Chia sẻ Download
Tài liệu Đặc điểm tâm lý học sinh lứa tuổi tiểu học  Hiện nay, sự phát triển kinh
/14 trang
Thành viên idoc2012

Đặc điểm tâm lý học sinh lứa tuổi tiểu học Hiện nay, sự phát triển kinh

- 12 tháng trước
20,479
Báo lỗi

Hiện nay, sự phát triển kinh tế thị trường cùng với xu hướng toàn cầu hoá đã "buộc" các bậc cha mẹ "phải làm việc quên mình" và dường như "quên luôn cả những đặc điểm tâm sinh lý của con em mình". Đặc biệt khi trẻ bắt đầu vào lớp 1, trước mắt trẻ là một môi trường hoàn toàn mới. Vì thế mà không ít trường hợp các gia đình hiện nay lâm vào cảnh "tiến thoái lưỡng nam" vì con cái. Dưới đây là những đặc điểm tâm sinh lý cơ bản nhất của học sinh tiểu học và những điều cần lưu ý đối với các bậc cha mẹ và thầy cô giáo. 1. Đặc điểm về mặt cơ thể - Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,…Vì

Nội dung

Đặc điểm tâm lý học sinh lứa tuổi tiểu học

Hiện nay, sự phát triển kinh tế thị trường cùng với xu hướng

toàn cầu hoá đã "buộc" các bậc cha mẹ "phải làm việc quên

mình" và dường như "quên luôn cả những đặc điểm tâm sinh lý

của con em mình". Đặc biệt khi trẻ bắt đầu vào lớp 1, trước mắt

trẻ là một môi trường hoàn toàn mới. Vì thế mà không ít trường

hợp các gia đình hiện nay lâm vào cảnh "tiến thoái lưỡng nam"

vì con cái. Dưới đây là những đặc điểm tâm sinh lý cơ bản nhất

của học sinh tiểu học và những điều cần lưu ý đối với các bậc

cha mẹ và thầy cô giáo.

1. Đặc điểm về mặt cơ thể

- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông,

xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt

hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,…Vì thế mà trong các hoạt

động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin gọi

chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các

em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn.

- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất

thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,…Vì vậy mà

các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ

mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ.

- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng,

do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động

sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. Do đó, các em rất

hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi

trí tuệ,…Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn

hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em.

Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể

mỗi năm tăng 2kg. Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều

cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg

(nam) và 15,1 kg (nữ). Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình,

chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể

xê dịch từ 1-2 kg. Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 – 90 lần/

phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp,

hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh.

2. Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống

2.1 Hoạt động của học sinh tiểu học

- Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui

chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự

thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động

học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em

còn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ

chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động.

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự

phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn

nhà cửa,…Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở

trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,…

+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các

phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của

Đội thiếu niên tiền phong,…

2.2 Những thay đổi kèm theo

- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên

tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình. Điều này

được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các

vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,…các em phải tham gia lao động

sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ.

- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của

các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự

thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập.

Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt.

- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt

động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả

trong gia đình). Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là

người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình.

Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô

phải tạo điều kiện giúp đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cực

của các em trong công việc gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt

là trong học tập.

3. Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí

tuệ)

3.1 Nhận thức cảm tính

3.1.1 Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu

giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình

hoàn thiện.

3.1.2 Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính

đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi

tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối

tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan

sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của

trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – Tri giác

có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc

nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,…)

Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các

hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với

bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực

và chính xác.

3.2 Nhận thức lý tính

3.2.1 Tư duy

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư

duy trực quan hành động.

Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư

duy trừu tượng khái quát

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4,

5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân

tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu

học.

3.2.2 Tưởng tượng

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú

hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh

nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em

vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản,

chưa bền vững và dễ thay đổi.

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn

thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới.

Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi

tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ

tranh,…. Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này

bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh,

sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của

các em.

Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí

tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô

khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em

những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt

động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá

trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện.

3.3 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu

học

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi

trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì

ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ

pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có

khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự

khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình

nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm

giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và

được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ.

Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh

giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các

nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn

này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có

lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ

tích, báo nhi đồng,….đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc

tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy

trẻ cách viết nhật kí,…Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một

vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.

3.4 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả

năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này

chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc

này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng

trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có

cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,…Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu

và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân

tán trong quá trình học tập.

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức,

điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và

chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học

tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài

hát dài,…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn

của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian

cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công

việc trong khoảng thời gian quy định.

Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ

những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới

hạn về mặt thời gian. Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi

đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều

này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả

giáo dục trẻ.

3.5 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu

học

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ

từ ngữ – lôgic

Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt

và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh

chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các

điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng

dàn bài để ghi nhớ tài liệu.

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ

được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên,

hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều

yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp

dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú

của các em…

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em

biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác

định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để

diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt,

dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú

và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

3.6 Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc

nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem,

học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền,…)

Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các

em còn yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến

cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn.

Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu

của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy

năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính

cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc

vào hứng thú nhất thời.

Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi

ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn

vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm

gương về nghị lực trong mắt trẻ.

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ

thơ. Môi trường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời

gian liên tục từ 30 – 35 phút. Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính

ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu kiềm chế dần tính

hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp

hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững

của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết,…Tất cả

đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều

này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà

trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

4. Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học

Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp

và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực

rỡ,…Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt,

trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ

khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư…

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay

đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã

"người lớn" hơn rất nhiều.

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học

sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ

nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ

thuật, khoa học,…khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời

cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui

chột năng khiếu của trẻ.

Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học

cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em;

nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn

và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông

qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình

huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,…

5. Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt

trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt

rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn…Sau 5 năm học, "tính cách

học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ.

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu

học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em

lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát

triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ

của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng;

nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những

năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có

được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc

biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc

hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với

học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện

về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện

dần cùng với tiến trình phát triển của mình.

Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo

tuyệt đối không được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải

dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải

hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không

đâu xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách

ấy.

…………………………………………………….

Theo Văn Tường (Trung tâm N-T)

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT