận) - văn bản (đối
tượng của sự tiếp nhận). Nêu vấn đềy, tôi hoàn toàn ý thức được đây điểm nhạy cảm, dễ thu hút những ý
kiến ngược chiều. Chẳng hạn, ai đó thể chất vấn: chẳng lẽ việc dạy học văn như đã tiến hành ta bấy lâu
vẫn chưa đúng đặc thù bộ môn hay sao ? Thế o mới được xem đổi mới triệt để? Trả lời cho những
nghi vấn kia không hề đơn giản, không dễ gói gọn trong một vài câu. Theo tôi, mấu chốt của vấn đề chính
chỗ: dứt khoát không để thế bản thay cho văn bản như tình trạng dạy học văn lâu nay đã được GS Trần Đình
Sử báo động. Phải nhận thức như thế, mới mong tìm ra con đường hữu hiệu, từ đó, mọi hoạt động đổi mới
phương pháp mới có thể đúng hướng, thông suốt.
Nếu tham dự một giờ dạy ngữ văn của người giáo viên hiện nay (nhất giờ thao giảng, hội giảng), ta sẽ nhận
thấy những nỗ lực đáng kể trong việc thay đổi cách dạy. Tệ đọc chép GS Trần Đình Sử phê phán không
còn phổ biến, thay vào đó, giáo viên thể thuyết giảng, có thể dùng phương pháp đàm thoại (thầy hỏi, trò trả
lời), lại cũng thể chia nhóm cho học sinh trao đổi với nhau, sau đó nhóm trưởng nêu ý kiến để cả lớp cùng
thảo luận. Phần củng cố bài học, nhiều giáo viên đã đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm cho học sinh suy nghĩ và trả
lời nhanh. Tóm lại, rất nhiều thủ pháp, mẹo mực được áp dụng, đặc biệtở những giáo viên thông minh, ham
tìm tòi, giàu sáng kiến. Giờ dạy học có lúc rất sinh động, sôi nổi và không kém hứng thú, nhất là khi cả thầy và
trò cùng hoan hỉ vì người hỏi và người đáp đã trở nên "ý hợp tâm đầu".
2.2. Thế nhưng, ngay cả những giờ dạy được đánh giá cao về đổi mới phương pháp như vậy, học sinh vẫn chưa
thực s chủ động hoàn toàn trước văn bản. Dường như dưới sự dẫn dắt khôn khéo của thầy, các em đang cố
gắng tiệm cận với một chân lí, một chuẩn mực tri thức văn cụ thể, chính xác nào đó, trong khi lẽ ra, đối diện
với văn bản, nhất văn bản nghệ thuật, các em được đối diện với một khung trời rộng mở, mọi tính, sở
thích, mọi hình dung, tưởng tượng của nhân đều chỗ để phát huy. Đọc bài được gọi "bài văn lạ" của
một học sinh vốn người Việt Nam, nhưng được học thi nước ngoài, tôi nhận thấy một khoảng cách
cùng lớn giữa lối dạy của chúng ta lối dạy của họ. Sự phóng khoáng trong tưởng, duy, sự tự do
trong phát ngôn của các em chắc chắn những điều khiến chúng ta cảm thấy hoàn toàn lạ lẫm. Giáo viên
chúng ta hẳn vô cùng lúng túng khi gặp những bài văn kiểu đó. Cho nên, gọi là phát huy tính tích cực chủ động
của học sinh như cách làm của ta lâu nay, thực ra vẫn mang tính chất nửa vời. Những trường hợp được xem
thành công, vẫn vướng vất cái như sự bó, áp đặt. Cả thầy trò "diễn" một cách rất tự nhiên, cũng
khó thoát li hẳn cái "kịch bản" tồn tại ngầm, tác dụng mớm sẵn những "lời thoại", tạo nên sự ăn ý giữa
các "vai diễn". Nghĩa là cả thầy và trò đều chưa thể thoát khỏi sự kiềm tỏa, chi phối của thế bản. Thậm chí, còn
cảm thấy rất tiện khi có nó.
2.3. Trước hết, hãy nhìn vấn đề từ phía người thầy. một thực tế, người giáo viên phổ thông (cả THCS
THPT) phải cáng đáng một khối lượng công việc rất lớn. Hãy xem các vấn đề ngữ văn liên quan đến công việc
giảng dạy của họ: phần Tiếng Việt, bao gồm mọi cấp độ (những vấn đề chung về ngôn ngữ tiếng Việt, từ
ngữ, ngữ pháp, các biện pháp tu từ, các phong cách chức năng); phần Văn văn học Việt Nam (từ văn học
dân gian đến văn học viết mọi thời kì), văn học nước ngoài (gồm văn học Trung Quốc, ấn Độ, Nhật Bản, Hi
Lạp, Nga, Anh, Pháp, Đức, Mĩ…); phần Làm văn dạy thuyết thực hành c kiểu nghị luận hội
nghị luận văn học. giáo viên dạy văn phổ thông đã nói đùa: anh ta phải cõng trên lưng công việc của cả
khoa Ngữ văn một trường đại học ! Với một công việc bộn bề như vậy, khó đòi hỏi người giáo viên thể
suy nghĩ kĩ càng trên những văn bản cụ thể trong chương trình để đưa ra phương án giảng dạy riêng, hoàn toàn
thoát li sự áp đặt của những ý kiến khác (những ý kiến khác ấy không tồn tại lẻ tẻ mà đã thành hệ thống, rất
uy lực, khó mà thoát khỏi tầm khống chế của chúng).
một yêu cầu tất yếu đặt ra: muốn học sinh đọc hiểu thì giáo viên không chỉ phải hiểu văn bản, mà còn hình
dung những con đường tiếp cận văn bản. Nhưng đó đâu phải chuyện đơn giản. y thử hình dung, khi đối
diện với một văn bản, nhất những văn bản mới được đưa vào sách giáo khoa như mấy năm gần đây, giáo
viên sẽ tiến hành công việc thiết kế bài dạy như thế nào ? Bước 1: nhớ lại những định hướng được tiếp thu qua
các chuyên đề thay sách (diễn giả có thể là tác giả SGK, có thể là cốt cán chuyên môn của Sở Giáo dục từng dự
các đợt chuyên đề do Bộ Giáo dục tổ chức); bước 2: đọc, nghiền ngẫm văn bản, xem hệ thống câu hỏi hướng
dẫn ở cuối bài; bước 3: tìm đọc các tài liệuliên quan (sách giáo viên, sách để học tốt Ngữ văn, sách thiết kế
bài dạy Ngữ văn, các i phân tích về tác phẩm trên báo chí, trong c tài liệu tham khảo…). Ngập giữa "mê
hồn trận" sách vở tham khảo đó, giáo viên phải tìm một lối để đi đến bước cuối cùng: tự thiết kế bài dạy theo
cách của mình. Nói tự thiết kế, nhưng thực chất, sự hiểu của giáo viên về văn bản tổng hòa của nhiều
nguồn tri thức, nhiều cách cảm thụ (tức là nhiều thế bản khác nhau).
Nói vậy, hẳn người schất vấn: chẳng lẽ giáo viên văn hiện nay lại thụ động đến thế? Chẳng lẽ, với những
văn bản trong chương trình, giáo viên vẫn không tự mình cảm thụ, chiếm lĩnh được phải trông cậy vào các
nguồn tài liệu, cũng tức sự cảm thụ người khác? Câu trả lời xin nhường cho những thầy đang trực tiếp
dạy học môn Ngữ văn trường phổ thông. Chỉ xin nói thêm rằng: trong bối cảnh hiện nay, giáo viên nào thực
thi đầy đủ các bước nêu trên, nhất tìm được nhiều bài viết về c tác phẩm trong SGK để tham khảo, soạn
bài, hẳn sẽ được xem là người say mê chuyên môn, chịu khó làm việc. Nghĩa là việc sử dụng nhuần nhuyễn thế
bản vẫn chưa bao giờ bị coi nhược điểm. Biết thế để hình dung hơn thực trạng, cũng để hiểu thêm
rằng, một sự đổi mới tận gốc là chuyện không dễ.
2.4. Nhìn vào phía học sinh, ta thấy, thái độ đối với môn văn của các em sự phân lập rất rõ. Số đông học
sinh hiện nay có thiên hướng thi vào đại học các khối tự nhiên (do dễ kiếm việc làm sau khi ra trường). Với bộ
phậny, môn Văn nhiên bị gạt ra rìa. Số còn lại, rất ít, dự thi vào hai khối C, D thì học văn với một động
cơ rất thực dụng: để thi đại học, cao đẳng. Bây giờ, có ai đó nói đến học văn là để thưởng thức văn chương, để
bồi đắp mĩ cảm, để hoàn thiện nhân cách… thì chắc chắn sẽ nhận được từ học sinh một nụ cười đầy hàm ý. Với
Liên hệ quảng cáo

những em học văn để đối phó cho xong một môn (cần có điểm để tổng kết, cần thi tốt nghiệp), thì tài liệu tham
khảo là cẩm nang trong mọi tình huống. Với những học sinh xác định môn Văn là một cửa ải phải vượt qua để
vào đại học, thì bài giảng của thầy, những tài liệu phân tích bình giảng tác phẩm, những sách văn mẫu, tài liệu
luyện thi…sẽ những vật bất li thân, bùa hộ mệnh. Bao nhiêum nay, đề thi thường hướng tới trọng tâm
kiểm tra kiến thức (cách hiểu, ch thẩm bình, đánh giá một đoạn văn, đoạn thơ, một vấn đề về tác gia, tác
phẩm…). Vậy, con đường ngắn nhất để đáp ứng đòi hỏi của đáp án là nắm kiến thức văn qua bài dạy của thầy,
qua tài liệu tham khảo. Mày mò đọc, tự phân tích văn bản làm gì cho mất thời gian, cho hao tâm tổn trí khi
hiệu quả thiết thực (điểm thi) chắc chắn không sánh được với việc ghi chép đầy đủ bài học luyện thi, nắm vững
các ý trong những tài liệu được viết kĩ, có chất lượng. Thử tìm đọc một đáp án đề thi môn Văn bất kì trong dăm
bảy năm trở lại đây, sẽ thấy cách học của học sinh như tình trạng nêu trên là một sự lựa chọn khôn ngoan.
Như vậy, trong quá trình dạy học văn, sự lép vế của văn bản trước thế bản một thực tế tất yếu. Luật đời
cầu thì có cung. Một nhu cầu đã được hình thành và duy trì trong chừng ấy thời gian thì nguồn cung ứng đương
nhiêu sẽ hết sức phong phú. Ai cấm được người viết bài phân tích, bình giảng tác phẩm trong nhà trường? Ai
cấm được người viết sách tham khảo? Ai cấm được học sinh mua, đọc sách phục vụ cho việc học để thi?
2.5. Trước tình trạng ấy, ý kiến của GS Trần Đình Sử thể xem như tiếng chuông báo động. Tôi nghĩ, quan
điểm cho rằng: học sinh phải người đọc chủ động, tích cực, không bị nhiễu, không bị chi phối bởi một cách
hiểu sẵn o, một quan điểm đúng, cần được khẳng định. Xem đó con đường đổi mới triệt để dạy học
Ngữ văn cũng hoàn toàn thỏa đáng. Xin đừng nghĩ, trở về với văn bản là rơi vào khép kín, là tước bỏ mọi quan
hệ giữa ngôn từ với đời sống. Chữ nghĩa nào cũng có "sinh mệnh", có bề dày văn hóa, có hơi thở đời sống phả
vào. Chỉ e người tiếp nhận (cả người dạy người học) không nghe được cái phập phồng của ngôn từ trong
văn bản mà thôi.
3. Trở về với văn bản, đề cao sự cảm thụ hồn nhiên của học sinh con đường đúng, nhưng không dễ thực thi
trong điều kiện hiện nay. Rất nhiều lực cản từ nhiều phía, cả chủ quan lẫn khách quan cần vượt qua. Chẳng
hạn, phải xác định lại mục tiêu của bộ môn, xác định vai trò của người học người dạy, xây dựng lại
chương trình, phân bố thời lượng cho các văn bản…Trong hàng loạt vấn đề nan giải đó, tôi xin phân tích mấy
yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới công việc đổi mới phương pháp theo định hướng nêu trên
3.1. Trước hết, phải được một môi trường hội, môi trường giáo dục tôn trọng chủ kiến của nhân.
Chúng ta thường nói đến việc tạo ra không khí đối thoại trong giờ học, nhưng thực tế, đó mới chỉ đàm thoại
(hỏi đáp) chứ chưa phải là đối thoại đích thực, tức là sự thể hiện tiếng nói, sự cọ xát giữa các ý thức. Xét về đặc
điểm tâm lí, trí tuệ, tình cảm lứa tuổi, học sinh THPT (sắp lấy bằngtài) dĩ nhiên đã có trình độ nhận thức xã
hội, nhận thức thẩm mĩ đạt đến mức thể đưa ra những cảm nhận độc lập trước một hiện tượng, một tác
phẩm. Xem một bộ phim, nghe một ca khúc, ngắm một bức tượng…, các em thể nhận xét của riêng
mình, vậy cớ trước một văn bản, lại không phản ứng riêng phải dựa dẫm vào ý người khác? Tôi tin,
nếu được không khí thật cởi mở, nếu được khích lệ, học sinh sẽ hoàn toàn thoải mái trong việc phát biểu
chủ kiến. Thiết nghĩ, ở đây cần phải tính đến sự nhạy cảm về tưởng, chính trị hội của nội dung môn học,
nội dung một số văn bản trong chương trình. Trước những văn bản như Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích
Như của Nguyễn Huy Tưởng), trích đoạn vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, Một
người Nội của Nguyễn Khải, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu…học sinh sẽthể bị xem
"phạm húy" khi đưa ra những cách nhìn, cách đánh giá về một số vấn đề, một số nhân vật nếu chúng ta vẫn giữ
cách nhìn cũ. Chẳng phải từng xuất hiện không ít bài viết cứ lăm lăm đưa cái thước "yêu nước, nhân đạo" để
đo giá trị của những tác phẩm viết trong giai đoạn đổi mới, đồng thời nhân đó cũng "đo" luôntưởng của tác
giả SGK đó sao?
3.2. Với những yêu cầu cao trong công việc đổi mới phương pháp, người giáo viên phải nâng cao trình độ
bản lĩnh. Truyền thụ tri thức, rèn luyện năng đã khó, hướng dẫn cách cảm thụ, lối duy cho học sinh còn
khó bội phần. Sự cập nhật tri thức phải luôn đi đôi với nâng cao trình độ phạm. Một khi đã quán triệt tinh
thần coi học sinh chủ thể tiếp nhận, tất yếu giáo viên sẽ phải đối diện với sự đa dạng, phức tạp trong tư duy,
trong cách phát ngôn của các em. Tinh thần "nhất nguyên" sẽ được thay thế bằng tình trạng phân lập trình độ
cảm thụ, sự xung đột giữa các luồng ý kiến. Thực tế đó sẽ những thách thức không nhỏ đối với bản lĩnh của
người thầy.
Liên hệ quảng cáo

DOI MOI PHUONG PHAP DAY HOC MON NGU VAN THPT

Phương pháp dạy học môn Ngữ vănThứ Ba, 05/04/2011, 01:48 CH | Lượt xem: 1229 Một vài ý kiến về phương pháp dạy học môn Ngữ văn dành cho sinh viên khoa văn và giáo viên giảng dạy bộ môn tham khảo1. Trên mục Trao đổi của báo Văn nghệ gần đây, xuất hiện một loạt ý kiến bàn về việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn - một vấn đề tuy đã được nói đến nhiều, song chưa bao giờ hết tính thời sự, nhất là hiện nay, khi những thông tin về việc dạy học, thi cử môn Văn ở nước ngoài không còn xa lạ, và khi bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Trong bài báo đăng trên Văn nghệ số 10, 7 - 3 - 2009, GS Trần Đình Sử nêu thẳng vấn đề: muốn đổi mới căn bản phương pháp dạy học văn, không có con đường nào khác là phải trở về với văn bản văn học. Tư tưởng ấy được hình thành từ nhận thức của ông về thực trạng dạy học văn trong nhà trường bấy lâu nay: ấy là kiểu dạy học lấy thế bản thay cho văn bản. Thế bản mà Trần Đình Sử nói đến ở đây gồm bài soạn của thầy và các tài liệu tham khảo đủ loại, đủ kiểu, chất lượng rất khác nhau, đầy rẫy trên thị trường sách hiện nay. Theo Trần Đình Sử, chính sự lệ thuộc quá mức của học sinh vào các thế bản đã đẩy các em vào tình trạng thụ động, luôn luôn chờ đợi những kết quả mà người khác cảm nghĩ hộ, mất khả năng tự mình thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn chương để nói lên những cảm nhận, những rung động của chính bộ óc, con tim của mình bằng chính lời lẽ của mình. Mọi sự bất ổn của tình trạng dạy học văn bấy lâu nay có nguồn gốc từ đó.Cách đặt vấn đề, cách mô tả thực trạng và đề xuất giải pháp của GS Trần Đình Sử khiến những ai quan tâm đến lĩnh vực này phải suy nghĩ. Loạt bài được công bố trên báo Văn nghệ tiếp sau đó, dù thuộc loại ý kiến phản đối hay tán đồng, hoặc nhân đó mà bàn sâu thêm về phương pháp dạy học văn, đều cho thấy vấn đề mà Trần Đình Sử đặt ra đã không rơi vào im lặng.2. Theo tôi, với tư tưởng cốt lõi được nêu trong bài báo, GS Trần Đình Sử đã chỉ rất trúng căn bệnh kinh niên trong dạy học văn ở nhà trường chúng ta.2.1. Không thể phủ nhận rằng, khoảng một thập niên trở lại đây, việc đổi mới cách dạy học văn đã được tiến hành rộng khắp trong cả nước. Vai trò và mối quan hệ giữa người dạy và người học đã khác trước. Sự chủ động, tích cực của học sinh trong giờ học được đề cao. Các phương tiện dạy học phong phú hơn. Tuy nhiên, tất cả những gì diễn ra ở môn Văn như thế, chẳng qua cũng chỉ là sự khúc xạ những tiến bộ chung về quan niệm dạy học hiện đại. Cái gọi là "tư tưởng dạy học văn theo hướng coi trọng hoạt động của học sinh, giáo viên là người định hướng tổ chức, không phải là người truyền đạo, áp đặt" mà Nguyễn Minh Phương nêu lên (Văn nghệ số 13, 28 - 3 - 2009) như một bằng chứng về thành tựu đổi mới dạy học văn, thực chất vẫn nằm trong cái khuôn chung của giáo dục học. Hoàn toàn có thể dùng mệnh đề ấy cho việc đánh giá hiện trạng dạy học ở bất kì môn nào.Rõ ràng, trong thực tế, chưa có được sự đổi mới căn bản, triệt để dựa trên đặc thù môn Ngữ văn phản ánh trong mối quan hệ bộ ba hữu cơ: thầy giáo (người hướng dẫn, tổ chức) - học sinh (chủ thể tiếp nhận) - văn bản (đối tượng của sự tiếp nhận). Nêu vấn đề này, tôi hoàn toàn ý thức được đây là điểm nhạy cảm, dễ thu hút những ý kiến ngược chiều. Chẳng hạn, ai đó có thể chất vấn: chẳng lẽ việc dạy học văn như đã tiến hành ở ta bấy lâu mà vẫn chưa đúng đặc thù bộ môn hay sao ? Thế nào mới được xem là đổi mới triệt để? Trả lời cho những nghi vấn kia không hề đơn giản, không dễ gói gọn trong một vài câu. Theo tôi, mấu chốt của vấn đề chính là ở chỗ: dứt khoát không để thế bản thay cho văn bản như tình trạng dạy học văn lâu nay đã được GS Trần Đình Sử báo động. Phải nhận thức như thế, mới mong tìm ra con đường hữu hiệu, từ đó, mọi hoạt động đổi mới phương pháp mới có thể đúng hướng, thông suốt.Nếu tham dự một giờ dạy ngữ văn của người giáo viên hiện nay (nhất là giờ thao giảng, hội giảng), ta sẽ nhận thấy những nỗ lực đáng kể trong việc thay

Chia sẻ bởi
Lượt xem: 330     Tải về: 0     Lượt mua: 0     Định dạng:    
Gửi nhận xét của bạn về tài liệu này
comments powered by Disqus
Tài liệu liên quan
Văn hay Lớp 4 - Tả cây cối - Tả… Lượt tải: 62 Lượt xem: 164022
16 BÀI VĂN HAY LỚP 2 Lượt tải: 282 Lượt xem: 115191
Có thể bạn quan tâm