Chia sẻ Download
Tài liệu Cảm nhận về bài thơ Tràng giang của huy Cận
/6 trang
Thành viên docx2012

Cảm nhận về bài thơ Tràng giang của huy Cận

- 12 tháng trước
2,980
Báo lỗi

Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định
tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán Hương
Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng tám, thơ
ông mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với
các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Nhưng sau
Cách mạng tháng tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ
cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày
lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời"... Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân
thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ
"Tràng Giang". Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận
trước Cách mạng tháng tám.

Nội dung
Microsoft Word - on van 2012 _21_.doc

Cảm nhận về bài thơ Tràng giang của huy Cận

Cảm nhận về bài thơ "tràng giang" của Huy Cận

Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định

tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán Hương

Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng tám, thơ

ông mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với

các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Nhưng sau

Cách mạng tháng tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ

cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày

lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời"... Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân

thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ

"Tràng Giang". Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận

trước Cách mạng tháng tám.

Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam

bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám

cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài

như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự

thích thú, yêu mến cho người đọc.

Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài

Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp

....

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ.

"Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm "anh" đi

liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng

mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển

trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng

sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng.

Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau

cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của

mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao

cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người

cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác

phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại.

Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ

đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài". Trước cảnh "trời rộng",

"sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên

tình cảm "bâng khuâng" và nhớ. Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa,

nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng. Và

con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ

cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc.

Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu

não như thế:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Hai

từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ

kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi

liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ

cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp",

nước "song song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi. Trong cảnh có

sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên,

một dòng "tràng giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào.

Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp

trong lòng

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền.

Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuyền về nước

lại", nghe sao đầy xót xa.

Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trăm ngả". Từ chỉ số nhiều

"trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn.

Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi

một càng khô lạc mấy dòng". Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với

các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. "Một" gợi

lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi

sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh

mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao

đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi.

Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về

một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người

đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ

mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ.

Đó là ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc

của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi,

lạc lõng.

Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh

lẽo:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ

đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi

sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu", một khung cảnh lạnh

lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâu tiếng

làng xa vãn chợ chiều". Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó",

âm thanh xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát,

mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người.

Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề

có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên.

Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:

"Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."

"Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự

chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. "sâu chót vót" là cảnh diễn

đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà

thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ

trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông

dài, trời rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao:

"bến cô liêu".

Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi

như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ

chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa.

Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen

thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn. Nhưng

thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu

hiu.

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

, Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Khôngcần gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ

điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời.

Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối

hàng". Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ

đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh

tiếp bãi vàng" như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối

tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con

người, không có sự giao hoà, nối kết:

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật.

Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. "...không...không" để phủ định hoàn toàn những

kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân

mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên

mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con

người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào.

Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc

tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình

ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi

nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có

nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét

thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc.

Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau.

Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh

nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè

nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi

được thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hình

tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển.

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT