Tài liệu

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN II

Chia sẻ bởi
Lượt xem: 127582     Tải về: 1964     Lượt mua: 0    
Báo lỗi
Bình luận
Nhúng
/ 18
Tài liệu ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN II - tài liệu, sách iDoc.Vn
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN II
tài liệu gồm 10 câu hỏi ôn thi kết thúc học phần hoặc làm tài liệu tham khảo làm bài tiểu luận.
Nội dung trích xuất từ tài liệu
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê Nin II

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN II

Câu 1: Trình bày điều kiện ra đời, tồn tại, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa ?

Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa.

Một là, phải có sự phân công lao động xã hội. Đó là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành nghề khác nhau trong nền sản xuất xã hội. Nó tạo ra sự chuyên môn hóa sản xuất, tức là mỗi người chỉ sản xuất ra một hay một số sản phẩm nhất định. Điều này mâu thuẫn với nhu cầu của chính người sản xuất đó là cần có nhiều sản phẩm. Để giải quyết mâu thuẫn này, người sản xuất phải trao đổi sản phẩm, do đó sản phẩm trở thành hàng hóa.

Hai là, phải có sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất do mối quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định. Người sở hữu về tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động. Quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất làm cho những người sản xuất độc lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên phụ thuộc vào nhau. Do vậy, người này phải đem sản phẩm của mình trao đổi với người khác dưới hình thái hàng hóa.

Ở đây, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc lẫn nhau, còn tính độc lập tương đối về kinh tế lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau. Đây là một mâu thuẫn. Nó chỉ được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán dưới hình thái hàng hóa. Để có hàng hóa trao đổi, phải sản xuất và lưu thông sản phẩm. Vì vậy, sản xuất hàng hóa, theo đó là kinh tế hàng hóa ra đời và tồn tại.

2. Đặc trưng cơ bản của sản xuất hàng hóa.

- Sản xuất hàng hóa có mục đích là để trao đổi hoặc mua bán. Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán.

- Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân vừa mang tính xã hội. Nó mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội. Còn mang tính tư nhân bởi vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người. Tính chất tư nhân của sản xuất hàng hóa có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội. Chính điều này đã tạo nên mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa.

3. Ưu thế của kinh tế hàng hóa.

So với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa có vai trò quan trọng hơn hẳn đối với sản xuất và đời sống xã hội, được thể hiện ở ưu thế của nó.

Kinh tế hàng hóa có quy mô lớn hơn hẳn so với kinh tế tự nhiên. Trong kinh tế hàng hóa, sự gia tăng vô hạn của cầu là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.

Kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển trên cơ sở phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất và dưới tác động mạnh mẽ của cạnh tranh nên số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu của xã hội tốt hơn.

Nếu kinh tế tự nhiên tồn tại trong mối quan hệ “đóng cửa, khép kín”, thì kinh tế hàng hóa lại tạo điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế giữa các vùng trong nước, giữa trong và ngoài nước, từ đó phát huy lợi thế của mỗi địa phương và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, làm cho nền kinh tế năng động và có hiệu quả hơn.

Câu 2: Hàng hóa là gì? Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa và mối quan hệ giữa hai thuộc tính?

Hàng hóa và hai thuộc tính của nó

Hàng hóa là một vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi hoặc mua bán.

Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.

Giá trị sử dụng của hàng hóa

Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người (như gạo để nấu cơm, vải để mặc, xe đạp để đi…).

Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hoặc một số công dụng nhất định. Chính công dụng đó (tính có ích đó) làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng.

Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học công nghệ và của lực lượng sản xuất nói chung. Xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao.

Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội vì giá trị sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội, thông qua trao đổi mua bán. Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xã hội.

Giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi.

Giá trị hàng hóa

Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi trước hết là một quan hệ về số lượng, là tỉ lệ trao đổi giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Ví dụ: 1m vải = 5kg thóc.

Tuy hai hàng hóa khác nhau, có giá trụ sử dụng khác nhau: của vải là để may quần áo, của thóc là để làm thức ăn. Thế nhưng chúng lại có thể trao đổi được với nhau vì giữa chúng tồn tại điểm chung: đều là sản phẩm của lao động, đều được kết tinh bởi lao động. Nhờ đó mà chúng có thể trao đổi với nhau.

Như vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa. Chất của giá trị là lao động. Lượng của giá trị là số lượng lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa. Giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.

Vì giá trị là lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, nên nếu không kể đến tính chất có ích của sản phẩm, thì mọi hàng hóa đều giống nhau, đều không có sự phân biệt. Nhờ giá trị của hàng hóa mà diễn ra mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa.

Hai thuộc tính của hàng hóa vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn nhau.

- Thống nhất vì chúng tồn tại đồng thời trong một hàng hóa. Tức là một vật phẩm phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới trở thành hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính trên thì vật phẩm không là hàng hóa.

- Mâu thuẫn thể hiện ở chỗ khi là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng nhất về chất; nhưng khi là giá trị thì chúng lại đồng nhất về chất (đều là kết tinh của lao động). Việc thực hiện hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị thường không đồng thời về không gian và thời gian. Đứng về phía người sản xuất thì cái mà anh ta cần là giá trị, nhưng họ phải tạo ra giá trị sử dụng; ngược lại, người tiêu dùng lại cần giá trị sử dụng, nhưng anh ta phải có giá trị, tức là phải có tiền. Nó được thể hiện thành mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa cung và cầu.

Câu 3: Phân tích lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa?

Lượng giá trị của hàng hóa

Lượng giá trị của hàng hóa là số lượng lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, được đo bằng thời gian lao động hao phí để sản xuất hàng hóa bao gồm lao động vật hóa (tư liệu sản xuất) và lao động sống.

Mỗi chủ thể kinh tế có một lượng hao phí lao động thực tế nhất định trong quá trình sản xuất hàng hóa, đó là thời gian lao động cá biệt. Thời gian này xác định giá trị cá biệt của hàng hóa. Trên thị trường, không thể dựa vào giá trị cá biệt của hàng hóa để trao đổi, mà phải dựa vào giá trị xã hội của hàng hóa. Giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa.

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất hàng hóa trong điều kiện trung bình của xã hội với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ tay nghề trung bình và cường độ lao động trung bình. Thông thường, thời gian lao động xã hội cần thiết được xác định theo thời gian lao động cá biệt của nhũng người sản xuất và cung ứng tuyệt đại đa bộ phận hàng hóa đó trên thị trường.

Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa

Có ba nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa: năng suất lao động, cường độ lao động và các loại lao động.

- Thứ nhất, đó là năng suất lao động. Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động. Nó được đo bằng số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động tăng lên tức là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm xuống, tức là giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm và ngược lại. Vậy, giá trị của hàng hóa tỉ lệ nghịch với năng suất lao động. Mặt khác, năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: điều kiện tự nhiên, trình độ trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, quy mô sản xuất… Nên để tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên.

- Thứ hai, đó là cường độ lao động. Cường độ lao động phản ánh mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động. Cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản xuất ra tăng lên và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng. Do đó, giá trị của một đơn vị hàng hóa là không đổi vì thực chất tăng cường độ lao động chính là việc kéo dài thời gian lao động. Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động. Chính vì vậy mà tăng cường độ lao động không có ý nghĩa tích cực với sự phát triển kinh tế bằng việc tăng năng suất lao động.

- Thứ ba, là mức độ phức tạp của lao động. Theo đó, ta có thể chia lao động thành hai loại là lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động bình thường nào không cần phải trải qua đào tạo mà cũng có thể thực hiện được. Còn lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể thực hiện được. Trong cùng một thời gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn bởi vì thực chất lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên. Trong quá trình trao đổi mua bán, lao động phức tạp được quy đổi thành lao động giản đơn.

Câu 4: Phân tích nội dung và tác dụng của quy luật giá trị? Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy luật giá trị đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay?

Nội dung của quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động.

Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Thời gian hao phí lao động cá biệt để sản xuất hàng hóa phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết.

Nhìn bề ngoài, sản xuất và trao đổi hàng hóa như là việc riêng của từng chủ thể, họ độc lập và hình như không chịu sự chi phối nào. Nhưng thực tế, những hoạt động đó đều chịu sự chi phối của quy luật giá trị. Nếu ai có chi phí thấp hơn so với chi phí mà xã hội thừa nhận thì người đó sẽ tồn tại và phát triển; ngược lại, họ sẽ thô lỗ và phá sản.

Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa, là kết quả của sự thỏa thuận giữa người mua và người bán hàng hóa trên thị trường. Giá trị là cơ sở của giá cả. Vì giá trị là cơ sở của giá cả hàng hóa, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị. Hàng hóa nào có nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại. Tuy nhiên, sự tăng hay giảm của giá cả còn phụ thuộc vào cạnh tranh, cung-cầu, tình trạng độc quyền, sức mua của đồng tiền… Giá cả hàng hóa biến động lên xuồng xoay quanh giá trị, có khi cao hơn hoặc thấp hơn giá trị. Trong các nền kinh tế hiện đại, giá cả còn biến động bởi sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế.

Tác dụng của quy luật

Quy luật giá trị tồn tại, hoạt động ở mọi phương thức có sản xuất hàng hóa. Tuy có những đặc điểm hoạt động riêng tùy thuộc vào quan hệ sản xuất thống trị, nhưng nhìn chung, quy luật giá trị có ba tác dụng:

Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.

- Điều tiết sản xuất tức là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Tác động này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu. Nếu ở ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ lên cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy, lãi cao, thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành ấy. Do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên. Ngược lại, khi cung ở ngành đó vượt quá cầu, giá cả hàng hóa giảm xuống, hàng hóa bán không chạy và có thể lỗ vốn. Tình hình ấy buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành khác có giá cả hàng hóa cao.

- Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút nguồn hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng hóa thông suốt.

Như vậy, sự biến động của giá cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hóa.

Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.

Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt của mỗi người khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa ở thế có lợi, sẽ thu được lãi cao. Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành lợi thế cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao phí xã hội cần thiết. Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật , cải tiến tổ chức quản lý, thực hiên tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội. Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy và phát triển mạnh mẽ hơn.

Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo.

Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng. Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngược lại, những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khó.

Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn: một mặt quy luật giá trị chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển; mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.

c)Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy luật giá trị đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay.

Việc nghiên cứu cho thấy quy luật giá trị có tác động hai mặt:

Mặt tích cực của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó buộc các chủ thể kinh tế phải nhạy bén, năng động trong sản xuất, kinh doanh, phải tìm cách tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm; phải tìm đến ngành hoặc lĩnh vực mà mình có lợi thế, đến mặt hàng mà có nhiều người cần, tức là phải nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh tế. Dưới tác động của quy luật giá trị, cơ cấu của nền sản xuất tự điều chỉnh một cách linh hoạt cho phù hợp với cơ cấu tiêu dùng của xã hội. Quy luật giá trị buộc các chủ thể kinh tế phải cạnh tranh với nhau, điều này làm cho các nguồn lực của xã hội được sử dụng có hiệu quả, kích thích tiến bộ kỹ thuật và nguồn công nghệ, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Quy luật giá trị còn có tác dụng bình tuyển người sản xuất, nhờ đó chọn ra được những người năng động, tài kinh doanh, biết làm giàu, đồng thời buộc người kém cỏi phải vươn lên, tích cực hơn nếu không muốn trở thành nghèo khó.

Với tác dụng này, chúng ta cần phải tôn trọng và phát huy vai trò tự điều tiết của quy luật giá trị để phân bổ các nguồn lực của xã hội cho các ngành, lĩnh vực một cách linh hoạt và có hiệu quả, xây dựng cac vùng kinh tế chuyên môn hóa, lựa chọn việc đổi mới công nghệ, định hướng đào tạo nhân lực, thúc đẩy CNH, HĐH và thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường.

Mặt tiêu cực của quy luật thể hiện trong sự vận động của nó. Đó là tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên, đổ chất thải bừa bãi, làm mất cân bằng sinh thái và gây ô nhiễm môi trường; khủng hoảng kinh tế xảy ra, các căn bệnh kinh tế khác (đình trệ, suy thoái, lạm phát tiền tệ...) có cơ hội phát triển; sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội, tác động tiêu cực đến tiến bộ xã hội, nhà nước phải ngăn ngừa, khắc phục những tác động tiêu cực và kích thích tính hiệu quả của quy luật.

Câu 5: Tư bản là gì? Trình bày mâu thuẫn công thức chung của tư bản? Vì sao nói hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn đó?

Tư bản.

Tiền trong lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức: H-T-H. Tiền trong nền sản xuất tư bản vận động theo công thức: T-H-T’. Giữa hai công thức này có sự khác nhau: Lưu thông hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng hành vi bán (H-T) và kết thúc bằng hành vi mua (T-H); điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò trung gian; mục đích là giá trị sử dụng. Ngược lại, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng hành vi mua (T-H) và kết thúc bằng hành vi bán (H-T’); tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc, còn hàng hóa đóng vai trò trung gian.

Như vậy, tiền (T) chỉ biến thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng dư (m) cho người sở hữu và sử dụng nó.

Công thức: T – H – T’; trong đó T’=T + (T ((T là số tiền trội hơn số tiền ứng ra, C. Mác gọi là giá trị thặng dư và ký hiệu là m). Số tiền (T) ứng ra ban đầu chuyển hóa thành tư bản (ký hiệu K).

Được gọi là công thức chung của tư bản vì mọi tư bản đều vận động như vậy nhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư. Tư bản là tiền tự lớn lên hay giá trị sinh ra giá trị thặng dư.

Mâu thuẫn công thức chung của tư bản.

Nhìn vào công thức chung của tư bản ta có cảm giác giá trị thặng dư được sinh ra trong lưu thông hàng hóa. Nhưng thực chất không phải vậy.

Trong quá trình trao đổi, nếu được thực hiện theo nguyên tắc ngang giá thì hàng đổi lấy tiền và tiền đổi lấy hàng. Tức là thông qua trao đổi, tổng giá trị trong tay mỗi người là không hề thay đổi mà chỉ chuyển từ hình thức này sang hình thức khác.

Nếu trao đổi thực hiện không ngang giá thì có thể người mua hoặc người bán được lợi. Khi đó, tổng giá trị trong tay của mỗi người là khác nhau. Tuy nhiên, lượng giá trị chỉ là chuyển từ tay người này sang tay người khác chứ không hề được sinh ra thêm. Hơn nữa, trong nền kinh tế hàng hóa, người mua cũng đồng thời là người bán. Cho nên, nếu lúc mua mà được lợi thì lúc bán có thể sẽ bị thiệt.

Như vậy, theo công thức chung của tư bản thì lưu thông tạo ra giá trị thặng dư; nhưng về bản chất, lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông lại không hề tạo ta giá trị thặng dư. Đây là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.

c) Chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.

Để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản, C. Mác đã tìm thấy một loại hàng hóa có khả năng tạo ra giá trị thặng dư trong quá trình lưu thông-đó là hàng hóa sức lao động.

- Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể chất và trí lực) tồn tại trong một con người và được người đó sử dụng vào sản xuất.

Sức lao động là một yếu tố của sản xuất. Nó chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện:

+ Một là, người lao động được tự do về thân thể, có quyền sở hữu và sử dụng sức lao động của mình kể cả việc bán nó như là một hàng hóa.

+ Hai là, người đó không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình đứng ra tổ chức sản xuất nên phải bán sức lao động cho chủ khác sử dụng trong một thời gian nhất định.

Sức lao động trở thành hàng hóa là điều kiện quyết định để biến tiến thành tư bản. Nó là nhân tố đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển sản xuất hàng hóa-nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa ra đời.

- Đặc điểm của hàng hóa sức lao động: Giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.

Giá trị hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định. Nó được xác định bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để duy trì đời sống bình thường của công nhân và gia đình anh ta, cộng với những phí tổn học tập để người công nhân có một nghề nhất định. Ngoài ra, lượng giá trị hàng hóa sức lao động còn phụ thuộc vào ngành nghề và lĩnh vực làm việc của công nhân trong nền kinh tế và phụ thuộc vào các yếu tố tinh thần, lịch sử, tức là vào các điều kiện cụ thể của từng nước (khí hậu, tập quán, trình độ văn minh, nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân). Hình thức của giá trị sức lao động là tiền công.

Giá trị sử dụng sức lao động là sự thỏa mãn nhu cầu người mua nó, tức là để tiêu dùng vào quá trình lao động. Khác với các hàng hóa thông thường, trong quá trình sử dụng, hàng hóa sức lao động có thể tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó-giá trị thặng dư. Đó là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn công thức chung của tư bản.

Câu 6: Thế nào là tích tụ tư bản, tập trung tư bản? Phân biệt sự giống và khác nhau giữa tích tụ tư bản và tập trung tư bản? Vai trò của chúng trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản?

Tích tụ tư bản và tập trung tư bản, mối quan hệ giữa chúng.

- Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa một phần giá trị thặng dư. Nó là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản.

- Tập trung tư bản là sự tăng quy mô tư bản cá biệt bằng cách kết hợp nhiều tư bản nhỏ thành một tư bản lớn hơn. Tập trung tư bản diễn ra bằng hai phương pháp là cưỡng bức (các nhà tư bản bị thôn tính do phá sản) và tự nguyện (các nhà tư bản liên hiệp, tổ chức thành công ty cổ phần).

Tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản cá biệt và quy mô tư bản xã hội, nó phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Tập trung tư bản chỉ làm tăng quy mô tư bản cá biệt, mà không làm tăng quy mô tư bản xã hội, nó phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa các nhà tư bản với nhau.

Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ tác động và thúc đẩy lẫn nhau. Tích tụ là điều kiện để tập trung tư bản; tập trung tư bản là động lực để tích tụ tư bản, tạo điều kiện thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, từ đó thúc đẩy tích lũy tư bản.

Vai trò của tích tụ và tập trung tư bản trong sự phát triển của CNTB:

-Tích tụ tư bản một mặt thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, mặt khác làm tăng khối lượng GTTD trong quá trình phát triển của sản xuất TBCN. Tích tụ tư bản làm tăng quy mô và sức mạnh của tư bản cá biệt do đó cạnh tranh sẽ gay gắt hơn dẫn đến tập trung nhanh hơn. Ngược lại, tập trung tư bản tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường bóc lột GTTD, nên đẩy nhanh tích tụ tư bản. Ảnh hưởng qua lại của tích tụ và tập trung tư bản làm cho tích lũy tư bản ngày càng mạnh.

-Tập trung tư bản có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nhờ tập trung tư bản mà có được những tập đoàn tư bản lớn trong một thời gian ngắn, đồng thời tập hợp được sức mạnh của các nhà tư bản, sử dụng được kỹ thuật và công nghệ hiện đại.

-Quá trình tích lũy tư bản gắn với quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng, do đó nền sản xuất TBCN trở thành nền sản xuất lớn, mang tính chất xã hội hóa cao độ, từ đó làm cho mâu thuẫn kinh tế cơ bản của CNTB, mâu thuẫn giữa sự phát triển cao của LLSX mang tính chất xã hội hóa với quan hệ sản xuất mang tính chất tư nhân ngày càng sâu sắc.

Câu 7: Thế nào là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối? Giá trị thặng dư tương đối? Cho ví dụ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

Đây là phương pháp nhà tư bản dùng để kéo dài ngày lao động một cách tuyệt đối, qua đó làm tăng thời gian lao động thặng dư, trong khi thời gian lao động cần thiết không đổi. Tăng cường độ lao động hiểu theo nghĩa hao phí calo cũng có nghĩa là kéo dài thời gian lao động. Giá trị thặng dư có được do kéo dài thời gian lao động được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối. Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chủ nghĩa tư bản. Nó được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhưng do vấp phải giới hạn về thể chất và tinh thần của người công nhân và bị công nhân đấu tranh nên nhà tư bản còn sử dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

Ví dụ: Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư.

m’ = 4/4 x 100% = 100%

Giả sử nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian lao động tất yếu không thay đổi, vẫn là 4 giờ. Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là:

m’ = 6/4 x 100% = 150%

Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên. Trước đây tỷ suất giá trị thặng dư là 100% thì bây giờ là 150%.

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

Đây là cách thức mà nhà tư bản dùng để rút ngắn thời gian lao động cần thiết, làm tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư, trong khi độ dài ngày lao động không đổi hoặc có thể được rút ngắn lại. Cơ sở để thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là tăng năng suất lao động.

Phương pháp sản xuất này được áp dụng ngày càng phổ biến cùng với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, nó không gạt bỏ phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối; trái lại chúng được kết hợp với nhau, bởi vì việc sử dụng máy móc với tốc độ nhanh làm tăng cường độ lao động.

Ví dụ: Giả sử ngày lao động là 8 giờ và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư.

Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là:

m’ = 4/4 x 100% = 100%

Giả sử rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3 giờ lao động đã tạo ra được một lượng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư.

Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:

m’ = 5/3 x 100% = 166%

Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166%.

Ý nghĩa của việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư.

Qua nghiên cứu, nếu gạt bỏ mục đích và tính chất tư bản chủ nghĩa thì các phương pháp, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch, có thể vận dụng trong các doanh nghiệp ở nước ta nhằm kích thích sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội.

Việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư gợi mở phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động, vào sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, về cơ bản và lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội bằng con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân; tạo động lực kinh tế cho doanh nghiệp và người lao động.

Câu 8: Trình bày nội dung và vai trò của quy luật giá trị thặng dư? Vì sao nói sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB?

Nội dung và vai trò của quy luật giá trị thặng dư.

Nội dung của quy luật giá trị thặng dư:

Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.

Nội dung của quy luật giá trị thặng dư là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách tăng cường bóc lột lao động làm thuê.

Vai trò của quy luật giá trị thặng dư:

Quyết định mục đích, bản chất, nguyên tăc phân phối cơ bản và phương hướng phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Chi phối các quy luật kinh tế khác, hướng sự hoạt động của các quy luật kinh tế này phục vụ quy luật giá trị thặng dư.

Quy luật giá trị thặng dư tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội tư bản. Một mặt, nó thúc đẩy kỹ thuật, phân công lao động xã hội, làm cho lực lượng sản xuất, năng suất lao động tăng lên nhanh chóng và nền sản xuất được xã hội hóa cao. Mặt khác, nó làm cho các mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản, trước hết là mâu thuẫn cơ bản - mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với sự chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng gay gắt, quy định xu hướng lịch sử tất yếu phải thay thế nó bằng một xã hội mới tốt đẹp hơn.

Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản vì:

- Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của CNTB. Nó quyết định các mặt chủ yếu, các quá trình kinh tế chủ yếu của CNTB.

- Mục đích sản xuất của CNTB không phải là giá trị sử dụng mà là sản xuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên. Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là mục đích và động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản, cũng như toàn bộ xã hội tư bản.

- Sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền sản xuất TBCN, mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản sử dụng để đạt được mục đích như tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng các biện pháp.

Câu 9: Trình bày bản chất, nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế trong CNTB? Tính chu kì của khủng hoảng kinh tế trong CNTB được thể hiện như thế nào?

Bản chất và nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế trong CNTB.

- Bản chất: Hình thức đầu tiên và phổ biến trong nền sản xuất TBCN là khủng hoảng sản xuất thừa. Khi khủng hoảng nổ ra, hàng hóa không tiêu thụ được, sản xuất bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp bị vỡ nợ, phá sản, thợ thuyền bị thất nghiệp, thị trường bị rối loạn. Tình trạng thừa hàng hóa không phải là thừa so với nhu cầu của xã hội, mà là “thừa” so với sức mua có hạng của quần chúng lao động, trong lúc khủng hoảng “thừa” đang nổ ra, hàng hóa bị phá hủy thì hàng triệu người lao động lại lâm vào tình trạng đói khổ và họ không có khả năng thanh toán.

- Nguyên nhân:

* Nguyên nhân sâu xa: Mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.

* Nguyên nhân trực tiếp:

+ Mâu thuẫn giữa tính tổ chức, tính kế hoạch trong từng xí nghiệp rất chặt chẽ và khoa học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong toàn xã hội.

+ Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng không có giới hạn của tư bản với sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do bị bần cùng hóa.

+ Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai cấp lao động làm thuê.

Cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên nổ ra vào năm 1825 ở nước Anh. Ngày nay, khủng hoảng kinh tế có biểu hiện đa dạng như khủng hoàng tài chính, tiền tệ, khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng thiếu…

Biểu hiện tính chu kì của khủng hoảng kinh tế trong CNTB.

Chu kỳ kinh tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vận động từ đầu cuộc khủng hoảng này đến đầu cuộc khủng hoảng sau. Chu kỳ kinh tế gồm bốn giai đoạn: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh.

Khủng hoảng: là giai đoạn khởi điểm của chu kỳ kinh tế mới. Ở giai đoạn này, hàng hóa ế thừa, ứ đọng, giá cả giảm mạnh, sản xuất đình trệ, xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp hàng loạt, tiền công hạ xuống. Tư bản mất khả năng thanh toán các khoản nợ, phá sản, lực lượng sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng. Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn biểu hiện dưới hình thức xung đột dữ dội.

Tiêu điều: đặc điểm ở giai đoạn này là sản xuất ở trạng thái trì trệ, không còn tiếp tục đi xuống nhưng cũng không tăng lên, thương nghiệp vẫn đình đốn, hàng hóa được đem bán hạ giá, tư bản để rỗi nhiều vì không có nơi đầu tư. Trong giai đoạn này, để thoát khỏi tình trạng bế tắc, các nhà tư bản còn trụ lại được tìm cách giảm chi phí bằng cách hạ thấp tiền công, tăng cường độ lao động và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản cố định làm cho sản xuất vẫn còn có lời trong tình hình hạ giá. Việc đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế.

Phục hồi: là giai đoạn mà các xí nghiệp được khôi phục và mở rộng sản xuất. Công nhân lại được thu hút vào làm việc; mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, vật giá tăng lên, lợi nhuận của tư bản do đó cũng tăng lên.

Hưng thịnh: là giai đoạn sản xuất phát triển vượt quá điểm cao nhất mà chu kì trước đã đạt được. Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa tăng, xí nghiệp được mở rộng và xây dựng thêm. Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàng tung tiền cho vay, năng lực sản xuất lại vượt quá sức mua của xã hội. Do đó, lại tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mới.

Trong giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa tư bản vẫn không tránh khỏi khủng hoảng kinh tế, nhưng nhờ có sự can thiệp của nhà nước vào quá trình kinh tế, mặc dù không triệt tiêu được khủng hoảng và chu kì của nó nhưng đã làm hạn chế phần nào những tác động phá hoại của khủng hoảng.

Câu 10: Trình bày nguyên nhân hình thành, bản chất và các đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền?

Nguyên nhân hình thành tư bản độc quyền.

Vào cuối thế kỉ 19, trong đời sống kinh tế chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa xuất hiện quá trình chuyển biến chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh sang độc quyền. Nguyên nhân:

Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật buộc các doanh nghiệp phải có quy mô lớn. Để đáp ứng đòi hỏi đó, nếu chỉ trông chờ vào tích tụ tư bản trong từng doanh nghiệp thì rất chậm chạp. Bởi vậy, tập trung tư bản và sản xuất tăng lên.

Sự tác động của quy luật giá trị thặng dư và quy luật tích lũy tư bản tạo ra sự tập trung tư bản với quy mô lớn.

Cạnh tranh khốc liệt làm cho các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản phải tập trung tư bản và sản xuất vào tư bản lớn làm cho quy mô sản xuất tăng lên.

Khủng hoảng kinh tế càng thúc đẩy quá trình tập trung tư bản và sản xuất. Chỉ như vậy, các nhà tư bản mới tồn tại và phát triển trong nền kinh tế.

Quá trình tập trung tư bản và sản xuất dẫn đến sự ra đời các tổ chức độc quyền. Bởi vì khi đó chỉ có ít nhà tư bản lớn nên dễ dàng thỏa thuận với nhau hơn là hàng ngàn, hàng vạn xí nghiệp nhỏ trước đây. Mặt khác, do quy mô của doanh nghiệp lớn nên nếu bị rủi ro thì sức phá hoại sẽ rất lớn, từ đó đẻ ra khuynh hướng liên minh với nhau để nắm độc quyền.

Bản chất của tư bản độc quyền.

Tư bản độc quyền là một bước phát triển mới của chủ nghĩa tư bản, là liên minh của các nhà tư bản lớn nắm trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một hoặc một số hàng hóa, hạn chế cạch tranh, quy định giá cả độc quyền để thu được lợi nhuận độc quyền cao.

Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của chủ nghĩa tư bản. Nó là bước phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, làm cho quy luật giá trị thặng dư chuyển hóa thành quy luật lợi nhuận độc quyền.

Đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền.

Chủ nghĩa tư bản độc quyền có 5 đặc điểm kinh tế cơ bản:

Sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền.

Tổ chức độc quyền là liên minh giữa những nhà tư bản lớn để tập trung vào trong tay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành, cho phép liên minh này phát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó. Các hình thức cơ bản của độc quyền bao gồm: cácten, xanhđica, tơrớt và côngxoocxiom.

- Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính. Tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc quyền trong ngân hàng.

Quá trình hình thành các tổ chức độc quyền trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, trong ngành ngân hàng cũng diễn ra quá trình tích tụ và tập trung tư bản, làm hình thành các tổ chức độc quyền trong ngân hàng. Ngân hàng có vai trò mới. Từ đó xuất hiện sự thâm nhập lẫn nhau về tư bản giữa các tổ chức độc quyền sản xuất và tiêu thụ với các tổ chức độc quyền ngân hàng làm ra đời tư bản tài chính. Tư bản tài chính là liên minh giữa độc quyền ngân hàng và độc quyền công nghiệp nhằm thống trị ngồn vốn và sản xuất của xã hội để thu được lợi nhuận độc quyền cao.

Tư bản tài chính thống trị đời sống kinh tế xã hội thông qua chế độ tham dự, chế độ ủy nhiệm. Ngoài ra, nó còn áp dụng các thủ đoạn lập công ty mới, phát hành trái khoán, kinh doanh công trái, đầu cơ chứng khoán có giá ở sở giao dịch, đầu cơ đất, lập ra công ty bảo hiểm. Theo V.I.Lênin, nói chủ nghĩa tư bản độc quyền thực chất là nói chủ nghĩa tư bản tài chính.

- Xuất khẩu tư bản. Đưa tư bản ra nước ngoài nhằm chiếm đoạt các giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở nước nhập khẩu tư bản. Xuất khẩu tư bản là kết quả tất yếu của quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về tư bản trên thị trường quốc tế, là hiện tượng có tính quy luật.

Có hai hình thức xuất khẩu tư bản: trực tiếp và gián tiếp. Xuất khẩu tư bản trực tiếp là đưa tư bản ra nước ngoài để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao. Xuất khẩu tư bản gián tiếp là cho vay để thu lợi tức.

Xuất khẩu tư bản được thực hiện bởi hai chủ thể: tư nhân và nhà nước. Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức chủ yếu, nhằm trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận; còn xuất khẩu tư bản nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, quân sự tạo thuận lợi cho xuất khẩu tư bản tư nhân.

- Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tập đoàn tư bản. Nó được thực hiện thông qua ký kết các hiệp định để phân chia thị trường, khu vực xuất khẩu, dựa trên tương quan lực lượng kinh tế giữa các cường quốc tư bản và được hình thành thông qua các hình thức tổ chức như: các-ten quốc tế, tờrớt quốc tế… mà ngày nay gọi là các khu vực và trung tâm kinh tế thế giới.

- Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc tư bản. Để đảm bảo lâu dài sự phân chia thế giới về kinh tế, các cường quốc tư bản tiến hành phân chia thế giới về lãnh thổ. Thông qua đó để biến các nước lạc hậu thành thuộc địa và nửa thuộc địa. Trước đây, đặc điểm này thể hiện ở chủ nghĩa thực dân cũ; ngày nay, nó thể hiện thông qua chủ nghĩa thực dân mới.

Như vậy, bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền là sự thống trị của độc quyền thay thế sự thống trị của tự do cạnh tranh; bản chất chính trị của nó là hiếu chiến, phản động, xâm lược với nhiều hình thức và thủ đoạn khác nhau.

Gửi nhận xét của bạn về tài liệu này
comments powered by Disqus
Tài liệu liên quan
Bài giảng Hoán vị đại động mạch Lượt tải: 19 Lượt xem: 201686
GIÁO ÁN MÔN LUẬT SO SÁNH Lượt tải: 69 Lượt xem: 165919
Giải bài tập xác suất thống kê Lượt tải: 2002 Lượt xem: 146874
Bài tập kiểm toán căn bản có lời giải Lượt tải: 868 Lượt xem: 139999
Có thể bạn quan tâm
Bài tập kiểm toán căn bản có lời giải Lượt tải: 868 Lượt xem: 139999
Đề thi trắc nghiệm Kinh tế vĩ mô 240 câu… Lượt tải: 2547 Lượt xem: 135289
Khái niệm văn bản và phân loại văn bản Lượt tải: 343 Lượt xem: 95842
tâm lý học đại cương Lượt tải: 501 Lượt xem: 83192
Bái giảng Giáo dục quốc phòng An ninh Lượt tải: 315 Lượt xem: 66069