Chia sẻ Download
Tài liệu CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
/16 trang
Thành viên idoc2012

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

- 12 tháng trước
1,097
Báo lỗi

Sự phát triển của CTXH cá nhân (CTXHCN) CTXHCN là phương pháp can thiệp đầu tiên của ngành được xây dựng một cách khoa học. Phương pháp này bắt đầu từ cuối những năm 1800 với các tổ chức Từ Thiện (Charity Organizations) Mỹ. Các tổ chức này tuyển dụng những nhà thăm viếng hữu nghị (friendly visitors) để giúp đỡ người nghèo. Họ tới thăm từng người, tìm hiểu cặn kẽ những người cần sự giúp đỡ, cho những lời khuyên và giúp đỡ tài chánh. Dịch vụ chủ yếu mà họ cùng cấp là tham vấn.

Nội dung
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

Trích dịch từ: L.S. De GUZMAN, WORKING WITH INDIVIDUALS - The CASE WORK PROCESS (Làm việc với cá nhân - Tiến trình CTXH cá nhân), NASWE, Manila, 1992. Người dịch: Nguyễn Thị Oanh. Tóm lược: tr. 187 - 200.

1. Sự phát triển của CTXH cá nhân (CTXHCN)

CTXHCN là phương pháp can thiệp đầu tiên của ngành được xây dựng một cách khoa học. Phương pháp này bắt đầu từ cuối những năm 1800 với các tổ chức Từ Thiện (Charity Organizations) Mỹ. Các tổ chức này tuyển dụng những nhà thăm viếng hữu nghị (friendly visitors) để giúp đỡ người nghèo. Họ tới thăm từng người, tìm hiểu cặn kẽ những người cần sự giúp đỡ, cho những lời khuyên và giúp đỡ tài chánh. Dịch vụ chủ yếu mà họ cùng cấp là tham vấn.

Thời gian sau những khám phá của các nhân viên này cho thấy rằng nguyên nhân khó khăn không chỉ xuất phát từ một khiếm khuyết của nhân cách mà từ các điều kiện xã hội trong đó thân chủ sinh sống. Họ kết luận rằng môi trường có một ảnh hưởng rất lớn đối với cá nhân. Từ đó các tổ chức Từ Thiện nói trên quyết định thực hiện cải cách xã hội để cải thiện các điều kiện vật chất và xã hội của người lao động nghèo. Họ đã thành công ở nhiều khía cạnh, tuy nhiên mặc dù có những cải thiện nhiều gia đình tiếp tục sống trong nghèo khổ và bần cùng. Từ đó họ quyết định rằng các “nhà thăm viếng hữu nghị” phải làm việc gầân gũi hơn nữa với từng cá nhân và gia đình trên cơ sở trực tiếp với từng trường hợp một.

Một trong các khám phá của giai đoạn này là sự phục hồi của thân chủ không thể thực hiện chỉ bằng tham vấn. Sự giúp đỡ tài chánh cũng cần thiết cho gia đình thân chủ trong giai đoạn thích ứng, tái huấn luyện và phục hồi. Từ đó các cơ sở xã hội giúp đỡ tài chánh kèm theo tham vấn.

Đầu những năm 1900 Mary Richmond và các nhà tiên phong khác về CTXH cá nhân xây dựng một cách tiếp cận khoa học hơn để giúp đỡ thân chủ. Bà hình dung CTXHCN như một tổng thể gồm 3 mặt: nghiên cứu xã hội, chẩn đoán, trị liệu. Ngày nay tổng thể 3 mặt này gồm 7 bước: nhận diện vấn đề, thu thập dữ kiện, thẩm định chẩn đoán, kế hoạch trị liệu, trị liệu, lượng giá và tiếp tục hay chấm dứt. Từ đó CTXHCN tiếp tục phát triển. Những năm đầu CTXHCN chịu sự ảnh hưởng của mối quan tâm đến các điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng hoàn cảnh của thân chủ. Kế đó dưới ảnh hưởng của những khám phá của Signumd Freud và môn đồ của ông ta, các NVXH xem xét kỹ càng hơn khía cạnh tình cảm và tâm lý xã hội trong vấn đề của các nhân thân chủ. Các bịnh viện đa khoa bắt đầu tuyển dụng NVXH để tìm hiểu điều kiện gia đình và sinh sống của bịnh nhân nhằm mục đích chữa trị về y khoa.

Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng ảnh hưởng đến CTXH cá nhân. NVXH bắt đầu làm việc gần gũi với các cựu chiến binh và gia đình họ. Theo kết quả quan sát và kinh nghiệm, họ đem cách giải thích về tâm lý và tâm thần học để thay thế các lý giải may tính xã hội học. Họ bắt đầu điều chỉnh phương pháp làm việc với những con người có nhu cầu. Một số nguyên tắc hướng dẫn và tiền đề về giá trị hình thành trong giai đoạn này.

Thế chiến thứ hai cũng ảnh hưởng đến sự thực hành CTXHCN. Người ta quan sát thấy song song với khó khăn vật chất, những khó khăn về nhân cách ngày càng gia tăng. Từ đó NHXH xem xét lại tính chất các dịch vụ mà họ cung ứng cho các cá nhân có vấn đề về nhân cách. Tham vấn được tăng cường và nới rộng để bao gồm gia đình của thân chủ. Càng ngày người ta cũng nhận thấy về ảnh hưởng của văn hóa đối với hành vi của thân chủ. Các NVXH trong lãnh vực y tế và tâm thần ngày càng được tìm tới.

Ngày nay với nhiều ảnh hưởng khác nhau xoay quanh cá nhân, trọng tâm của sự can thiệp không chỉ còn là cá nhân, mà “cá nhân trong tình huống”, đây là sự công nhận mối tương tác giữa cá nhân và môi trường...

2. Phương pháp CTXHCN

CTXH cá nhân là một phương pháp can thiệp (của CTXH) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm. Mục đích của CTXHCN là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình. NVXH thực hiện điều này bằng cách giúp tiếp cận các tài nguyên cần thiết. Về nội tâm, về quan hệ giữa người và người, và kinh tế xã hội. Phương pháp này tập trung vào các mối liên hệ về tâm lý xã hội, bối cảnh xã hội trong đó vấn đề của cá nhân và gia đình diễn ra và bị tác động.

Vì sự hình thành và phát triển của CTXH cá nhân xuất phát cách đây cả trăm năm các nhà thực hành đã phát triển nhiều cách tiếp cận khác nhau để sử dụng phương pháp này một cách hiệu quả. Tiến trình hay các bước đi không thay đổi, các khác biệt nằm ở trọng tâm và các công cụ trị liệu. Các nhà tiên phong trong CTXHCN đặc biệt như Mary Richmond, Gordon Hamlton và Florence Hollis triển khai cách tiếp cận tâm lý xã hội. Mối quan tâm chính là thực tiễn tâm lý xã hội nội tâm của con người và bối cảnh xã hội trong đó anh ta sống. Cách tiếp cận thứ hai được gọi là “giải quyết vấn đề”. Người chủ trương chính của cách tiếp cận này là Helen Harris Perlman tin rằn sự lôi cuốn thân chủ vào tiến trình giải quyết vấn đề tự nó là một cách trị liệu. Sau đó các NVXH theo đường lối của Ruth Smalley và Tybel Bloom hình thành cách tiếp cận chức năng. ở đây dịch vụ được cung cấp trên cơ sở chức năng của cơ quan xã hội là phương tiện trị liệu. Cách tiếp cận tập trung vào một nhiệm vụ do William Reid và Laura Epstein chủ trương, tập trung vào vệc giúp thân chủ đạt một mục tiêu cụ thể do anh ta chọn và trong thời gian giới hạn. Thực hiện mục tiêu ấy chính là trị liệu. Kế đó là “can thiệp khi khủng khoảng” do nhiều NVXH sử dụng khi ngành CTXH mới bắt đầu. Theo Howard J. Parad và sau đó Naomi Golan, đây là tích cực tác động vào chức năng hoạt động tâm lý xã hội của một cá nhân trong giai đoạn khủng khoảng. Sự lựa chọn phương pháp nào tùy thuộc sự thẩm định về tâm sinh lý của các nhân và gia đình trong tình huống xã hội.

CTXHCN có 4 thành tố: con người, vấn đề, cơ quan và tiến trình.

3. Con người thân chủ

Mục đích của CTXHCN là gương cá nhân và gia đình hoạt động có hiệu quả hơn trong các mối quan hệ tâm lý xã hội. Vì thế NVXH phải có những hiểu biết cơ bản về hành vi con người.

Con người là sản phẩm của tự nhiên và giáo dưỡng và luôn luôn trên đà thay đổi. Dễ hiểu anh ta và những vấn đề của anh ta NHXH phải có kiến thức cơ bản về tương tác giữa các ảnh hưởng sinh lý, tâm lý, văn hóa xã hội trên hoạt động của cá nhân và nhóm. NVXH cũng phải biết mối quan hệ giữa con người và môi trường. Các học thuyết về tâm lý giúp NVXH hiểu hành vi quá khứ và tương lai của thân chủ và dự báo được những gì sẽ xảy ra. Vì chính thân chủ là người phải hành động để giải quyết vấn đề của mình trong khả năng của anh ta, NVXH phải biết tìm hiểu, thaœo luận và huy động động cơ của thân chủ và khả năng sẵn có và còn tiềm tàng của thân chủ. Nếu thẩm định đúng động cơ và năng lực của thân chủ NVXH có thể ít nhiều xác định thân chủ có thể vận dụng hiệu quả của CTXHCN đến mức nào và họ cùng nhau (TC và NVXH) đặt ra những mục đích thực tế và đạt được.

4. Vấn đề

Vấn đề mà TC gặp phải có thể thuộc lãnh vực tâm lý xã hội, môi trường hay sự kết hợp cả hai. Những vấn đề này cản trở TC trong thực hiện mục đích và do đó ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động tâm lý và xã hội của anh ta. Những vấn đề có thể là những khó khăn về đời sống như sự thiếu ăn, thiếu tình thương, ở nhà hay bỏ trốn, giữ hay cho đi đứa con ngoại hôn, ở lại trong tình trạng thất nghiệp hay ra nước ngoài v.v... Khó khăn của một cá nhân có thể bắt nguồn từ sự thiếu tài nguyên kinh tế hay xã hội, trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng và kinh nghiệm, mâu thuẫn trong mối quan hệ, cảm xúc trước một thử thách nặng, hay các nhân tố tâm lý xã hội liên quan đến bịnh hoạn, khuyết tật, sự không thỏa mãn trong các mối quan hệ, mâu thuẫn với cơ quan, tổ chức. Hoặc cũng có thể là những rối loạn tâm lý, gia đình không thích nghi hay nhóm trục trặc.

Bất cứ khó khăn nào trong số này cũng có thể làm cho cá nhân bị trục trặc trong chức năng của mình.

5. Cơ quan xã hội

Cơ quan là nơi cung cấp các dịch vụ và tài nguyên bên ngoài mà cá nhân hoặc gia đình không có. Đại diện của cơ quan để giúp thân chủ là NVXH. NVXH là người trực tiếp cung cấp dịch vụ phục vụ thân chủ.

Các cơ quan được phân loại như thuộc chính phủ hay ngoài chính phủ tùy nguồn tài trợ. Tổ chức chính phủ được chính quyền tài trợ và các tổ chức ngoài (phi) chánh phủ gây quỹ từ các chiến dịch, hay từ những sự đỡ đầu tài chánh khác. Một số ít là cơ quan bán công vì họ có nhận một phần tài trợ từ chính phủ mặc dù nguồn chính là từ bên ngoài.

Các cơ quan cũng có thể được phân loại theo sự chủ quản. Cơ quan chỉnh phủ được phép hoạt động từ chính phủ, phần lớn trên cơ sở luật lệ. Cơ quan tư nhân được cấp quyền hạn từ một nhóm công dân có quan tâm hay một cộng đồng hoặc lãnh vực tư nhân.

Cũng có thể phân loại theo chức năng. Bộ xã hội là một cơ quan đa năng với nhiều loại thân chủ như trẻ em và thanh niên, gia đình và phụ nữ thiệt thòi, người tật nguyền, nạn nhân của thiên tài hay tai họa do con người. Cũng có cơ quan với một chức năng duy nhất, chỉ nhằm vào một loại đối tượng. Phần lớn các tổ chức phi chính phủ thuộc loại này. Một số chỉ chăm sóc tập trung, số khác chỉ hỗ trợ về giáo dục hoặc giúp đào tạo kỹ năng hay lo về tín dụng trợ vốn để cải thiện đời sống.

Có những cơ quan mà mục đích chủ yếu là CTXH và những cơ quan có mục đích khác nhưng có tuyển dụng NVXH như lãnh vực giáo dục, sức khỏe nhà ở, tòa án v.v... ở đây CTXH hỗ trợ, bổ sung cho chức năng chuyên biệt.

6. Tiến trình CTXH cá nhân

CTXHCN là phương pháp giúp đỡ cá nhân có vấn đề về chức năng tâm lý xã hội. Nó đi sâu vào tiến trình giải quyết vấn đề gồm 7 bước. Đó là xác định vấn đề, thu thập dữ kiện, thẩm định chẩn đoán, kế hoạch trị liệu, thực hiện kế hoạch , lượng giá, tiếp tục hay chấm dứt. Đây là những bước chuyển tiếp

theo thứ tự logich, nhưng trong quá trình giúp đỡ, có những bước kéo dài suốt quá trình như thâu thập dữ kiện, thẩm định và lượng giá.

Các bước này được két hợp nhau thành 3 giai đoạn. Giai đoạn nghiên cứu gồm xác định vấn đề và thu thập dữ kiện; giai đoạn 2 gồm: thẩm định chẩn đoán và kế hoạch trị liệu; cuối cùng giai đoạn 3 gồm: thực thi kế hoạch, lượng giá, tiếp tục hay chấm dứt.

Xác định vấn đề:

CTXHCN bắt đầu với việc xác định vấn đề do thân chủ trình bày. Đó là vấn đề đã gây ra cho anh ta nhiều khó khăn và sự mất cân bằng trong chức năng tâm lý xã hội. Bước này diễn ra ở giai đoạn “đăng ký”, nghĩa là khi TC tự mình hay được giúp đỡ để chính thức yêu cầu một sự giúp đỡ của cơ quan.

Thu thập dữ kiện:

Trước tiên NVXH tìm hiểu hoàn cảnh của TC thông qua sự trình bày của anh ta. Sau khi xác định tính chất của vấn đề NVXH tìm hiểu sâu hơn nữa tại sao nó xảy ra.

NVXH có thể dựa vào 4 nguồn tin:

–         Chính thân chủ là nguồn tin trực tiếp.

–         Những người có quan hệ như các thành viên trong gia đình, bác sĩ, giáo viên, người chủ cơ quan của anh ta v.v...

–         Tài liệu, biên bản liên quan đến vấn đề.

–         Các trắc nghiệm tâm lý, thẩm định về tâm thần học để xác định mức độ của chức năng xã hội của anh ta.

Mục đích của cuộc thu thập dữ kiện này là để giúp NVXH thử làm một chẩn đoán về cá nhân trong tình huống và trên cơ sở đó lên một kế hoạch trị liệu.

Chẩn đoán:

Gồm 3 bước: chẩn đoán, phân tích, thẩm định. Chẩn đoán là xác định xem có trục trặc ở chỗ nào, tính chất của vấn đề là gì, trên cơ sở các dữ kiện thu thập được. Phân tích là động tác chỉ ra các nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến hay đóng góp vào khó khăn. Thẩm định là thử xem có thể loại bỏ hay giảm bớt khó khăn trên cơ sở động cơ và năng lực của thân chủ để tham gia giải quyết vấn đề, tạo mối quan hệ và sử dụng sự giúp đỡ. Sự thẩm định này mang tính chất tâm lý xã hội vì đây là trọng tâm của CTXH.

Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan trong đó, NVXH làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây mới là tạm bợ.

Kế hoạch trị liệu:

Ơ đây NVXH xác định loại hỗ trợ sẽ cung ứng cho TC, cách can thiệp mà anh, chị ta cho rằng tốt nhất cho TC. Giai đoạn này gồm việc xác định mục đích trị liệu và các mục tiêu cụ thể để đạt được mục đích. Càng nhiều càng tốt đây là một sự chung sức của NVXH và thân chủ vì chính anh ta là người phải tạo ra những thay đổi cần thiết với sự hỗ trợ của NVXH. sự chọn lựa mục đích cuối cùng phụ thuộc vào:

–         Điều thân chủ mong muốn.

–         Điều mà NVXH cho là cần thiết khả thi.

–         Và các yếu tố liên hệ như có hay không có các dịch vụ, tài nguyên cần thiết.

Từ gốc độ của NVXH có 3 yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách trị liệu: tính chất của vấn đề, các tài nguyên cần thiết và có được và động và năng lực của thân chỉ. Các nhân tố khác có thể ảnh hưởng đến việc chọn lựa mục đích và mục tiêu là các giá trị của thân chủ, cách anh ta đánh giá vấn đề và hệ lụy của nó. Các mục tiêu cụ thể là những đáp ứng cho các nguyên nhân và nhân tốc đã liên kết đã tạo ra tình huống có vấn đề.

Trị liệu:

Đó là tổng hợp các hoạt động và dịch vụ nhằm vào việc giúp đỡ cá nhân có vấn đề. Đó là giải tỏa hay giải quyết một số vấn đề trước mặt và điều chỉnh những khó khăn với sự công nhận và tham gia của thân chủ. Có khi mục tiêu chỉ là giữ không cho tình huống trở nên xấu hơn, giữ vững hiện trạng, giữ mức độ hoạt động tâm lý xã hội của TC thông qua các hỗ trợ vật chất và tâm lý. Một cách đặc thù mục tiêu của trị liệu gồm:

a/  Thay đổi hay cải thiện hoàn cảnh của TC bằng cách đưa vào các tài nguyên như giúp đỡ tài chính;

–          Và / hoặc thay đổi môi trường như gởi đứa trẻ nơi khác hoặc cải thiện các mối quan hệ gia đình.

b/ Giúp cá nhân thay đổi thái độ, hành vi trong hoàn cảnh trước mặt.

c/ Thực hiện cả 2 cùng lúc.

Làm như thế NVXH có thể sử dụng một cách tiếp cận hay liên kết 3 cách.

–          Cung cấp một dịch vụ cụ thể.

–          Cải tạo môi trường và trị liệu trực tiếp mà ngày nay người ta gọi là tham vấn. Tham vấn cá thể dược sử dụng một mình nó như một cách trị liệu hay kết hợp với một cách tiếp cận khác.

Tham vấn (TV) là một loạt vấn đàm mà NVXH thực hiện với TC. Mục đích của TV là củng cố các thái độ có lợi cho sự gìn giữ cân bằng về tình cảm, cho các quyết định xây dựng, cho sự tăng trưởng và đổi mới. TV nhằm vào hoàn cảnh trước mắt cần được giải quyết. Mục đích của nó là vận động sự tham gia ý thức của thân chủ trong việc xưœ lý các vấn đề xã hội và sự thích nghi xã hội.

Công cụ của trị liệu là mối quan hệ NVXH. TC, vấn đàm, triển khai các tài nguyên xã hội, vật chất, áp dụng chính sách và tài nguyên của cơ quan xã hội và nối kết với các tài nguyên của cơ quan và cộng đồng khác.

Khả năng đáp ứng của TC đối với tiến trình trị liệu sẽ phụ thuộc vào tâm - thể trạng của anh ta, nhân cách đã hấp thụ một nền văn hóa đặc biệt của anh ta, sự tự ý thức về bản thân của anh ta và các tài nguyên và cơ hội anh ta có thể có.

Càng nhiều càng tốt trị liệu phải hướng vào và dựa trên gia đình. Vấn đề nên được xem như vấn đề của gia đình khi thấy phù hợp. Vào thành viên trong gia đình có thể là nhân tố đóng góp vào vấn đề hay ngược lại có người có những khả năng mà NVXH có thể huy động để giải quyết vấn đề. Các cuộc vấn đàm có thể nhằm vào lứa đôi hay gia đình như một phần của trị liệu.

Lượng giá:

Là động tác nhằm xác định xem sự can thiệp của NVXH hay trị liệu có đem lại kết quả mong muốn không. Lượng giá được thực hiện thỉnh thưởng trong quá trình trị liệu để giúp TC tự mình xem cuộc trị liệu có giúp gì cho anh ta không. Kết quả lượng giá sẽ nêu lên nhu cầu sửa đổi hay thích nghi. Lượng giá cũng giúp NVXH xác định xem mục đích mục tiêu đề ra đạt được đến mức nào để điều chỉnh trị liệu.

Chỉ có thể lượng giá tốt khi các mục tiêu được xác định rõ ràng và có thể đo đạt trên cơ sở thông tin đầy đuœ. Ngoài ra, NVXH, TC và những người cùng giúp đỡ khác (ví dụ như bác sĩ, nhà tâm lý) phải cùng tham gia việc lượng giá khi cần thiết.

Tiếp tục hay chấm dứt:

Nên tiếp tục trị liệu khi các cuộc lượng giá định kỳ cho thấy có sự tiến bộ hay thay đổi nào đó. Nếu không có gì thay đổi hay thay đổi chậm có thể nên thay đổi phương pháp; nếu có những thông tin mới hay NVXH có những suy nghĩ mới, thì nên bổ sung các phương thức trị liệu.

Kết thúc là chấm dứt mối quan hệ NVXH - TC và xếp hồ sơ. Người ta chấm dứt khi dịch vụ của cơ quan đã hoàn tất, mục đích đạt được, hoặc TC được chuyển đến một cơ quan khác và sự hiện diện của NVXH không còn cần thiết. TC có thể muốn chấm dứt hay NVXH nghĩ rằng tiếp tục cũng không đạt được thêm kết quả nào.

Có những trường hợp can thiệp trong cơn khủng khoảng thì không cần kéo dài thời gian. Trường hợp có liên quan đến vấn đề tâm lý xã hội thì cần nhiều thời gian hơn.

7. Mối quan hệ NVXH thân chủ

Mối quan hệ NVXH - TC hay quan hệ giúp đỡ là công cụ chủ yếu của CTXHCN vì đó là nhịp cầu thông qua đó sự giúp đỡ được đưa tới cho TC. Mối quan hệ này phải bao phần đặc điểm thân tình, ấm cúng, và mối liên hệ nghề nghiệp phần gưœi có thể khơi dậy nơi thân chủ động cơ để thay đổi. TC phải tin vào sự trung thực, năng lực, và sự vô tư của NVXH; TC tin tưởng rằng NVXH là một người thật sự quan tâm đến sự an sinh của anh ta.

Khi sử dụng mối quan hệ như một công cụ, NVXH phải tuân theo của nguyên tắc cơ quản. Đó là sự chấp nhận, thái độ không phê phán, cá biệt hóa, giúp TC bộc lộ cảm xúc của mình một cách có mục đích, NVXH kiểm soát cảm xúc của chính mình, giữ bí mật, và công nhận quyền tự quyết của TC (chi tiết đã được trình bày ở chương I).

Mối quan hệ NVXH - TC được chia thành 3 giai đoạn: bắt đầu, giữ chừng, chám dứt. Giai đoạn đầu là giai đoạn trắc nghiệm. Khi TC thử xem NVXH có giúp anh ta được không và NVXH xem mình có thể giúp gì. Họ bắt đầu có sự tiếp xúc với nhau. ở giai đoạn giữa, giai đoạn trị liệu, hai người cùng nhau làm việc như một ê-kíp. ở giai đoạn kết thúc mục đích và mục tiêu trị liệu đã đạt được và trường hợp dừng ở đây.

8. Gia đình của thân chủ

Cách tiếp cận bao gồm cả gia đình rất cần thiết vì nhiều vấn đề bắt nguồn từ gia đình và gia đình cũng có thể giúp đỡ TC. Bắt đầu với TC, sớm muộn gì tiến trình cũng nới rộng tới gia đình.

Cuộc tìm hiểu đầy đủ về TC phải bao gồm thông tin về gia đình anh ta, chân dung gia đình, hoàn cảnh kinh tế, sức khỏe và hành vi sức khỏe, sự căm sóc và giáo dục trẻ em, các mối quan hệ trong gia đình, hành vi và sự thích nghi của từng thành viên, sự tham gia của gia đình vào các hoạt động chính thức và phi chính thức trong khu xin và cách gia đình sử dụng tài nguyên cộng đồng.

Từ các dữ kiện trên NVXH thử đánh giá về năng lực của gia đình để liên hệ với người dân và các tổ chức xung quanh họ, các mặt mạnh mặt yếu của gia đình, và các yếu tố về nhân cách khả dĩ hỗ trợ hay giới hạn chức năng xã hội của gia đình. Trong quá trình làm việc, NVXH nên gặp từng cá nhân và gia đình cùng một lúc để xác định xem mâu thuẫn ở chỗ nào, và khám phá những mặt mạnh của gia đình để vận dụng mà giải quyết vấn đề. Phỏng vốn cả cặp vợ chồn một lượt sẽ đưa tới một kế hoạch tốt để giải quyết vấn đề. Phỏng vấn nhóm cũng có thể được sử dụng như là một phương pháp chữa trị trong gia đình trị liệu; phương pháp này cũng được gọi là tham vấn gia đình. Phỏng vấn nhóm có thể cải thiện các mối quan hệ gia đình, đời sống gia đình và hành vi cá nhân. Nó cũng giúp thân thuœ học cách nói chuyện, cùng nhau lên kế hoạch và hành động thay vì hành động theo xu hướng cá nhân riêng lẻ. Khi tiếp cận với các vấn đề gia đình, phỏng vấn nhóm là phương tiện trị liệu gia đình tốt nhất.

9. Kết luận

Giúp đỡ cá nhân và gia đình không chỉ đơn thuần là hỗ trợ vật chất hay tài nguyên xã hội nhưng quan trọng hơn đó là giúp họ tự mình giải quyết vấn đề. Nhằm mục đích này NVXH phải thực hiện một loạt công việc đòi hoœi kiến thức khoa học về con người và môi trường xã hội trong đó họ sống và các phương pháp can thiệp của CTXH.

Kiến thức, thái độ, kỹ năng cần thiết để thực hiện CTXHCN có hiệu quả cũng áp dụng cho CTXH nhóm cộng đồng. NVXH cũng sẽ áp dụng các bước đi của tiến trình giải quyết vấn đề cho cả 3 phương pháp khi làm với nhóm và cộng đồng NVXH cũng có thể vận dụng các kỹ năng CTXH cá nhân để làm việc với các thành viên. Cho dù là các loại thân chủ có khác nhau mục đích chung là giúp cải thiện chức năng hoạt động tâm lý xã hội của thân chủ.

Phát triển kỹ năng giúp đỡ (Tư Vấn Tâm Lý)              M. Howe (1980)

Đầu tiên là Carl Rogers và sau đó nhiều người khác kết luận rằng điều tốt nhất phải làm để giúp một người khác, khi họ có một vấn đề là tạo điều kiện cho người kia khám phá ra vấn đề và một cách chung hơn, tăng trưởng về nhân cách. Các tác giaœ nghĩ rằng cốt lõi của sự việc là mối quan hệ giữa nhà tư vấn và thân chủ, người giúp đỡ và người được giúp đỡ, và một số thái độ từ phía nhà tư vấn mà thân chủ nhận ra được. Rogers và các đồng nghiệp của ông qua kinh nghiệm lâm sàng và nghiên cứu khẳng định rằng các đức tính ấy là:

–         Sự trung trực (congruence - nhà tư vấn thật là mình, chân thật, một con người thật trong mối quan hệ).

–         Một cái nhìn tích cực vô điều kiện (tôn trọng thân chủ như một người có phẩm giá).

- Sự thấu cảm (empathy - có khả năng chia sẻ được kinh nghiệm từng lúc của thân chủ; cảm nhận kinh nghiệm ấy như của chính mình, và truyền đạt sự cảm nhận ấy cho thân chủ).

Nếu thân chủ cảm nhận được những thái độ này nơi nhà tư vấn thì kết quả của mối tương tác giữa họ sẽ tích cực. Robert Carkhuff đào sâu vấn đề thêm. Ông cho rằng những đặc điểm này không chỉ có ở những nhà tư vấn chuyên nghiệp mà ít nhiều người thường cũng có thể có những đặc điểm này và những kỹ năng liên quan có thể học được. Ông ta đã hoàn thiện thêm một bước các khái niệm cơ bản, và đã thiết lập các định chuẩn đo lường các khía cạnh khác nhau của cac mối quan hệ giữa người và người. Ông ta cũng chứng minh rằng các kỹ năng này có thể dạy được trong các khóa huân luyện.

Một điều quan trọng trong công cuộc nghiên cứu của ông là sự chứng minh rằng những kỹ năng này không liên quan đến trình độ học vấn chung hay chuyên môn về tâm lý. Nhiều người như giáo viên, viên chức phụ trách nhân sự, hàng giáo phẩm, nhà vật lý trị liệu, cảnh sát, nhân viên xã hội v.v... cần kỹ năng lắng nghe, tiếp xúc... đáp ứng với người khác và mỗi người đều có tiềm năng học tập các kỹ năng này.

Mô hình của Carkhuff khá ý nghĩa. Theo ông, trước tiên một người tìm đến sự giúp đỡ thường bối rối và không thấy rõ các thành tố của tình huống có vấn đề. Điều rõ ràng nhất là cảm xúc của họ - sự lo âu, sự suy sụp, buồn rầu, thần kinh căng thẳng, kích động. Điều phải làm là giúp họ làm sáng tỏ cái mớ bòng bong này.

Như thế tự tìm hiểu mình (self - exploration - thăm dò, khám phá) là mục tiêu đầu tiên của tư vấn.

Từ đó bắt đầu phần nào sự hiểu biết chính mình. Thân chủ bắt đầu thấy mình đã làm gì với chính mình, đang cho phép người khác làm gì với mình, cảm xúc của anh ta có liên quan tới ai, biến cố nào, anh ta có thể có hành động nào để thay đổi tình huống. Hiểu rõ chính mình là mục tiêu thứ hai của giúp đỡ (tư vấn).

Càng hiểu mình dẫn tới phân biệt các chiến lược hành động khác nhau và hiệu quả của chúng. Những chiến lược này có thể được thử nghiệm, và kết quả được cảm nghiệm, đánh giá. Hành động xây dựng là mục tiêu thứ ba và điều này có thể tạo ra những kinh nghiệm dẫn đến sự tự tìm hiểu xa hơn. Điều này có thể dẫn tới những cái khám phá mới meœ về bản thân và những chương trình hành động được hoàn thiện thêm, v.v...

Mô hình này khá hữu ích để áp dụng trong mối tương tác giữa người giúp đỡ và người được giúp đỡ, giữa thầy và trò, giữa nhà tư vấn và thân chủ hay ngay cả giữa viên chức phụ trách nhân sự và người xin việc làm...

Có những kỹ năng hay hành vi của nhà tư vấn có thể hỗ trợ quá trình mô taœ trên đây.

Trước tiên nhà tư vấn phải sẵn sàng (available - thái độ tiếp đón), tỏ ra quan tâm, để thân chủ muốn chia sẻ nỗi bận tâm của mình. Sự thổ lộ, chia sẻ đối với thân chủ thường được xem như một nguy cơ, và có thể làm cho anh thất vọng, cụt hứng. Anh ta tự hoœi, có phải đây là người mình có thể gởi gấm tâm tình không? Ông (bà) ta có thật sự quan tâm không? Ông (bà) ta có tôn trọng những điều tôi gởi gắm không? Mình có tin tưởng vào ông (bà) ta được không? Đó là những tư tưởng laœng vaœng trong đầu thân chủ khi anh ta thử đánh giá người sẽ giúp mình. Nhưng nếu có được sự tin tưởng ban đầu, anh ta cũng chỉ thổ lỗ chút ít thôi. Nói chung mới có sự thử nước trước khi lao vào thật sự.

Người biết giúp đỡ lắng nghe và đáp ứng một cách nào đó chứng tỏ rằng họ đã thừa nhận cảm xúc của thân chủ. Cách nhà tư vấn đặt câu hỏi tạo điều kiện cho thân chủ đóng vai chủ động và nói được những điều anh ta muốn nói. Nhà tư vấn giúp triển khai và sáng tỏ những nhận thức và cảm nghĩ của anh ta. Nhà tư vấn chấp nhận, không phê phán và biết “tránh ra” khi người kia đang thăm dò, khai phá về chính bản thân họ.

Khi các mối quan hệ được xác lập và tiến trình giúp đỡ tiếp diễn, các kỹ năng và hành vi khác được cần đến. Sự thấu cảm cần được sâu sắc hơn và biểu lộ đầy đuœ. Thỉnh tkhoảng nhà tư vấn nắm bắt một chủ đề, chỉ ra vài vấn đề bị tránh né hay chưa ăn khớp trong những điều thân chủ trình bày. Bắt đầu có sự gần gũi hơn, nhà tư vấn cũng có thể đưa ra một số kinh nghiệm hay phaœn ứng của chính mình. Từ thể thụ động, tiếp nhận, nhà tư vấn có thể bắt đầu đóng một vai trò chủ động hơn để kích thích và khuyến khích thân chủ hướng về một hành động xây dựng.

Còn người giúp đỡ hay nhà tư vấn thì sao? Mở đầu tôi có nhắc đến sự trung thực trong mối quan hệ. Về vấn đề này các buổi huấn luyện nhằm giúp nhà tư vấn hiểu chính mình hơn, ý thức về mình hơn. Trong các khóa huấn luyện này nhà tư vấn cũng khám phá, hiểu chính mình và hành động.

Rất cần ý thức về bản thân nếu ta muốn phân biệt được giữa ý nghĩ, cảm xúc của riêng ta và của thân chủ. Phần lớn chúng ta có xu hướng áp đặt ý nghĩ của chúng ta cho người khác, muốn họ nói những điều chúng ta muốn nghe.

Là những người giúp đỡ chúng ta phải tránh điều này và phân biệt rõ rệt giữa cảm xúc, bận tâm của ta và của người mình muốn giúp.

Dưới đây là mô hình trình bày quá trình tư vấn.

NHÀ TƯ VẤN HỮU HIỆU BẮT ĐẦU VỚI

MỐI QUAN HỆ GIÚP ĐỠ BẮT ĐẦU VỚI

THÂN CHủ CỐ GẮNG GIảI QUYẾT VẤN ĐỀ,BẮT ĐẦU VỚI

Thái độ hỗ trợ

Sự trung thực Tôn trọng Thấu cảm chính xác Cụ thể

Tự khám phá

Kỹ năng và thái độ hữu hiệu

Sẵn sàng Tiếp xúc Lắng nghe Đáp ứng với: Những tình cảm thừa nhận Giúp người kia Triển khai và làm sáng tỏ

Tự hiểu mình

Ý thức về mình

Lắng nghe những * Chủ đề lập đi lập lại * Điều gì đó không nói ra hay không ăn khớp * Gần gũi * tự cởi mở * Đối đầu

Hành động xây dựng

* Kích thích và khuyến khích

* Hành động tích cực * Giải quyết vấn đề * Trang bị thêm kỹ năng

(MÔ HÌNH CARKHUFF)

TÀI LIỆU THAM KHảO

Những vấn đề cần tìm hiểu để chẩn đoán

1. Nội dung vấn đề do thân chủ trình bày.

2. Các chi tiết về thân chủ và tất cả các thành viên trong gia đình: Tên, giới tính, tuổi....

3. Chân dung gia đình

3.1. Nhà cưœa, đồ đạc, hàng xóm

3.2. Tổ chức sắp xếp trong nhà

4. Tình trạng kinh tế

4.1. Nguồn và số thu nhập

4.2. Công việc làm

4.3. Tiền bạc được sử dụng như thế nào.

5. Hành vi sức khỏe

5.1. Các vấn đề sức khỏe (có ai bị bịnh gỉ, ốm, suy dinh dưỡng...)

5.2. Thói quen về sức khỏe (họ đi bịnh viện hay thầy cúng, gia đình giải quyết vấn đề sức khỏe của mình như thế nào).

6. Chăm sóc và giáo dục trẻ em

6.1. Chăm sóc

6.2. Phương pháp tập luyện

6.3. Giáo dục

7. Các mối quan hệ trong gia đình

7.1. Quan hệ vợ chồng

7.2. Quan hệ cha mẹ - con cái

7.3. Quan hệ anh em

7.4. Sự đoàn kết và liên đới của gia đình

8. Hành vi của cá nhân và sự thích nghi

Mô taœ đại nét về từng người

9. Các vấn đề khác

9.1. Tham gia vào các tổ chức, nhóm, chính thức và phi chính thức (tổ dân phố, hợp tác xã, nhóm bạn v.v...).

9.2. Việc sử dụng tài nguyên cộng đồng: trường học, nhà thờ, bịnh xá, tổ chức vui chơi giải trí v.v...

Từ những dữ kiện trên NVXH sẽ thẩm định xem:

1. Khả năng của gia đình để giao dịch với những người và tổ chức xung quanh họ.

2. Điểm mạnh và điểm yếu của chức năng hoạt động của gia đình.

3. Các yếu tố nhân cách có thể phát huy hay hạn chế chức năng của gia đình.

Trích dịch từ L.S - De Guzman, Working with Individuals. The Social Case Work Process, tr. 179 - 180.

Vấn đàm gia đình

Công cụ chính yếu của CTXHCN là vấn đàm. Nó phục vụ việc thu thập dữ kiện, chẩn đoán và trị liệu. Tiến trình CTXHCN thường bắt đầu với những cuộc vấn đàm, đầu tiên với cá nhân gặp khó khăn, kế đó là với các thành viên trong gia đình từng người riêng lẻ và cả gia đình một lượt để phát hiện nơi xuất phát mâu thuẫn, đồng thời những thuận lợi có thể huy động hầu giải quyết vấn đề. Các thành viên trong gia đình có những quyền lợi chung, họ trung thành với nhau nhưng đang thực hiện các vai trò khác nhau, tuổi tác khác nhau và có những nhu cầu khác nhau. Với trẻ em, nói chuyện thân mật giúp NVXH hiểu vấn đề tốt hơn là một cuộc vấn đàm bài bản.

Cần vấn đàm cả cập vợ chồng hay cha mẹ càng sớm càng tốt. Mặc dù quan tâm đến toàn gia đình NVXH cần giúp họ cùng thấy trách nhiệm chung để cải thiện điều kiện và nếp sống gia đình.

Vấn đàm cha mẹ ngay sẽ giúp chẩn đoán tốt. Gặp họ một lượt sẽ giúp NVXH thấy được mối quan hệ giữa họ và khả năng cùng hành động của họ. Một loạt vấn đàm chung sẽ giúp hiểu sâu về tính chất của mối quan hệ giữa họ mà các cuộc vấn đàm riêng rẽ không cho thấy được. Các cuộc vấn đàm chung có hể dẫn đến một kế hoạch tốt để giải quyết vấn đề. Việc này nói thì dễ chớ làm thì khó. Các thành viên gia đình có thể có những ý kiến trái ngược nhau hay họ không chịu nói thẳng với NVXH. Nếu cuộc vấn đàm chung bế tắc, NVXH phải tháo gở bằng những cuộc tiếp xúc riêng để các cá nhân chịu điều chỉnh phần nào lối suy nghĩ của mình. Sau đó mới tiếp tục các cuộc vấn đàm chung.

Các cuộc vấn đàm cần được chuẩn bị trước. Trước khi bắt đầu NVXH phải xác định mục đích và các mục tiêu muốn đạt tới cho từng cuộc vấn đề để chuẩn bị các câu hoœi hướng dẫn. NVXH phải được trang bị kỹ năng để chuẩn bị và thực hiện cuộc vấn đàm. NVXH cũng phải có khả năng giao tiếp với nhóm, cho dù đó có thể là một nhóm chỉ có 2 người là cặp vợ chồng để thao luận về các vấn đề chung của họ. Nếu không dù trước mặt 2 người NVXH có thể trên thực tế chỉ thực hiện vấn đàm cá nhân, điều này làm ngưng trệ sự tương tác giữa họ và hành động chung để giải quyết vấn đề.

Đáp ứng nhu cầu bức bách trước mắt và tìm hiểu gia đình phải được thực hiện cùng một lúc.

Vấn đàm nhóm như một công cụ trị liệu:

Khi vấn đàm nhóm được sử dụng như một công cụ trị liệu, thi NVXH có thể tham khảo các hướng dẫn sau đây:

1. Ngay từ đầu tính toán để tiếp tục làm việc với cả hai người trên cơ sở bình đẳng.

2. Trường hợp có mâu thuẫn vợ chồng, giúp họ bộc lộ với nhau những xúc cảm thật của họ xung quanh những vấn đề trong hôn nhân. Đó cũng là cách giúp họ xưœ lý các mâu thuẫn.

3. Cùng với cả hai xem xét cách tốt nhất để đáp ứng nhu cầu của gia đình xuất phát từ một tình huống đặc biệt ví dụ như việc người cha không đi làm được vì đau ốm.

Vấn đề nhóm giúp cải thiện mối quan hệ vợ chồng, đời sống gia đình và hành vi cá nhân. Vấn đàm nhóm giúp các thân chủ học trao đổi, lên kế hoạch, và hành động chung như một gia đình thay vì theo xu hướng vá nhân.

Hướng dẫn về cách vấn đàm:

1. Cả hai loại vấn đàm cá nhân và nhóm đều cần thiết để làm việc với các gia đình.

2. Cả hai người (cha mẹ) cần được gặp chung ngay từ đầu để họ hiểu rằng NVXH muốn làm việc với cả hai để giải thích cơ sở của mối quan tâm chung và những dịch vụ có thể cung ứng.

3. Khó có thể chẩn đoán tình trạng gia đình mà không quan sát sự tương tác của các thành viên thông qua vấn đàm nhóm.

4. Vấn đàm nhóm (với cả cặp vợ chồng) chỉ có giá trị trị liệu khi mỗi người thấy được chính mình trong mối quan hệ với vấn đề xảy ra, với cảm xúc của mình và cho rằng họ có thể hợp tác với người kia để tìm giải pháp cho vấn đề.

5. Không nên vấn đàm nhóm khi thân chủ muốn kéo NVXH về phe mình hoặc bắt làm trọng tài.

6. Phỏng vấn cá nhân có thể có ích hơn khi 2 người không chia sẻ quan điểm chung và để chuẩn bị từng người hầu ở những buổi làm việc chung sau đó các vấn đề tế nhị có thể được nêu lên.

7. Mọi kế hoạch vấn đàm chung hay riêng đều phải có sự thỏa thuận của các đương sự.

8. Vấn đàm chung giữa cha mẹ và con cái nên được thực hiện khi vấn đề là mối quan tâm chung của đôi bên.

Dĩ nhiên nguyên tắc cuối cùng cần được áp dụng linh động tùy theo nền văn hóa của gia đình. ở nhiều nơi trẻ con, hay cả thanh thiếu niên không dám phát biểu trước mặt cha mẹ. Trong những trường hợp tương tự NVXH nên quan tâm đến tính chất của mối quan hệ tương tác giữa cha mẹ và con cái trong phần chẩn đoán của mình.

(Trích dịch từ L.S. De Guzman. Working with Individuals. The Case Work Process, tr. 80 - 183).

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT