Chia sẻ Download
Tài liệu Dề cương tuyên truyền 35 năm giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc
/9 trang
Thành viên nguyenlong0981

Dề cương tuyên truyền 35 năm giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc

- 10 tháng trước
256
Báo lỗi

ĐÊ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀNKỶ NIỆM 35 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2010)Phần thứ nhấtTHẮNG LỢI VĨ ĐẠICỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚCNgày 30/4/1975, nhân dân ta kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, gian khổ và ác liệt. Đây là thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi chiến công của dân tộc ta trên con đường dựng nước và giữ nước suốt hơn hàng ngàn năm lịch sử.35 năm đã trôi qua, loài người bước vào thiên niên kỷ mới nhưng thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn làm nức lòng nhân dân ta và bạn bè tiến bộ yêu chuộng hòa bình, độc lập tự do, công lý trên thế giới và vẫn là sức mạnh tinh thần, vật chất cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.I. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚCCuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta bắt đầu từ năm 1954 và kết thúc thắng lợi vào năm 1975. Sau giai đoạn đầu (1954 - 1960), Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu. Trong khó khăn thử thách gay go quyết liệt, Đảng ta đã xác định ngày càng rõ hơn nhiệm vụ cách mạng của hai miền. Hội nghị Trung ương 13 (12/1957) đã khẳng định: Nước ta đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ duy trì và phát triển lực lượng cách mạng ở miền Nam là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Nhiệm vụ củng cố miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới. Nghị quyết Trung ương 15 (01/1959) chủ trương cách mạng miền Nam phải chuyển sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Nghị quyết Trung ương 15 phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu tiến lên của cách mạng miền Nam. Nó là ngọn lửa dấy lên cao trào đồng khởi (1959 - 1960) làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam, mở ra những chặng đường thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.1. Đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961 - 1965)Ngày 28/01/1961, Tổng thống Mỹ Kennơđi chính thức thông qua chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, thực chất là cuộc chiến tranh “dùng người Việt đánh người Việt”, với công thức: lực lượng ngụy cộng vũ khí và cố vấn Mỹ. Để thực hiện chiến lược này, Mỹ đã tăng viện trợ, đưa thêm vũ khí và quân Mỹ vào miền Nam. Quân Mỹ ở miền Nam: Từ năm 1960 có 2.000 tên; năm 1962 tăng lên 11.300 tên, với 257 máy bay các loại; đến năm 1964 đã lên đến 26.200 tên cùng với các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Mỹ viện trợ hàng tỷ đô la để tăng quân ngụy từ 15 vạn năm 1960 lên đến 56,3 vạn năm 1964, với 983 máy bay, 418 khẩu pháo, 942 xe tăng, thiết giáp. Chúng vạch kế hoạch Stalây – Taylo, hòng bình định miền Nam trong 18 tháng, đồng thời thực hiện kế hoạch “bình định, dồn dân, lập ấp chiến lược”, coi đó là “xương sống” của “Chiến tranh đặc biệt”.Để đối phó với chiến lược mới của địch, ngày 31/01/1961, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị “về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam”. Ngày 15/2/1961, các tổ chức vũ trang miền Nam đã thống nhất thành “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam”.Ở miền Bắc, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, các phong trào thi đua sôi nổi “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” ở khắp các địa phương, các cấp, các ngành đã đưa cách mạng miền Bắc trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế quốc phòng lớn mạnh. Để phục vụ cách mạng miền Nam, miền Bắc không ngừng tăng cường chi viện sức người, sức của cho miền Nam.- Ngày 02/01/

Nội dung
ĐÊ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

ĐÊ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

KỶ NIỆM 35 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2010)

Phần thứ nhất

THẮNG LỢI VĨ ĐẠI

CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

Ngày 30/4/1975, nhân dân ta kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, gian khổ và ác liệt. Đây là thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi chiến công của dân tộc ta trên con đường dựng nước và giữ nước suốt hơn hàng ngàn năm lịch sử.

35 năm đã trôi qua, loài người bước vào thiên niên kỷ mới nhưng thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn làm nức lòng nhân dân ta và bạn bè tiến bộ yêu chuộng hòa bình, độc lập tự do, công lý trên thế giới và vẫn là sức mạnh tinh thần, vật chất cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

I. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta bắt đầu từ năm 1954 và kết thúc thắng lợi vào năm 1975. Sau giai đoạn đầu (1954 - 1960), Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu. Trong khó khăn thử thách gay go quyết liệt, Đảng ta đã xác định ngày càng rõ hơn nhiệm vụ cách mạng của hai miền. Hội nghị Trung ương 13 (12/1957) đã khẳng định: Nước ta đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ duy trì và phát triển lực lượng cách mạng ở miền Nam là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Nhiệm vụ củng cố miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới. Nghị quyết Trung ương 15 (01/1959) chủ trương cách mạng miền Nam phải chuyển sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Nghị quyết Trung ương 15 phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu tiến lên của cách mạng miền Nam. Nó là ngọn lửa dấy lên cao trào đồng khởi (1959 - 1960) làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam, mở ra những chặng đường thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

1. Đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961 - 1965)

Ngày 28/01/1961, Tổng thống Mỹ Kennơđi chính thức thông qua chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, thực chất là cuộc chiến tranh “dùng người Việt đánh người Việt”, với công thức: lực lượng ngụy cộng vũ khí và cố vấn Mỹ. Để thực hiện chiến lược này, Mỹ đã tăng viện trợ, đưa thêm vũ khí và quân Mỹ vào miền Nam. Quân Mỹ ở miền Nam: Từ năm 1960 có 2.000 tên; năm 1962 tăng lên 11.300 tên, với 257 máy bay các loại; đến năm 1964 đã lên đến 26.200 tên cùng với các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Mỹ viện trợ hàng tỷ đô la để tăng quân ngụy từ 15 vạn năm 1960 lên đến 56,3 vạn năm 1964, với 983 máy bay, 418 khẩu pháo, 942 xe tăng, thiết giáp. Chúng vạch kế hoạch Stalây – Taylo, hòng bình định miền Nam trong 18 tháng, đồng thời thực hiện kế hoạch “bình định, dồn dân, lập ấp chiến lược”, coi đó là “xương sống” của “Chiến tranh đặc biệt”.

Để đối phó với chiến lược mới của địch, ngày 31/01/1961, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị “về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam”. Ngày 15/2/1961, các tổ chức vũ trang miền Nam đã thống nhất thành “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam”.

Ở miền Bắc, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, các phong trào thi đua sôi nổi “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” ở khắp các địa phương, các cấp, các ngành đã đưa cách mạng miền Bắc trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế quốc phòng lớn mạnh. Để phục vụ cách mạng miền Nam, miền Bắc không ngừng tăng cường chi viện sức người, sức của cho miền Nam.

- Ngày 02/01/1963, chiến thắng Ấp Bắc (Mỹ Tho) đánh bại chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” của địch, với lực lượng đông hơn ta 10 lần, làm dấy lên phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”.

- Năm 1964, ta tiến hành nhiều trận đánh lớn, táo bạo vào thành phố, sân bay, bến cảng của địch, như chiến dịch Bình Giã (Bà Rịa) (02/12/1964 - 3/01/1965) diệt 1.755 tên, bắt 293 tên, bắn rơi 56 máy bay, phá 45 xe, thu hơn 1.000 súng, chứng minh ta có khả năng đánh lớn, thắng lớn, tiêu diệt các đơn vị chủ lực ngụy. Chiến dịch Đồng Xoài (11/5 - 27/5/1965) đánh vào hệ thống phòng thủ mạnh mẽ trên diện rộng của địch ở nhiều tỉnh Nam Bộ, loại khỏi vòng chiến đấu 4.000 tên (có 73 tên Mỹ), bắn rơi 34 máy bay, bắn cháy 33 xe tăng bọc thép, thu 1.652 súng.

- Ngày 05/8/1964, Mỹ cho không quân đánh phá miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của “hậu phương lớn” cho “tiền tuyến lớn”. Ngay trận đầu 8 máy bay phản lực Mỹ bị hạ. Trong 3 tháng đầu 1965 đã có 440 máy bay Mỹ bị bắn rơi, không lực Hoa Kỳ bị giáng đòn đau trên miền Bắc.

Trước những thắng lợi vang dội của ta ở cả hai miền, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã hoàn toàn thất bại, buộc Mỹ phải ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam để thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” hòng cứu vãn tình thế sụp đổ, từ đây cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn mới.

2. Đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ (1965 - 1968)

Để thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ đã dốc vào canh bạc chiến tranh ở Việt Nam một lực lượng rất lớn trong bộ máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ: 68% bộ binh, 60% lính thủy đánh bộ, 32% không quân chiến thuật, 50% không quân chiến lược, 40% hải quân, chi phí 352 tỷ USD, ném gần 10 triệu tấn bom đạn xuống cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Mỹ đã đưa vào miền Nam những đơn vị tinh nhuệ nhất. Đến cuối 1968, quân Mỹ ở miền Nam đã lên tới 545.000 tên cùng với sự yểm trợ của 20 vạn quân Mỹ ở Thái Lan, Philippin, Nhật, Guam, Hạm đội 7... Mỹ cũng huy động 72.600 lính ở các nước chư hầu trực tiếp vào miền Nam tham chiến.

Ngày 20/6/1965, Bác Hồ ra lời kêu gọi cả nước, Người khẳng định quyết tâm của nhân dân ta “Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.

Ngày 17/7/1966, Bác Hồ lại kêu gọi đồng bào cả nước “Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, cả hai miền Nam - Bắc sôi nổi thi đua “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”. Với lưới lửa tầm thấp, tầm cao dày đặc, quân và dân miền Bắc đã tập tan cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Từ 8/1964 đến 10/1968 đã bắn rơi 3.243 máy bay các loại; bắn chìm, bắn cháy 143 tàu chiến và tàu biệt kích, bắt sống nhiều giặc lái sừng sỏ.

Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta liên tiếp giáng cho địch những đòn choáng váng. Ngày 25/6/1965, trận tập kích lính thủy đánh bộ Mỹ ở Núi Thành (Chu Lai) loại khỏi vòng chiến đấu 140 tên, thu toàn bộ vũ khí. Ngày 18/8/1965, quân ta đánh tan trận hiệp đồng quân binh chủng của lính thủy đánh bộ Mỹ ở Vạn Tường (Quảng Ngãi), loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên, bắn cháy 22 máy bay, 13 xe bọc thép. Hai chiến thắng trên chứng minh ta có đủ khả năng đánh bại lực lượng Mỹ tinh nhuệ có số lượng đông, trang bị mạnh. Thu Đông 1965, ta mở một loạt trận đánh có hiệu suất cao như: Plâyme (Tây Nguyên), Đất Cuốc (Biên Hòa), Bầu Bàng - Dầu Tiếng. Mùa khô 1966 - 1967, ta đánh bại cuộc phản công chiến lược hơn 1 triệu quân địch (có hơn 40 vạn quân Mỹ) với các trận thắng vang dội, điển hình là đánh bại cuộc hành quân Gianxơncity của 45.000 quân Mỹ.

3. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến 1967 đã giành những thắng lợi lớn. Thế và lực của ta trên chiến trường đã đủ sức mở những chiến lược lớn, dài ngày, trên quy mô rộng. Tháng 12/1967, Bộ Chính trị ra nghị quyết về tổng công kích và tổng khởi nghĩa.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân được chia làm 3 đợt:

* Đợt 1: Đêm giao thừa Tết Mậu Thân ta đồng loạt tấn công quân địch trên toàn miền Nam, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã, quận lỵ, sân bay, sở chỉ huy... gồm 4/6 thành phố, 37/42 thị xã, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ, 30 sân bay, làm 20 vạn quân ngụy hoang mang đào ngũ, diệt và bắt sống 20 ngàn tên (có 70 ngàn Mỹ và chư hầu), bắn rơi và phá hủy 3.400 máy bay, diệt 5.000 xe quân sự, 490 khẩu pháo, 330 tàu xuồng chiến đấu.

Thắng lợi này buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn ngày 31/3/1968 phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và cử đại biểu tới bàn đàm phán Pari. Đầu tháng 4/1968, Mỹ đưa thêm 30 ngàn quân sang Việt Nam để ứng phó với tình hình.

* Đợt 2: 0 giờ 30 phút ngày 5/5/1968 mở đầu tấn công đợt 2, quân và dân ta đồng loạt đánh vào 31 thành phố, 58 thị trấn, quận lỵ, đánh 10 bộ tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, 30 sân bay, 20 căn cứ hành quân và trung tâm huấn luyện của địch. Trong thời gian này, tại chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, ta loại khỏi vòng chiến đấu 170 ngàn tên, 400 máy bay, đập vỡ tuyến phòng thủ kiên cố của địch ở Đường 9.

* Đợt 3: Đêm 17/8/1968, ta mở màn tiến công đợt 3 với các trận pháo kích vào 27 thành phố, thị xã, 100 thị trấn, quận lỵ, 47 sân bay, 3 kho lớn, 6 bộ tư lệnh sư đoàn. Đến 30/9/1968 đợt 3 cuộc tổng công kích kết thúc.

Tổng kết 3 đợt tấn công từ 29/01 đến 30/9/1968, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 630 ngàn tên địch, 13 ngàn xe quân sự, 1 ngàn tàu chiến, bức hàng, bức rút 15 ngàn đồn bốt, chi khu quân sự, phá hoại 4.200 ấp chiến lược.

Cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã giáng cho Mỹ - ngụy một đòn choáng váng, chứng tỏ sự lớn mạnh vượt bậc của lực lượng ta, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước.

4. Đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ (1969 - 1972)

Ngày 20/1/1969, Níchxơn nhậm chức Tổng thống Mỹ và đưa ra “Học thuyết Níchxơn”. Học thuyết này áp dụng vào Việt Nam gọi là chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” nhằm tránh thương vong cho lính Mỹ, tăng cường và hiện đại hóa quân ngụy để rút dần quân Mỹ về nước. Đây là thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt” bằng bom đạn và đô la của Mỹ để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Ngày 6/4/1972, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc lần thứ 2, đánh phá ác liệt Hà Nội và các thành phố lớn, dùng Hạm đội 7 đánh phá ven biển, thả thủy lôi phong tỏa cảng và biển miền Bắc với quy mô và mức độ hủy diệt chưa từng thấy.

Quân và dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu ngoan cường, sáng tạo, giáng cho không quân và hải quân Mỹ những đòn đích đáng. Từ 6/4/1972 - 17/01/1973 đã bắn rơi 754 máy bay (có 61 B.52, 10 F.111), bắt sống hàng trăm giặc lái, bắn cháy 9 tàu chiến. Đặc biệt trận “Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm năm 1972 đã chôn vùi “uy thế không lực Hoa Kỳ” tới tận bùn đen. Để chi viện cho chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị quyết định tăng cường lực lượng lớn và củng cố các tuyến vận tải chiến lược. Đến năm 1971 đã triển khai gần 1.000 km đường ống dẫn dầu vào Nam và tăng 10 lần số xăng dầu cho chiến trường. Chúng ta đã đưa vào miền Nam gần 20 vạn tấn vũ khí trang bị, gần 10 vạn cán bộ, chiến sĩ, điều động 6 trung đoàn với đầy đủ vũ khí cho Khu 5 và Tây Nguyên, điều động 10 tiểu đoàn, 100 đại đội và trung đội đặc công cho miền Nam.

Quân và dân miền Nam đã đồng loạt tiến công địch trên khắp các chiến trường. Tháng 6/1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập và lập tức được 23 quốc gia công nhận, tạo thế mới cho cách mạng miền Nam.

Quân giải phóng phối hợp với Lào và Campuchia đánh địch trên khắp các chiến trường 3 nước Đông Dương: Đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” ở Đường 9 - Nam Lào; đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 01/71” ở Campuchia; đánh tơi tả lực lượng địch ở ngã 3 biên giới, tiêu diệt địch trong cuộc hành quân “Chen La II” ở Đông Bắc Campuchia.

11 giờ, ngày 30/3/1972, quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, đập tan 3 phòng tuyến lớn nhất của địch ở Quảng Trị, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, tiêu diệt và làm tan rã trên 30 vạn tên Mỹ - ngụy, một số lực lượng lớn vũ khí trang bị, bức rút hơn 2.000 đồn bốt, mở rộng vùng giải phóng kéo dài từ phía Tây - Trị Thiên qua Tây Nguyên, vùng giáp ranh Khu 5 đến đồng bằng Nam Bộ.

Những chiến thắng vang dội của quân và dân ta trên cả 2 miền Nam - Bắc đã làm sụp đổ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Ngày 27/01/1973, chính quyền Níchxơn buộc phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, chấm dứt dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta chuyển sang một giai đoạn mới.

5. Chiến dịch Trị - Thiên (30/3 đến 27/6/1972) đập tan tuyến phòng thủ kiên cố của địch

Từ 30/3/1972, quân ta mở màn tiến công vào tuyến phòng thủ kiên cố của địch tại hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên nhằm tiêu diệt bộ phận lớn của địch ở hướng chủ yếu trên chiến trường miền Nam. Lực lượng địch có 2 sư đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 3 thiết đoàn, 13 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo binh (có 258 khẩu pháo). Quân địa phương địch có 4 tiểu đoàn, 94 đại đội bảo an, 302 trung đội dân vệ và 5 ngàn cảnh sát. Địch phòng thủ trong hàng trăm cứ điểm và cụm cứ điểm kiên cố. Ngày 30/3/1972, ta đồng loạt tấn công vào hầu hết các căn cứ địch, phá vỡ vành ngoài tuyến phòng thủ, giải phóng hai huyện Gio Linh và Cam Lộ. Ngày 27/4, ta tiếp tục đánh chiếm cụm cứ điểm Đông Hà, Ái Tử, La Vang giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Trước tình hình nguy cấp, địch điều động lực lượng dự bị chiến lược ra Huế, Mỹ dùng máy bay và pháo hạm đánh phá ác liệt hòng ngăn chặn lực lượng ta.

Ngày 20/6/1972, ta tiếp tục tiến công tuyến phòng thủ Nam sông Mỹ Chánh và kết thúc chiến dịch vào 27/6/1972.

Sau 3 đợt tiến công, chiến dịch Trị - Thiên đã giành thắng lợi lớn: loại khỏi vòng chiến đấu 27 ngàn tên, bắt sống hơn 3 ngàn tên, thu và phá hủy 636 xe tăng, thiết giáp, bắn rơi và phá 340 máy bay, thu và phá hủy 419 khẩu pháo, 1.870 xe quân sự, phá 19 tàu chiến, thu gần 3 ngàn súng các loại, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.

Chiến dịch Trị - Thiên có ý nghĩa chiến lược: Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, lực lượng ta đã đủ sức tiến hành một chiến dịch tiến công binh chủng hợp thành quy lớn, dài ngày trên diện rộng, đánh bại một sư đoàn và nhiều trung đoàn địch trong công sự kiên cố có sự chi viện tối đa của hỏa lực máy bay và pháo, đập tan cả tuyến phòng thủ kiên cố của địch, làm thay đổi cục diện trên chiến trường Trị - Thiên, đưa nghệ thuật chiến dịch Việt Nam lên một bước phát triển mới.

6. Đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc

Bị thua đau trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đã vạch kế hoạch tiến công miền Bắc để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Đêm 4 rạng 5/8/1964, chúng dựng lên “sự kiện vịnh Bắc Bộ” vu cáo ta tiến công tàu Mỹ trên vùng biển quốc tế. Trưa ngày 05/8/1964, đế quốc Mỹ mở cuộc tiến công, sử dụng máy bay hiện đại từ hai tàu sân bay ném bom một số địa điểm trên miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc lần thứ nhất. Ngay trận đầu, quân và dân ta đã bắn rơi 8 chiếc, bắt sống giặc lái, làm nức lòng nhân dân cả nước, chứng minh lực lượng vũ trang ta có đủ khả năng đánh thắng không quân và hải quân Mỹ.

Trong cả hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc (lần thứ nhất từ 05/8/1964 - 01/11/1968; lần thứ hai từ 06/4/1972 - 15/01/1973), chúng đã sử dụng tất cả các loại máy bay hiện đại nhất, gồm B.52, F.111, máy bay trinh sát và gây nhiễu điện tử, máy bay tiếp dầu trên không, máy bay không người lái... Chúng dùng thủ đoạn bắn phá ác liệt và tàn bạo nhất: tập kích nhiều đợt với số lượng lớn máy bay, đánh ngày, đánh đêm, bay thành nhiều tầng, nhiều hướng, đánh phá các trận địa, sân bay, cơ sở kinh tế, cầu cống, đường giao thông, công trình văn hóa lịch sử, các khu dân cư, các thành phố lớn... hòng “đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá”. Chúng đã ném hơn 2 triệu tấn bom, đạn, thả hơn 2 vạn quả thủy lôi phong tỏa cảng biển, làm 80 ngàn người chết, hơn 120 ngàn người bị thương, tàn phá nặng nề các cơ sở kinh tế và hạ tầng cơ sở ở miền Bắc, gây nên tội ác “đất không dung, trời không tha”.

Trong khói bom bão đạn, quân và dân miền Bắc vẫn bình tĩnh hiên ngang vừa sản xuất vừa chiến đấu. Từ bộ đội phòng không, không quân đến dân quân du kích và các cụ già đều tham gia bắn máy bay, đơn vị nào cũng đánh thắng ngay trận đầu, khắp nơi giăng lưới lửa tầm thấp, tầm cao bắn tan xác tất cả các chủng loại máy bay Mỹ. Bộ đội hải quân, không quân và các đơn vị pháo ven biển đã trừng trị tàu chiến Mỹ những trận đích đáng. Chúng ta đã bắn rơi 4.181 máy bay (có 68 B.52, 13 F.111), bắn cháy 271 tàu chiến, bắt sống 472 giặc lái. Chúng ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy báy B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.

Trong cuộc đọ sức với không quân và hải quân Mỹ, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam đã vượt lên trên mọi vũ khí hiện đại và tính toán của kẻ thù, ghi dấu son trong trang sử vàng truyền thống của dân tộc, đồng thời để lại bài học quý báu cho các thế hệ mai sau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

7. Trận “Điện Biên Phủ trên không” đòn quyết định đập tan “uy thế không lực Hoa Kỳ”

Để ép ta ngồi vào bàn đàm phán Pari có lợi cho Mỹ, tối 18/12/1972, Tổng thống Níchxơn đã ra lệnh thực hiện chiến dịch “Lainơbếchcơ II” tấn công miền Bắc mà trọng điểm là Hà Nội, Hải Phòng. Mỹ đã huy động một lực lượng không quân lớn chưa từng có, gồm 193 máy bay chiến lược B.52 (50% số B.52 của nước Mỹ); hơn 01 ngàn máy bay chiến thuật các loại và 05 liên đội tàu sân bay yểm trợ, trong đó có máy bay F.111, máy bay tiếp dầu trên không KC-135, máy bay trinh sát điện tử... Mỗi phi vụ, máy bay B.52 đều có hàng đàn máy bay yểm trợ tầm thấp, tầm cao để đánh chặn máy bay ta, ném bom các trận địa pháo, tên lửa, sân bay; đồng thời cho máy bay gây nhiễu điện tử, thả những “đám mây sợi kim loại” để làm “mù” hệ thống rađa của ta. Mỹ chủ quan cho rằng chỉ cần 3 ngày đêm sẽ hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng, buộc ta phải chấp nhận điều kiện do Mỹ đặt ra ở Hội nghị Pari.

Ngay đêm đầu 18/12/1972, địch đã huy động 90 lần/chiếc B.52, 163 lần chiếc máy chiến thuật tập kích 3 đợt vào Hà Nội. Trong giai đoạn 1 từ 18 đến 24/12/1972, địch tập kích 13 trận B.52, mỗi trận trung bình từ 27 đến 30 chiếc, 41 trận tập kích bằng không quân chiến thuật. Ta bắn rơi 52 máy bay, trong đó có 18 chiếc B.52 (có 10 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F.111 (có 2 chiếc rơi tại chỗ), bắt sống nhiều giặc lái. Bị đòn choáng váng, nhân dịp lễ Noel, Mỹ tuyên bố ngừng đánh phá nhưng vẫn huênh hoang “Chờ tín hiệu khiếp nhược của Hà Nội”. Thực chất là để lấy lại tinh thần cho giặc lái và nghiên cứu thủ đoạn đánh tiếp. Sau 36 giờ ngừng chiến, từ 13 giờ ngày 26/12/1972, địch tiếp tục đánh phá đợt 2, lần này ngoài căn cứ Guam, chúng sử dụng cả máy bay từ Utabao (Thái Lan) với số lượng 120 máy bay B.52 và hơn 100 máy bay yểm trợ bay làm nhiều tầng, nhiều hướng đánh phá ác liệt, ném bom rải thảm cả vào khu phố Khâm Thiên và nhiều điểm dân cư. Trong bom đạn ác liệt, quân và dân ta vẫn bình tĩnh ngẩng cao đầu quyết bắt giặc Mỹ đền tội: 16 B.52 tan xác (có 6 chiếc rơi tại chỗ). Tổng cộng trong 12 ngày đêm đã có 81 máy bay bị bắn rơi, trong đó 34 chiếc B.52 (16 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F.111 (hai chiếc rơi tại chỗ), nhiều giặc lái bị bắt sống.

Chiến thắng 12 ngày đêm năm 1972. trên bầu trời Hà Nội là một “ Điện Biên Phủ trên không” làm kẻ thù kiếp đảm và bạn bè khâm phục. Quân và dân ta bằng sức mạnh và trí tuệ Việt Nam đã đập tan “uy thế không lực Hoa Kỳ”, bẻ gãy ý chí xâm lược và buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam và cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chấm dứt dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam. Chiến công vang dội “Điện Biên Phủ trên không” đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chuyển qua giai đoạn mới, hoàn thành giai đoạn “đánh cho Mỹ cút” tiến tới “đánh cho ngụy nhào” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

8. Nắm chắc thời cơ, quân đội thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị giải phóng hoàn toàn miền Nam

Ngày 30/9/1974 tại Hà Nội, Bộ Chính trị họp bàn nhiệm vụ quân sự 2 năm 1975 - 1976. Bộ Chính trị nhận định: Mỹ đã rút ra thì việc quay lại không phải dễ. Dù Mỹ có can thiệp trở lại trong chừng mực nào thì chúng cũng không xoay chuyển được tình thế. Đây là thời cơ thuận lợi để quân và dân ta mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng đưa cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân ngụy, đánh chiếm Sài Gòn, đánh đổ ngụy quyền trung ương và các cấp, giành toàn bộ chính quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất nước nhà.

Nhận định tình hình cuộc chiến tranh đã bước vào giai đoạn cuối, quân địch còn đông nhưng bị căng kéo, kìm giữ khắp nơi, cho phép ta có thể đẩy mạnh hơn nữa quy mô và cường độ tiến công quân địch, Quân ủy Trung ương và Bộ Tư lệnh miền quyết định sử dụng Binh đoàn Cửu Long mở chiến dịch ở khu vực đường 14 Phước Long tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và mở rộng tuyến hành lang chiến lược, tạo điều kiện phát triển lực lượng ta xuống vùng trung tuyến.

Ngày 14/12/1974, bộ đội ta tiến công Chi khu quân sự Bù Đăng, sau 5 ngày đêm chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt Chi khu Bù Đăng, diệt và bắt 2.000 tên địch, giải phóng một khu vực dài hơn 100 km và hơn 14.000 dân.  Ngày 26/12, ta tiến công tiêu diệt Chi khu Bù Đốp và tiến công Chi khu Đồng Xoài, thị xã Phước Long bị cô lập. Ngày 31/12, Binh đoàn Cửu Long tiến công thị xã Phước Long đến ngày 6/01/1975, ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Quân ngụy không dám và không còn đủ sức để chiếm lại Phước Long. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta đã giải phóng hoàn toàn một tỉnh gần Sài Gòn, đầu não của chính quyền ngụy.

Đây là một thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, là đòn đánh “trinh sát chiến lược” góp phần củng cố quyết tâm của Bộ Chính trị. Tin chiến thắng Phước Long đã làm nức lòng quân và dân cả nước. Ngày 07/01/1975, kết luận Hội nghị Bộ Chính trị đã nhấn mạnh vấn đề phải nắm vững thời cơ chiến lược, hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến, khẩn trương điều động lực lượng, vật chất bảo đảm cho các lực lượng vũ trang đánh mạnh và nhanh nhất, thắng gọn và triệt để ở Sài Gòn.

9. Chiến dịch Tây Nguyên (từ 04/3 đến 03/4/1975)

Bước vào mùa Xuân năm 1975, ta chọn Nam Tây Nguyên làm hướng đột phá chiến lược cho cuộc tổng tiến công, mở đầu là trận Buôn Ma Thuột. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn, 4 trung đoàn bộ binh, 2 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn pháo cao xạ và 2 tiểu đoàn đặc công, 2 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn thông tin và các đơn vị vận tải; Sư đoàn Bộ binh Sao Vàng (Quân khu 5) tác chiến phối hợp trên đường 19.

Sau một số trận đánh tạo thế và nghi binh chiến dịch, ngày 10 và 11 tháng 3 năm 1975, quân ta tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là trận then chốt quyết định của chiến dịch, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ của địch ở chiến trường Tây Nguyên, mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Từ ngày 14 đến ngày 18/3/1975, quân ta đánh trận then chốt thứ hai, đập tan phản kích của Quân đoàn 2 ngụy, tạo thế chia cắt địch về chiến lược, đẩy địch ở Tây Nguyên vào thế tan vỡ.

Do tình thế nguy khốn, ngày 14/3, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tổng tham mưu ngụy ra lệnh cho quân ngụy rút khỏi Tây Nguyên để bảo toàn lực lượng. Trước sự tấn công như vũ bão của ta, cuộc rút lui của địch trở thành cuộc tháo chạy hỗn loạn. Từ ngày 17 đến ngày 24/3, quân ta đánh trận then chốt thứ 3 của chiến dịch, truy kích tiêu diệt đoàn quân rút chạy của địch trên đường số 7; giải phóng Kon Tum, Gia Lai và toàn bộ Tây Nguyên.

Kết quả ta đã tiêu diệt Sư đoàn 23, Lữ đoàn 3, Lữ đoàn thiết giáp 2, Trung đoàn 40, 8 liên đoàn biệt động quân và các tiểu đoàn bảo an, 12 vạn tên địch bị tiêu diệt, tan rã và bắt sống. Ta đã giải phóng toàn bộ Tây Nguyên rộng lớn với 60 vạn dân.

Qua chiến dịch này, quân đội ta đã có bước trưởng thành mới về trình độ tổ chức chỉ huy và thực hành chiến dịch tiến công hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn, về nghệ thuật đánh chiếm thành phố, đánh địch phản kích lớn bằng đổ bộ đường không và truy kích tiêu diệt tập đoàn quân địch rút chạy trên địa hình rừng núi.

Chiến dịch Tây Nguyên còn nổi bật ở nghệ thuật phát triển tiến công, nắm thời cơ địch rút chạy, kiên quyết truy kích tiêu diệt địch, ngay từ trong chiến dịch mở màn, ta đã đánh cho quân ngụy một đòn choáng váng, quân địch bị tổn thất lớn chưa từng có, làm rung chuyển chiến lược của chúng và mở ra bước ngoặt quyết định cho cuộc chiến tranh cách mạng ở Việt Nam.

10. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng (từ 21/3 đến 29/3/1975)

Sau khi mất Tây Nguyên, địch hoang mang co cụm phòng thủ chiến lược. Ở phía Bắc, chúng rút bỏ thị xã Quảng Trị để tập trung bảo vệ Huế. Lực lượng địch gồm Quân đoàn 1 ngụy, sư đoàn lính thủy đánh bộ, lữ đoàn thiết giáp, liên đoàn 1 biệt động quân và 20 tiểu đoàn bảo an.

Nắm thời cơ chiến lược, ta nhanh chóng giải phóng Quảng Trị và quyết định mở màn chiến dịch giải phóng Huế. Lực lượng ta gồm Binh đoàn Hương Giang và Sư đoàn 2, Sư đoàn 52, các trung đoàn 4, 6, 271, 46.

Từ ngày 21 đến 23/3, các đơn vị của ta bỏ qua các mục tiêu thứ yếu, từ 3 hướng Bắc, Tây, Nam tiến xuống chia cắt bao vây Huế, tiêu diệt một số cứ điểm phòng ngự của địch. Trước khả năng bị bao vây tiêu diệt, địch bỏ thành phố Huế rút chạy ra cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Ta phát hiện được âm mưu của địch, nhanh chóng phát triển lực lượng bộ binh và pháo binh tiêu diệt và làm tan rã Sư đoàn bộ binh 1 và Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến 147 của địch. Ngày 26/3, ta giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế.

Phát huy chiến công đạt được, quân ta xốc tới tiến công vào căn cứ liên hợp quân sự lớn thứ hai của địch là Đà Nẵng. Ngày 27/3, quân ta tiến công ào ạt khu liên hợp Đà Nẵng trên 3 hướng Huế, Tam Kỳ, Thượng Đức. Ngày 28/3, pháo chiến dịch của ta đã kiểm soát hoàn toàn thành phố Đà Nẵng khiến địch không kịp co cụm và tổ chức phòng ngự được nên nhanh chóng tan rã. Ngày 29/3, Binh đoàn Hương Giang của ta từ hướng Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Sư đoàn 2 từ hướng Nam và Đông Nam tác chiến, tiến nhanh vào giải phóng Đà Nẵng, đồng thời phát triển tiến công ban ngày, kết hợp với các lực lượng địa phương chiếm bán đảo Sơn Trà và thị xã Hội An, kết thúc chiến dịch trong một thời gian kỷ lục.

Kết quả ta đã tiêu diệt Quân đoàn 1, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ và tiêu diệt các đơn vị khác, tổng cộng ta diệt, bắt và làm tan rã 120.000 quân ngụy. Giải phóng 2 thành phố lớn Huế, Đà Nẵng và các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Chiến dịch Huế - Đà Nẵng là một chiến dịch đặc biệt, chiến dịch không nằm trong dự kiến mà được tổ chức do sự phát triển mau lẹ của tình hình và kết thúc thắng lợi, chứng tỏ sự phát triển vượt bậc về nghệ thuật quân sự. Đó là nghệ thuật nắm bắt thời cơ chiến lược, táo bạo tấn công địch, chỉ huy phối hợp chiến dịch từ cấp chiến lược trong khi cơ cấu tổ chức chiến dịch chưa kịp hình thành.

Lần đầu tiên ta tổ chức thắng lợi trận bao vây quy mô lớn cấp binh đoàn, nhanh chóng phát triển vào chiều sâu chiến dịch bằng tác chiến trong hành tiến, bỏ qua mục tiêu thứ yếu, đánh thẳng vào trung tâm đầu não, mục tiêu chủ yếu của chiến dịch. Đây là trận quyết chiến chiến lược thứ hai của ta tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn và toàn bộ miền Nam trong năm 1975.

11. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (26/4 - 30/4/1975)

Sau khi bị mất toàn bộ Quân khu 1, Quân khu 2, một nửa sinh lực địch bị tiêu diệt, trong thế tan rã chiến lược hầu như không cứu vãn nổi, địch ra sức tổ chức lực lượng, tích cực phòng ngự, lấy việc bảo vệ Sài Gòn làm mục đích chiến lược để có thể làm điều kiện mặc cả đối với ta. Chúng lần lượt tổ chức các tập đoàn phòng ngự từ xa nhưng đều bị ta đập tan. Địch tập trung xây dựng tuyến phòng thủ cuối cùng là Sài Gòn - Gia Định. Lực lượng địch có Quân đoàn 3 (4 sư đoàn bộ binh), 3 liên đoàn biệt động quân, 1 sư đoàn thủy quân lục chiến, 3 lữ đoàn dù, 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp, 19 tiểu đoàn pháo binh, 800 máy bay, 862 tàu chiến... Từ nhận định dù Mỹ có chi viện thì không cứu vãn được sự sụp đổ của quân ngụy, Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất. Ngày 07/4, Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tư lệnh ra lệnh động viên “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ thời gian từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng hoàn toàn miền Nam, quyết chiến và quyết thắng”. Giữa tháng 4/1975, ta quyết định mở chiến dịch tổng tiến công mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh” nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn bộ miền Nam trước mùa mưa. Các lực lượng chiến lược của ta tham gia chiến dịch lịch sử gồm 5 binh đoàn bộ binh, các đơn vị binh chủng tăng - thiết giáp, đặc công, công binh, thông tin, pháo binh, không quân, hải quân với đầy đủ binh khí kỹ thuật cùng các đơn vị biệt động, bộ đội địa phương, dân quân du kích chuẩn bị tiến về giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

17 giờ ngày 26/4/1975, quân ta được lệnh tổng công kích. 5 cánh quân gồm các Binh đoàn Quyết Thắng, Hương Giang, Cửu Long, Tây Nguyên và Đoàn 232 cùng các đơn vị quân chủng đồng loạt tiến công trên 4 hướng: Bắc và Đông Bắc; Đông và Đông Nam; Tây Bắc; Tây và Tây Nam, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu của địch.

5 giờ ngày 30/4, quân ta mở tiến công cuối cùng vào tất cả các mục tiêu trong thành phố. Vào lúc 10 giờ 45 phút, xe tăng 843 do Trung úy Bùi Quang Thận, Đại đội trưởng Đại đội 4 chỉ huy và xe tăng 390 dẫn đầu lực lượng đột kích thọc sâu của Binh đoàn Hương Giang đánh chiếm Dinh Độc Lập. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn bộ binh 66 (Sư đoàn 304) và Lữ đoàn xe tăng 203 (Binh đoàn Hương Giang) là những đơn vị đầu tiên cùng một số chiến sĩ biệt động đánh vào sào huyệt địch, buộc Tổng thống ngụy quyền và toàn bộ nội các địch đầu hàng. Cờ giải phóng tung bay trước tòa nhà chính của Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh đã thắng lợi hoàn toàn.

Đây là chiến dịch tiến công chiến lược binh chủng hợp thành có quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta. Ta tiến công trên tất cả các hướng, tạo thành thế hợp vây ngay từ đầu, khiến địch buộc phải tác chiến hoặc đầu hàng. Đặc biệt có sự phát triển về nghệ thuật sử dụng lực lượng, vừa đánh địch vòng ngoài vừa sử dụng binh đoàn mạnh thọc vào chiều sâu phòng ngự và đầu não của quân địch, đánh quân địch nhanh chóng. Lần đầu tiên ta sử dụng bộ đội tăng thiết giáp quy mô cấp lữ đoàn, đảm nhận một hướng tiến công chủ yếu với tính chất là cụm cơ động thọc sâu, phát huy sức đột kích nhanh và tăng cường khả năng tác chiến trong hành tiến. Ta đã kết hợp tiến công chiến lược trên toàn chiến trường, giành thắng lợi hoàn toàn.

12. Chiến dịch giành lại chủ quyền lãnh thổ trên các vùng biển, đảo, quần đảo phía Nam của Tổ quốc trong cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975 (14/4 - 2/5/1975)

Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tư lệnh về giải phóng các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông, ngày 30/3/1975, Quân ủy Trung ương điện cho đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy và đồng chí Chu Huy Mân, Chính ủy kiêm Tư lệnh Khu V nghiên cứu, nhằm thời cơ thuận lợi nhất sử dụng lực lượng đủ mạnh đánh chiếm các đảo do quân ngụy chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa, đồng thời phái viên Bộ Tổng tham mưu và cán bộ của Quân chủng Hải quân đi cùng do Khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch.

Ngày 4/4, Khu ủy và Chỉ huy Khu V cùng Bộ Tư lệnh Hải quân triển khai kế hoạch tác chiến. Các lực lượng thuộc Quân khu V cùng một biên đội tàu của Đoàn 125 và đặc công của Hải quân do đồng chí Mai Năng, Đoàn trưởng Đoàn 126 chỉ huy xuất kích. Sau những chặng đường vượt biển gian lao, vất vả, các lực lượng của ta đã bí mật áp sát mục tiêu. Đúng 4 giờ 30 phút ngày 14/4 các đơn vị ta gây bất ngờ đổ bộ, nổ súng tiến công các đảo thuộc vùng biển phía Nam của Tổ quốc trong đó có quần đảo Trường Sa.

Các lực lượng chiến đấu của ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, hoàn thành việc giành lại chủ quyền các đảo vào ngày 29/4/1975.

Trên cơ sở thắng lợi đã giành được từ ngày 30/3 đến ngày 2/5/1975, Bộ đội chủ lực hai quân khu và các lực lượng vũ trang các tỉnh Đông Nam Bộ đã nắm bắt chính xác thời cơ khi chính quyền trung ương ngụy đầu hàng, quân ngụy tan rã, kết hợp tiến công với sự nổi dậy của quần chúng nhân dân, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 4, quân khu 4 và lực lượng khác của địch, giải phóng hoàn toàn các tỉnh Nam Bộ, vùng biển, giải phóng Côn Đảo, Phú Quốc và các đảo ở vùng biển Tây Nam Tổ quốc.

III. Ý NGHĨA LỊCH SỬ, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

1. Ý nghĩa lịch sử

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975.

Đó là cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc tiêu biểu của nhân dân ta. Cuộc chiến tranh đã kéo dài hơn hai thập niên (từ tháng 7/1954 đến 5/1975), dài hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào trong lịch sử và phải chống lại một đế quốc lớn mạnh nhất là đế quốc Mỹ.

Năm đời Tổng thống Mỹ (Aixenhao, Kennơđi, Giônxơn, Níchxơn, Pho) điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân mới và chiến tranh xâm lược của Mỹ (“Chiến tranh đơn phương”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, Chiến tranh “Việt Nam hóa”). Chúng đã chi trực tiếp cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam tới 676 tỷ đô la (so với 341 tỷ trong chiến tranh thế giới thứ hai và 54 tỷ trong chiến tranh Triều Tiên), nếu tính cả chi phí gián tiếp thì lên tới 920 tỷ. Chúng huy động lúc cao nhất là 55 vạn quân viễn chinh, lôi kéo 5 nước ở châu Á - Thái Bình Dương tham chiến với số quân lúc cao nhất là hơn 7 vạn vào cuộc chiến, trực tiếp chiến đấu và làm nòng cốt cho hơn một triệu quân tay sai ở miền Nam. Chúng đã dội xuống hai miền đất nước ta một khối lượng bom đạn lớn hơn lượng bom đạn mà chúng sử dụng trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trước đó.

Mặc dù vậy, bọn xâm lược vẫn không đạt được mục đích “hủy diệt và nô dịch” dân tộc ta. Trái lại, trong cuộc đọ sức với chúng, tuy phải trải qua chiến đấu lâu dài và hết sức gian khổ, “phải hy sinh nhiều của, nhiều người”, cuối cùng dân tộc ta đã giành được chiến thắng, thực hiện trọn vẹn mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thống nhất đất nước.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Đối với Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi đã kết thúc 21 năm chiến đấu chống Mỹ và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, rửa sạch cái nhục và nỗi đau mất nước hơn một thế kỷ. Trên cơ sở đó, hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, bảo vệ và phát triển những thành tựu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xóa bỏ chướng ngại trên con đường thực hiện thống nhất đất nước.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc. Chiến dịch Hồ Chí Minh, trận kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử dân tộc.

Đối với thế giới, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi đã đập tan cuộc phản kích lớn nhất vào các lực lượng cách mạng sau chiến tranh thế giới thứ II, góp phần làm đảo lộn “chiến lược toàn cầu” phản cách mạng của chúng.

Thắng lợi của nhân dân ta và thất bại của đế quốc Mỹ đã tác động mạnh đến nội tình của nước Mỹ và cục diện thế giới, là nguồn cổ vũ to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới, các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước.

2. Nguyên nhân thắng lợi

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta thắng lợi là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan.

Trước hết là sự lãnh đạo của Đảng với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo. Đó là đường lối tiến hành đồng thời cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.Với đường lối đó, cách mạng nước ta đã kết hợp được sức mạnh chiến đấu của tiền tuyến lớn với tiềm lực của hậu phương lớn; đã động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân, toàn quân vào cuộc chiến đấu cứu nước; đã kết tinh, tổng hợp và phát triển lên một trình độ mới những truyền thống cách mạng và sáng tạo của Đảng và dân tộc. Đường lối đó đã kết hợp được cuộc chiến đấu cứu nước của nhân dân ta với cuộc đấu tranh của các lực lượng cách mạng, dân chủ, hòa bình trên thế giới. Đường lối đó đồng thời đem lại cho cách mạng Việt Nam sức tiến công mạnh mẽ. Đó là cơ sở làm nảy sinh những phương pháp cách mạng vừa kiên quyết, triệt để, vừa uyển chuyển, linh hoạt, những hình thức đấu tranh muôn màu, muôn vẻ…

Nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm. Mỗi khi đất nước gặp họa ngoại xâm, truyền thống đó lại được phát huy mạnh mẽ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do Đảng lãnh đạo, truyền thống đó được phát huy cao độ. Đó là sức mạnh tinh thần to lớn của quân và dân ta ở cả hai miền, cả tiền tuyến và hậu phương, trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh gian khổ và chiến thắng vẻ vang.

Mối quan hệ gắn bó giữa nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Camphuchia đã có từ lâu trong lịch sử và được thử thách trong ngọn lửa đấu tranh cách mạng chống kẻ thù chung. Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, mối tình đoàn kết và liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc trong một chiến lược chung và trên một chiến trường thống nhất đã tạo ra sức mạnh to lớn cho lực lượng cách mạng ở ba nước Đông Dương, góp phần thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân mỗi nước.

Thắng lợi của nhân dân ta giành được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn có tác động của thời đại và không tách rời sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác; sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc, của các lực lượng cách mạng, dân chủ, hòa bình và của loài người tiến bộ, trong đó có nhân dân Mỹ. Tình đoàn kết và sự ủng hộ quốc tế đã cổ vũ mạnh mẽ, tăng thêm sức mạnh cho nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước.

3. Những bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

3.1. Kiên định quyết tâm, quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược

Quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược là quyết tâm lớn của Đảng, cũng là tâm huyết của toàn quân, toàn dân, của cả nước Việt Nam. Đó là một quyết tâm vĩ đại được khẳng định từ đầu và luôn luôn kiên định trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Quyết tâm ấy được bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước của người Việt Nam, được hun đúc từ ngàn đời nay. Mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy, dân tộc ta triệu người như một, sẵn sàng đứng lên chống giặc cứu nước.

3.2. Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ

Đại hội lần thứ IV của Đảng đã khẳng định “Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta”. Đường lối đúng đắn đó được thể hiện trong một loạt chủ trương mang tính hệ thống, kết hợp những vấn đề về nguyên tắc, chiến lược với những vấn đề về sách lược và phương pháp, hình thành một giải pháp tối ưu đưa cách mạng và kháng chiến tiến lên một cách vững chắc, từ giai đoạn mở đầu đến giai đoạn kết thúc. Nó tạo nên sức chiến đấu to lớn của cả nước, của toàn dân tộc, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ sâu rộng và mạnh mẽ nhất của thế giới trong điều kiện quốc tế rất phức tạp, bảo đảm cho quân và dân ta đánh thắng từng bước, tiến lên đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

3.3. Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân sáng tạo

Nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã được phát triển lên một trình độ cao, sáng tạo với những nội dung và hình thức đấu tranh cực kỳ phong phú, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh. Đó là nghệ thuật động viên, tổ chức toàn dân, cả nước tiến hành chiến tranh với hai lực lượng quân sự và chính trị, hai hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa của quần chúng, tiến công và nổi dậy, trong đó đòn tiến công quân sự có ý nghĩa quyết định, làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ.

Nghệ thuật chiến tranh đã biết mở đầu đúng, biết đánh lâu dài, giành thắng lợi từng bước, tạo những bước chuyển biến lớn của chiến tranh; là nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu địch mạnh, lấy ít đánh nhiều, lấy trang bị kỹ thuật ít hơn và kém hiện đại đánh thắng quân địch có trang bị kỹ thuật dồi dào và hiện đại hơn. Nó biểu thị một tư duy quân sự rất sáng tạo, tiêu biểu cho học thuyết chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

3.4. Tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác tổ chức đã được triển khai với quy mô rộng lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh nước ta. Đó là công tác xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, đó còn là hình thức và phương thức xây dựng các tổ chức Đảng, chính quyền, quần chúng ở cả hai miền Nam, Bắc; tổ chức hậu phương lớn, tổ chức các căn cứ kháng chiến tại chỗ ở miền Nam; tổ chức chiến trường...

Đường lối và nghệ thuật tổ chức của Đảng đã tạo nên lực lượng cả nước đánh giặc lớn nhất trong lịch sử dân tộc ta. Chính lực lượng cả nước đánh giặc là cơ sở vững chắc của thế chiến lược tiến công ngày càng phát triển vững mạnh và sắc bén của chiến tranh nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp đủ sức đánh thắng lực lượng và bộ máy chiến tranh đồ sộ và hiện đại của đế quốc Mỹ.

3.5. Xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến vững chắc, phát huy vai trò của hậu phương lớn và hậu phương tại chỗ

Đảng ta sớm xác định miền Bắc là nền tảng cho lực lượng cách mạng cả nước, sớm định hướng xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa. Xây dựng miền Bắc vững mạnh nhằm xây dựng lực lượng cách mạng cho cả nước, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, tạo điều kiện để có thể chi viện lực lượng ngày càng lớn cho miền Nam và cùng miền Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội là xây dựng căn cứ địa cách mạng cho cả nước.

Đảng ta còn chăm lo xây dựng và mở rộng những vùng căn cứ, vùng giải phóng ngay tại chiến trường làm hậu phương tại chỗ. Các vùng giải phóng, căn cứ hậu phương tại chỗ có thế liên hoàn trên cả 3 vùng chiến lược, nối liền với hậu phương miền Bắc, cùng các vùng căn cứ hậu phương của hai nước Lào, Campuchia dựa lưng vào nhau thành thế mạnh của chiến trường Đông Dương.

Chú trọng xây dựng tuyến đường giao thông, vận chuyển chiến lược thông suốt, chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam cũng như đường vận chuyển chiến lược giữa Việt Nam, Lào, Campuchia. Tuyến vận tải 559 - đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là biểu tượng ý chí và nghị lực lớn lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

3.6. Phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia để cùng nhau đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược

Phát huy truyền thống láng giềng anh em gắn bó về lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội, quốc phòng và cùng kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhân dân Việt Nam đã chủ động đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia chiến đấu, chiến thắng kẻ thù chung là đế quốc Mỹ.

Đoàn kết, liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia đã góp phần đem lại thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù chung của ba nước Đông Dương để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

3.7. Đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh của thời đại gắn với sức mạnh dân tộc

Đảng ta ra sức tăng cường đoàn kết quốc tế, phát huy tối đa sức mạnh của thời đại, coi đó là một bộ phận hợp thành của đường lối chống Mỹ, cứu nước và đặt hoạt động đối ngoại, đấu tranh ngoại giao thành một mặt trận có tầm quan trọng chiến lược, góp phần tạo nên sự vượt trội về thế và lực của nhân dân ta để đánh thắng kẻ thù. Dưới tác động của hoạt động đối ngoại và của chính cuộc kháng chiến của nhân dân ta, một mặt trận rộng lớn của nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược đã hình thành và phát triển.

3.8. Bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xét cho cùng là thắng lợi của nhân tố con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phát triển ở một tầm cao mới. Bản sắc, văn hóa con người Việt Nam được tạo thành từ tố chất mới hòa quyện dân tộc và giai cấp, truyền thống và hiện đại, thừa kế di sản vĩ đại của một dân tộc anh hùng, tiếp tục làm vẻ vang dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam lên ngang tầm của thời đại mới.

Đảng ta đặt trọng tâm trước hết vào việc xây dựng nhân tố chính trị tinh thần cho con người; xác định lập trường kiên quyết kháng chiến, quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Từ đó, động viên được ý chí chiến đấu, năng lực sáng tạo và nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân làm nên chiến thắng.

Phần thứ hai

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG TRONG CHIẾN ĐẤU

VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI  MỚI, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

THÀNH TỰU TO LỚN CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ QUÊ HƯƠNG TRONG 35 NĂM QUA

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng tập trung lãnh đạo nhân dân ra sức khôi phục phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, do điểm xuất phát ban đầu rất thấp về lực lượng sản xuất; về mặt xã hội, hậu quả chiến tranh rất nặng nề. Vừa ra khỏi chiến tranh giải phóng lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc để bảo vệ Tổ quốc. Trong khi đó, chúng ta lại duy trì mô hình cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung bao cấp. Vì thế,  đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới, dần dần lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.

Đứng trước tình hình đó, sau một thời gian tìm tòi khảo nghiệm, đấu tranh tư tưởng, tổng kết thực tiễn đến Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội (1996); vượt qua khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực (1997 - 1998); khắc phục có hiệu quả ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay; thực hiện các kết luận của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, bước đầu thực hiện được mục tiêu: kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; thu nhập bình quân đầu người vượt qua ngưỡng nước nghèo chậm phát triển. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị, xã hội ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững. Vai trò và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.

Năm 2009, tuy ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu; cùng với thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra... nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, sự điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp, cùng sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, tuy khó khăn, thách thức còn nhiều nhưng tình hình kinh tế - xã hội năm 2009 đã đạt được những kết quả quan trọng.

Một là, ngăn chặn được đà suy giảm kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng khá và tăng được nguồn lực đầu tư phát triển. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I tăng 3,14%, quý II tăng 4,46%, quý III tăng 5,76%, quý IV tăng 6,9%, cả năm tăng 5,32%.

Hai là, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Tổng thu ngân sách đạt khoảng 390,65 nghìn tỷ đồng, bằng 100,2% kế hoạch dự toán; bội chi ngân sách khống chế ở mức 6,9% GDP. Tỷ lệ dư nợ quốc gia so với GDP khoảng 29,7%, vẫn trong giới hạn an toàn. Tỷ lệ nhập siêu giảm còn khoảng 16,5% so với 28,8% năm 2008.

Ba là, thực hiện có kết quả việc bảo đảm an sinh xã hội, quan tâm chăm lo cho người nghèo, các đối tượng chính sách, những vùng khó khăn; các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước phát triển mới. Tổng số chi cho an sinh xã hội khoảng 22,47 nghìn tỷ đồng; chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấp khoảng 36,7 nghìn tỷ đồng; trợ cấp cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo, góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 11%.

Bốn là, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm đạt được những kết quả tích cực. Chính phủ đã công bố cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính trên internet. Các bộ, ngành, tỉnh, thành phố đã công khai bộ thủ tục hành chính, thể hiện một bước tiến mới trong cải cách thủ tục hành chính.

Năm là, chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Những kết quả đạt được sau gần 3 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tiếp tục khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về chủ động hội nhập quốc tế.

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT