Chia sẻ 75,000 VNĐ
Tài liệu này có phí 75,000 VNĐ

bạn cần mua tài liệu để được xem đầy đủ nội dung

Hệ thống đang nâng cấp. Tài liệu này chưa thể xem online
Thành viên manhtien219

Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

- 9 tháng trước
384
Báo lỗi
Chương I: Tổng quan về các công cụ của chính sáchKho Sách Trực Tuyến Ngoại thươngLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Ngoại Thương
Chương II: Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách
Ngoại thương của Nhật Bản.
Chương III: Bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện chính sách phát
triển ngoại thương Việt NamThư Viện Điện Tử Trực Tuyến Việt Nam hiện nay.Trích từ: http://www.kilobooks.com
Nội dung
LỜI NÓI ĐẦU

- - - [ \ - - -

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính

sách Ngoại thương của Nhật Bản

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

1

LỜI NÓI ĐẦU [ \

1.Tính cấp thiết của đề tài :

Ngày nay, trong hoạt động mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của các

quốc gia, hoạt động ngoại thương giữ vị trí vô cùng quan trọng. Một trong những

công cụ quan trọng để đạt được các mục tiêu của chính sách thương mại là dựa

vào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan.

Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dưới sự quản lý

điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách thuế

quan và phi thuế quan ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh

tế, xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đối với một nước mà kinh nghiệm thị trường

còn ít, thì việc học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển , đặc

biệt là kinh nghiệm về chính sách Ngoại thương của Nhật Bản - đất nước được

cho rằng "đã đạt tới sự phát triển thần kỳ" là vô cùng cần thiết.

2. Mục đích nghiên cứu :

- Phân tích ảnh hưởng của chính sách thuế quan và phi thuế quan đối với

ngoại thương của Nhật Bản.

- Từ sự nghiên cứu tìm hiểu thuế quan và phi thuế quan của Nhật Bản rút

ra những bài học từ kinh nghiệm và khả năng áp dụng đối với Việt Nam trong

việc phát triển ngoại thương hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận này chỉ nghiên cứu thuế

nhập khẩu, các biện pháp phi thuế quan quản lý nhập khẩu của Nhật Bản những

năm gần đây, từ đó rút ra bài học trong việc vận dụng đối với Ngoại thương ở

Việt Nam.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

2

4.Kết cấu khóa luận :

Ngoài Lời nói đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương như sau : Chương I: Tổng quan về các công cụ của chính sách Ngoại thương

Chương II: Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách

Ngoại thương của Nhật Bản.

Chương III: Bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện chính sách phát

triển ngoại thương Việt Nam hiện nay.

Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp

nghiên cứu như : phương pháp phân tích tổng hợp, duy vật biện chứng & duy vật

lịch sử, phương pháp thống kê số liệu, so sánh đối chiếu ...

Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô trong Khoa

Kinh tế Ngoại thương, đặc biệt là Thạc sỹ Nguyễn Quang Minh đã trực tiếp

hướng dẫn, góp ý thực hiện đề tài để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành đúng

thời hạn.

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ CỦA

CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

3

Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Đây là một hệ thống các nguyên tắc và các biện

pháp kinh tế, hành chính, pháp luật thích hợp mà nhà nước áp dụng để đạt được

nhữngmục tiêu xác định trong lĩnh vực ngoại thương. Bản chất của chính sách

ngoại thương thể hiện bản chất của chế độ xã hội và do chế độ xã hội quyết định,

vì vậy nó luôn được điều chỉnh một cách mềm dẻo để phù hợp với từng thời kỳ

phát triển. Mặc dù được điều chỉnh liên tục nhưng chính sách ngoại thương vẫn

phải luôn luôn đảm bảo mục tiêu : tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp

trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăng nhanh qui mô xuất khẩu,

tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới trong khi vẫn bảo vệ được thị

trường nội địa, hạn chế được những cạnh tranh bất lợi từ bên ngoài.

Có rất nhiều hình thức và công cụ trong chính sách ngoại thương nói

chung và mỗi quốc gia sẽ tự chọn lựa cho mình một công cụ phù hợp nhất. Tuy

nhiên, trong các công cụ của chính sách ngoại thương, hầu hết các quốc gia đều

chọn thuế quan và các biện pháp phi thuế quan làm công cụ mũi nhọn. Điều này

chứng tỏ rằng thuế quan và các biện pháp phi thuế quan có những ưu thế mà

những công cụ khác khó có thể so sánh được. Đây chính là đặc điểm mà chúng ta

nên nghiên cứu.

I. CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ

PHÁT TRIỂN KINH TẾ.

1. Khái niệm:

Chính sách ngoại thương là một hệ thống nguyên tắc, biện pháp kinh tế,

hành chính và pháp luật liên quan đến hoạt động ngoại thương mà Nhà nước áp

dụng để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của một đất nước trong một thời kỳ

nhất định. Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành của chính sách

kinh tế nói chung và chính sách kinh tế đối ngoại nói chung của Nhà nước.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

4

Mục tiêu cơ bản của chính sách ngoại thương là hướng tới việc sử dụng và

phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong quá trình phát triển

kinh tế xã hội. Chính sách ngoại thương vùa thể hiện chính tất mở của nền kinh

tế, vừa thể hiện sự phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất, kinh doanh nước

ngoài theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.

2.Nhiệm vụ và vai trò của chính sách ngoại thương.

Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách Ngoại thương là tạo điều kiện thuận lợi

nhất nhất cho các doanh nghiệp mở rộng buôn bán với nước ngoài, cũng như

thông qua đàm phán quốc tế để đạt được mở rộng thị trường hợp pháp cho các

doanh nghiệp. Đồng thời chính sách ngoại thương còn phải góp phần bảo hộ hợp

lý sản xuất nội địa , hạn chế cạnh tranh bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước.

Chính sách ngoại thương bao gồm các bộ phận cấu thành như: chính sách thị

trường, chính sách sản phẩm, chính sách thuế quan, biện pháp cấm đoán, kiểm

soát hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu.

Việc ban hành các chính sách ngoại thương làm giảm bớt sự bất trắc bằng

cách tạo ra một thể chế tương đối ổn định cho công cuộc kinh doanh của doanh

nghiệp, để khi họ muốn lập một công ty, muốn bán một hàng hoá, muốn vay

tiền.... thì hộ biết mình phải làm gì, hoặc có thể học được cách thực thi việc đó.

Doanh nhân phải biết tôn trọng các chính sách của các nước khác, nếu họ muốn

kinh doanh ở nước ngoài. nhưng sự ổn định của các chính sách ngoại thương

không phủ nhận một thực tế là chúng luôn thay đổi. Và sự thay đổi của chính

sách ngoại thương là một qúa trình tất yếu. chính sách ngoại thương tác động đến

chiều hướng phát triển của nền kinh tế, đến công thương nghiệp thông qua ảnh

hưởng của chúng đến các chi phí troa đổi và sản xuất. Vì vậy tác động của chính

sách ngoại thương đến nền kinh tế , dến chính sự phát triển ngoại thương theo

chiều hướng nào phụ thuộc vào chính sách đó có quan tâm đến lợi ích của doanh

nhân và người tiêu dùng hay không. Do đó chính sách ngoại thương phải bắt đầu

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

5

từ lợi ích của các nhà kinh doanh, của giới tiêu dùng. Tuy nhiên các chính sách

ngoại thương sẽ hận chếmột số lựa chọn của nhà sản xuất và tiêu dùng. Đảm bảo

sự hài hoà lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và quốc gia trong hoạt

động ngoại thương là mục tiêu quan trọnh của chính sách ngoại thương. Tuy là

bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế nói chung của nhà nước trong mỗi thời

kỳ nhất định nhưng chính sách ngọai thương có những đặc điểm riêng. Đó là:

+ Việc ban hành chính sách ngoại thương là công việc nội bộ của mỗi quốc

gia, phải xuất phát từ lợi ích nước mình nhưng không được gây tổn hại đến lợi

ích nước khác.

+ Chính sách ngoại thương làm cầu nối liên kết kinh tế trong nước với kinh tế

thế giới, tạo điều kiện cho một quốc gia hội nhập về kinh tế với các nền kinh tế

khu vực và quốc tế theo những bước đi có hiệu quả.

+ Chính sách ngoại thương có nhiệm vụ cân bằng cán cân thanh toán thu chi.

Các hoạt động ngoại thương không chỉ đơn thuần tác động đến sự phát triển vầ

cân đối nền kinh tế quốc dân mà còn có nhiệm vụ đặc thù là cân bằng cán cân

thanh toán quốc tế.

II CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG.

1. THUẾ QUAN

1.1. Khái niệm

Là loại thuế lấy vật phẩm xuất nhập qua biên giới quốc gia hay quá cảnh

làm đối tượng thu thuế, tạo thành khoản thu nhập thuế của nhà nước do hải quan

thực hiện. Một số hiệp định quốc tế đã đưa ra định nghĩa rõ ràng hơn về thuế

quan là “ Thuế thu theo tỷ suất thuế kê rõ trong biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu”.

khái niệm này mmột mặt tách đối tượng nghiên cứu với thuế trong nước, mặt

khác tách biệt thuế quan với các loại thuế khác thu được từ xuất khẩu, nhập khẩu

như thuế chống phá giá, thuế trả đũa... các loại thuế như vậy chuyên thu với hàng

nhập khẩu không gắn với thuế quan.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

6

1.2. Vai trò của thuế quan

Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng để

hoàn thành chức năng của mình. Mục đích đánh thuế của mỗi quốc gia, ở vào các

thời kỳ khác nhau không giống nhau. Trong xã hội phong kiến, thu thuế chủ yếu

là tăng thu nhập tài chính quốc gia. Bước sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa, thuế

quan không chỉ là nguồn thu tài chính mà còn là công cụ thực hiện chính sách

ngoại thương của các nước. Tuy nhiên, trong tất cả các nền kinh tế xã hội, thuế

đều có vai trò như sau:

1.2.1. Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

Trong nguồn thu ngân sách của các quốc gia, thông thường gồm các khoản

thu như : thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách chính phủ. Trong các khoản

thu đó, có thể nói rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu cho ngân sách nhà

nước.

Suốt thời kỳ dài của lịch sử từ sau khi thuế quan ra đời, nhìn chung mục đích

thu thuế là để cho giai cấp thống trị hoặc thu nhập tài chính quốc gia hoặc cung

đình. Sau khi kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, do sự cạnh tranh gay gắt của thị

trường, để bảo vệ sản xuất và phát triển kinh tế của mình, các nước lợi dụng thuế

quan làm phương tiện bảo vệ bảo hộ, từ đó xuất hiện thuế quan bảo hộ nhưng

thuế quan tài chính vẫn là nguồn thu nhập tài chính của quốc gia.

Từ kinh nghiệm của các nước, có hai vấn đề có tính nguyên tắc cần chú ý

trong chính sách thuế quan để có thể tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách là :

+ Đối với nhà nước, thuế suất phải đem đến một năng suất thu tối đa mà lại

không gây cản trở, thậm trí còn kích thích sự phát triển kinh tế xã hội. Thuế

không được triệt tiêu thuế mà trái lại thuế phải nuôi thuế.

+ Đối với người chịu thuế, thuế suất cần phải hạ, làm sao để người chịu thuế

bớt cảm thấy gáng nặng của thuế.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

7

1.2.2. Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân

Khi kinh tế phát triển, chính phủ có thể gia tăng thuế để làm cán cân thu nhập

nghiêng về phía nhà nước, hạn chế thu nhập có thể sử dụng, tăng tích luỹ nhà

nước, tạo ra một nguồn nhất định dự phòng khi kinh tế bị suy thoái hay gặp

những điều kiện bất lợi. Nói cách khác, chính phủ sẽ giảm thuế khi nền kinh tế

đang khó khăn.

Để phù hợp với chính sách của chính phủ trong từng giai đoạn, thuế được sử

dụng như một biện pháp điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất thông qua các mức thuế

suất phân biệt đối với từng sản phẩm, dịch vụ hoặc giữa các ngành sản xuất kinh

doanh khác nhau, có chính sách ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành

hàng.

1.2.3. Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển :

Để bảo hộ sản xuất trong nước, một trong những biện pháp hữu hiệu mà chính

phủ các nước hay sử dụng là đánh thuế cao vào hàng nhập khẩu để làm tăng giá

thành hàng hoá nhập khẩu, dẫn đến giảm mức cạnh tranh với sản phẩm trong

nước. Thuế quan bảo hộ nói chung là bảo hộ cho công nghiệp nội địa còn yếu

kém và hàng hoá mẫn cảm cạnh tranh. Tỷ lệ thuế quan bảo hộ về lý thuyết sẽ

không thấp hơn mức chênh lệch giữa giá trong nước và giá nhập khẩu. Nhưng

trong thực tế thì tỷ lệ thuế cao hay thấp còn phụ thuộc vào tình hình cung cầu

cũng như điều kiện thay đổi cung cầu gây ảnh hưởng đến giá cả hàng nhập khẩu.

1.2.4. Thực hiện phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại :

Có thể nói, thuế quan là biện pháp hay sử dụng để thực hiện phân biệt đối xử

giữa các nước trong quan hệ thương mại. Các nước có thể thực hiện thuế ưu đãi

đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ

quốc hoặc những thoả thuận ưu đãi riêng và áp dụng thuế trả đũa đối với hàng

hoá nhập khẩu từ nước có thực hiện các biện pháp bán phá giá, trợ giá của chính

phủ hoặc từ những nước có sự phân biệt đối xử với hàng hoá của nước mình.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

8

1.2.5. Góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội

trong phân phối:

Trong nền kinh tế tập trung, tình trạng phân cực giàu nghèo là khó có thể

tránh khỏi. Tình trạng này không chỉ nói lên mức sống bị phân biệt mà còn liên

quan đến đạo đức, công bằng xã hội. Vì vậy sự can thiệp, điều tiết của chính phủ

rất quan trọng, trong đó thuế là một công cụ hữu ích. Thông qua thuế, chính phủ

có thể thực hiện điều tiết thu nhập bằng cách đánh thuế cao đối với những công

ty, cá nhân có thu nhập cao và đánh cao vào những hàng hoá dịch vụ cao cấp mà

đối tượng phục vụ chủ yếu là tầng lớp có thu nhập cao và ngược lại.

Có thể nói thuế đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách

ngoại thương của mọi quốc gia. Trong xu hướng đưa hoạt động ngoại thương và

thương mại quốc tế vào môi trường tự do cạnh tranh, các quốc gia đều cố gắng

giảm dần mức thuế quan xuống, tiến tới xoá bỏ các rào cản thương mại. Hiệp

định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã đề xướng tự do thương mại,

huỷ bỏ hoặc cắt giảm các rào cản thương mại. Trong 7 vòng đàm phán (1948-1994)

các thành viên GATT đã đạt được thoả thuận giảm thuế cho 89.900 hạng mục hàng

hoá. Tỷ lệ thuế quan nói chung đã giảm đi nhiều, theo hiệp định Urugoay (kết

quả của vòng đàm phán thứ 8 của GATT), mức thuế quan trung bình giảm 40%.

Khi đó mức thuế nói chung ở các nước công nghiệp phát triển còn khoảng không

quá 5%, trừ hàng dệt và may mặc, mức trung bình khoảng 10-40% chủ yếu là đối

với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Mức thuế quan trung bình ở các

nước Đông Á chỉ còn từ 5-15%, Nam Á 10-60%, Mỹ Latinh, Trung Đông, Châu

Phi 10-25%.

1.3.Phân loại thuế quan:

1.3.1. Phân loại theo mục đích đánh thuế :

- Thuế tài chính (còn gọi là Thuế ngân sách) : là thuế đánh vào hàng hoá

để tăng thu cho ngân sách nhà nước.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

9

- Thuế quan bảo hộ : là mức thuế suất cao đánh vào hàng nhập khẩu, làm

cho giá cả hàng nhập khẩu cao hơn so với giá hàng trong nước và bị suy giảm

sức cạnh tranh, tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước.

1.3.2. Phân loại theo đối tượng chịu thuế :

- Thuế xuất khẩu : chủ yếu đánh vào những mặt hàng mà nhà nước hạn chế

xuất khẩu ra nước ngoài. Những mặt hàng xuất khẩu này sau khi chịu thuế sẽ bị

hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới do những bất lợi về giá cả.

- Thuế nhập khẩu : đánh vào hàng nhập khẩu, thực hiện đồng thời cả hai

chức năng về tài chính và bảo hộ.

- Thuế quá cảnh : là loại thuế đánh vào hàng hoá khi đi qua biên giới hay

lãnh thổ của một quốc gia.

1.3.3. Phân loại theo phương pháp tính thuế :

- Thuế tính theo giá : là loại thuế tính theo tỷ lệ phần trăm so với trị giá của

lô hàng.

- Thuế tính theo lượng : là loại thuế tính ổn định theo số lượng hoặc trọng

lượng của lô hàng.

- Thuế hốn hợp : là loại thuế kết hợp cả tính theo giá và tính theo lượng.

1.3.4. Phân loại theo mức tính thuế :

- Thuế suất ưu đãi : áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ những nước

hay những khu vực hợp tác kinh tế trên cơ sơ ký kết các thoả thuận dành cho

nhau những ưu đãi về thuế quan.

- Mức thuế phổ thông : là mức thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ

những nước hoặc khu vực không có thoả thuận dành cho nhau ưu đãi về thuế

quan.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

10

- Mức thuế tự vệ : là mức thuế do chính phủ quyết định áp dụng trong từng

trường hợp cụ thể. Ví dụ : khi hàng hoá nước ngoài được bán phá giá trong thị

trường nước mình hoặc hàng hoá nhập khẩu từ một nước có chính sách bảo hộ,

trợ giá cho hàng xuất khẩu.

2. CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN

2.1. Khái niệm :

Phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan làm cản trở tự do

thương mại. Trước kia các nước thường hay sử dụng biện pháp phi thuế quan với

mục đích chủ yếu là để bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng hiện nay cùng với xu

thế quốc tế hoá ngày càng mở rộng, biện pháp này dần dần được xoá bỏ và thay

thế bằng các biện pháp thuế quan.

2.2 Vai trò của phi thuế quan :

Phi thuế quan cũng thường được sử dụng với những mục đích tương đối

giống thuế quan. Tuy nhiên, theo thời gian, đi đôi với sự phát triển nhanh chóng

của nền kinh tế là sự phát sinh nhiều vấn đề và vai trò của phi thuế quan đã được

mở rộng, gây ảnh hưởng gián tiếp đến những quan hệ khác. Một trường hợp điển

hình là nó được sử dụng như là một trong những biện pháp hiệu quả để bảo vệ

môi trường - một vấn đề được coi là vấn đề toàn cầu hiện nay. Vấn đề này cũng

ảnh hưởng đến chính sách ngoại thương giữa các nước, đặc biệt là quan hệ giữa

các nước phát triển và các nước đang phát triển, liên quan đến việc chuyển vốn

và công nghệ.

Theo nguyên tắc lợi thế so sánh, ngoại thương sẽ tạo ra lợi nhuận cho cả

nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, nhưng đối với những nguồn tài nguyên thiên

nhiên như nước, không khí, đất đai mà mọi người nghĩ là vô tận thì không thể

phản ánh được chi phí môi trường vì chi phí để bảo vệ, làm sạch hầu như không

thể hiện.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

11

GATT thừa nhận những trường hợp ngoại lệ của việc tự do hoá ngoại

thương như đưa ra những biện pháp qui định để bảo vệ sức khoẻ con người, tài

nguyên thiên nhiên nhưng vấn đề bảo vệ môi trường cũng không được qui định

một cách rõ ràng. Trên thực tế, các nước vẫn đưa ra những biện pháp khác nhau

để bảo vệ môi trường đối với hoạt động ngoại thương, trong đó tích cực sử dụng

các biện pháp phi thuế quan như đặt ra những tiêu chuẩn về vệ sinh đối với mặt

hàng lương thực thực phẩm, tiêu chuẩn về kỹ thuật đối với mặt hàng máy móc

thiết bị ...

2.3. Các biện pháp phi thuế quan.

2.3.1 Hạn ngạch nhập khẩu.

Hạn ngạch nhập khẩu là giới hạn về khối lượng hoặc giá trị đối với những

hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất

định, thường là một năm. Trên thực tế việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó

thực hiện vì thế các hạn ngạch về số lượng được áp dụng một cách phổ biến. Nhà

nước quy định hạn ngạnh nhập khẩu là để bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài

nguyên và cải thiện cán cân thanh. toán.

2.3.2 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER).

Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến tướng của hạn chế nhập khẩu, là

thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác

đối với một mặt hàng xác định với một mức tối đa. Các thoả thuận này tự nguyện

chỉ ở mức độ nước xuất khẩu muốn tránh một mối đe dọa lớn hơn đối với ngoại

thương của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn đối với ngoại thương

của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn.

Nói cách khác, hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của

nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu chấp nhận nhằm ngăn chặn những mối

đe dọa và những hạn chế đối với ngoại thương nước mình.

2.3.3 Giấy phép nhập khẩu.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

12

Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý nhập khẩu của

Nhà nước. Nó đòi hỏi khi nhập khẩu hàng hoá phải có giấy phép của cơ quan

quản lý Nhà nước. Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của

WTO, giấy phép nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ giấy phép

nhập khẩu, yêu cầu các nhà nhập khẩu phải đệ trình đơn hoặc các tài liệu khác

cho cơ quan quản lý hành chính có liên quan như là một số điều kiện để nhập

khẩu.

Giấy phép nhập khẩu có hai loại thường gặp: Giấy phép tự động và giấy

phép không tự động. Với loại giấy phép thứ nhất: Người nhập khẩu xin phép

nhập khẩu thì cấp gay không cần đòi hỏi gì cả. Với loại giấy phép thứ hai:

nmgười nhập khẩu bị ràng buộc bởi các hạn chế nhập khẩu.

Giấy phép nhập khẩu ngày nay ít được sử dụng hơn so với trước. Mặc dù

vậy, hệ thống giấy phép này vẫn cần để quản lý nhập khẩu một số mặt hàng.

2.3.4 Chế độ hạn ngạch thuế

Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ trong đó quy định áp dụng dụng mức thuế

thấp hơn hoặc bằng không (0%) đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo

đúng số lượng quy định, nhằm bảo đảm cung cấp với giá hợp lý cho người tiêu

dùng. Khi hàng hoá nhập khẩu vượt quá số lượng quy định thì sẽ áp dụng mức

thuế cao (thuế lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

Chế độ hạn ngạch nhập khẩu thuế được thiết lập dựa trên quan điểm đảm

bảo hài hoà mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ người sản xuất

nội địa. Vì vậy, Chính phủ thường nghiên cứu kỹ càng việc áp dụng chế độ hạn

ngạch thuế đối với từng mặt hàng trên cơ sở xem xét cung cầu, thực trạng sản

xuất trong nước để đề ra mức thuế olần một, lần hai và thời hạn áp dụng... nhằm

thúc đẩy tự do hoá ngoại thương.

Như vậy chế độ hạn ngạch nhập khẩu, nhà nhập khẩu chỉ được phép nhập

khẩu trong phạm vi số lượng quy định., Còn trong chế độ hạn ngạch thuế, nhà

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

13

nhập khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số lượng quy định nhưng phải nộp thuế

theo mức thuế quy định (mức thuế lần 2) đối với phần vượt đó.

Theo quy định của GATT/ WTO, các nước thành viên không được sử dụng

chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối sử với tùng nước.

2.3.5 Các biện pháp mang tính hành chính – kỹ thuật hạn chế nhập

khẩu.

Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng xuất, nhập

khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Các biện pháp hành chính kỹ thuật rất

phong phú và đa dạng. Tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế, mỗi quốc gia

đưa ra những biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau để kiểm soát hàng hoá

xuất khâủ, nhập khẩu.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

14

CHƯƠNG II CÁC BIỆN PHÁP THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ

QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

Như chúng ta đã biết Nhật Bản là một quần đảo với diện tích là 372.815

km2. Mặc dù diện tích lớn hơn diện tích nước ta (khoảng 15%), song Nhật Bản

lại là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên. Rừng núi chiếm 2/3 diện tích cả

nước, diện tích đất trồng trọt được chỉ chiếm 15%. Khoáng sản và các tài nguyên

thiên nhiên khác hầu như không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua. Đối với các

nguyên liệu cơ bản như đồng, chì, kẽm, nhôm.... Nhật Bản đều phải phụ thuộc

vào nhập khẩu từ nước ngoài. Thêm vào đó lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nền

kinh tế đất nước. Tài nguyên duy nhất của Nhật Bản để phục hồi kinh tế đó là

con người.

Trong điều kiện khó khăn như thế, Nhật Bản đã biết phát huy lợi thế của

mình để mở rộng hoạt động thương mại quốc tế, coi ngoại thương là nhiệm vụ

sống còn của đất nước. Vì vậy, chính sách ngoại thương , cụ thể là chính sách

xuất khẩu và nhập khẩu của Chính phủ trong lĩnh vực ngoại thương hết sức quan

trọng.

Trong chương này chúng ta sẽ lần lượt xem xét nghiên cứu các chính sách

thuế quan và sự phát triển của ngoại thương Nhật bản trong những năm gần đây.

I. CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN

1. Các loại thuế

1.1. Thuế theo giá : Là loại thuế đánh theo tỷ lệ giá hàng hoá nhập khẩu,

do đó số tiền thuế biến động theo sự thay đổi của giá hàng nhập khẩu. Trong

trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp thì tiền thuế thấp và chức năng bảo hộ sản

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

15

xuất trong nước không rõ ràng. Bên cạnh đó, thuế theo giá cũng có nhược điểm là

cơ quan tính thuế sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chính xác giá hàng nhập

khẩu để đánh thuế.

1.2. Thuế theo lượng : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa trên số

lượng, dung tích, trọng lượng ... hàng nhập khẩu, do đó mức thuế sẽ không phụ

thuộc vào giá cả hàng hoá nhập khẩu. Theo phương pháp này, có thể tính toán số

tiền thu thuế một cách đơn giản, nhưng khi giá hàng hoá biến động thì sẽ phát

sinh sự không công bằng trong việc chịu thuế giữa các đối tượng bị đánh thuế.

1.3. Thuế giá chênh lệch : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa vào mức

chêch lệch giữa giá hàng nhập khẩu và giá tiêu chuẩn do nhà nước qui định. Áp

dụng loại thuế này sẽ không bị thất thu trong trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp

hơn mức giá tiêu chuẩn. Hiện nay, Nhật Bản đang áp dụng loại thuế này đối với

lợn, thịt lợn và các mặt hàng chế biến từ thịt lợn.

1.4. Thuế theo mùa : Là loại thuế mà mức thuế áp dụng sẽ khác nhau

tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nhập khẩu. Chẳng hạn, trong thời kỳ hàng hoá sản

xuất trong nước đang mùa thu hoạch thì người ta sẽ đánh thuế cao vào hàng hoá

nhập khẩu có sức cạnh tranh với hàng hoá đó để bảo hộ hàng hoá sản xuất trong

nước. Nhưng khi chuyển sang các mùa khác thì người ta lại đánh thuế thấp để có

thể đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Ở Nhật Bản thường hay áp dụng

phương pháp tính thuế này đối với các loại trái cây sản xuất trong nước có chi phí

cao, không trồng được quanh năm và rất khó cạnh tranh với các loại trái cây nhập

khẩu giá rẻ như chuối, cam ...

1.5. Các loại thuế khác :

* Thuế lựa chọn : áp dụng đối với những hàng hoá đồng loại, số lượng lớn.

Người ta qui định cả 2 cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng và có thể chọn

một trong hai cách tính theo số tiền thuế cao hay thấp.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

16

* Thuế hỗn hợp : là tổng hợp cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng,

cũng áp dụng đối với hàng hoá đồng loại số lượng lớn.

* Chế độ hạn ngạch thuế : là chế độ áp dụng mức thuế suất thấp hoặc

bằng 0 khi hàng hoá nằm trong một số lượng qui định nhưng khi số lượng vượt

quá mức qui định thì sẽ áp dụng mức thuế cao đối với phần vượt đó.

Mỗi cách tính thuế đều có ưu điểm và nhược điểm. Tuỳ thuộc vào tình

hình sản xuất trong nước, tính chất của hàng hoá ... mà chọn cách tính thuế phù

hợp để vừa có thể đảm bảo tiền thu thuế cao vừa thực hiện chức năng bảo hộ sản

xuất trong nước mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến tiêu dùng.

Biểu đồ 1: Các loại thuế

CIF

ế

CIF+ Thuế

Thuế

CIF+ Thuế

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

17

Nguồn: Nihon no kanzei, NXB Zaikeiyohosha- 1998

2. Các loại mức thuế

Nhật Bản có hai loại mức thuế quốc định qui định trong luật và mức thuế

hiệp định trong các hiệp ước.

2.1. Mức thuế quốc định:

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

18

- Mức thuế cơ bản : theo luật thuế hải quan, đây là mức thuế được áp dụng

trong thời gian dài. Số lượng mặt hàng áp dụng mức thuế này tính đến năm 1997

là 6.952 mặt hàng.

- Mức thuế tạm thời : theo luật thuế tạm thời, đây là mức thuế mang tính

tạm thời được áp dụng thay cho mức thuế cơ bản trong một thời gian nhất định

trong trường hợp khó áp dụng mức thuế cơ bản. Số lượng mặt hàng áp dụng mức

thuế này tính đến năm 1997 là 1.010 mặt hàng.

- Mức thuế ưu đãi : là mức thuế được áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ

các nước đang phát triển và thấp hơn so với mức thuế qui định đối với hàng nhập

khẩu từ các nước phát triển.

2.2. Mức thuế hiệp định:

Là mức thuế được thoả thuận trong các hiệp định với nước ngoài, theo đó

sẽ chỉ đánh thuế thấp hơn một mức nhất định đối với một mặt hàng nào đó. Hiện

nay, mức thuế qui định trong GATT là loại mức thuế hiệp định duy nhất ở Nhật

Bản. Mức thuế hiệp định được áp dụng đối với tất cả các nước thành viên của

GATT một cách tự động. Trên thực tế, mức thuế hiệp định cũng được áp dụng

đối với những nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc trong quan hệ

thương mại với Nhật Bản. Trong trường hợp các nước muốn sửa đổi lại mức thuế

đã thoả thuận thì các nước cần thiết phải thương lượng với nhau.

3. Chế độ thuế quan

3.1. Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)

Theo nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc không phân biệt đối xử, bất kỳ nước

nào là thành viên của GATT đều được hưởng mức thuế ưu đãi mà các nước thành

viên dành cho nhau. Trong những qui định của GATT có đưa ra những điều kiện

như không mở rộng số nước được hưởng ưu đãi ... Thế nhưng, từ sau năm 1950

dưới sức ép mạnh mẽ của một loạt các nước Châu Á, Châu Phi mới giành được

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

19

độc lập từ tay thực dân Anh, Pháp ... thì cuối cùng GATT đã cho tất cả các nước

đang phát triển hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập.

Trải qua những cuộc thảo luận ở GATT, OECD, tại hội nghị của Liên Hợp

Quốc về thương mại và phát triển lần thứ 2, Nhật Bản cùng 18 nước phát triển

khác đã từng tuyên bố cho hưởng ưu đãi đã thực hiện chế độ ưu đãi thuế phổ cập

Hơn nữa, từ khoảng năm 1980, các nước phát triển còn áp dụng các biện

pháp đặc biệt về thuế quan ưu đãi đối với các nước chậm phát triển (LDC) nơi có

GDP bình quân đầu người rất thấp. Vào năm 1978, Bangladesh đại diện cho 30

nước LDC, đã yêu cầu hãy cho các nước LDC hưởng ưu đãi và đến năm 1990

Nhật Bản đã chấp nhận.

Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu áp dụng ưu đãi của các nước chủ yếu Đơn vị tính: 1.000.000USD

Nhập khẩu từ các nước trên thế giới

Nhập khẩu từ các nước được hưởng chế độ ưu đãi

Nhập khẩu những mặt hàng thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi

Kim ngạch nhập khẩu áp dụng ưu đãi

EC (Năm 1992) 567,688 149,164 74,454 35,727

Mỹ (Năm 1992) 532,654 117,900 35,700 16,700

Nhật (Năm 1996) 347,948 184,701 42,418 17.623

( Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha- 1997, tr.27 )

Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực từ ngày

1/8/1971. Nó dựa trên hiệp ước của hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và

phát triển năm 1970 và được dự định thực hiện trong 10 năm, nhưng cuối cùng

được gia hạn áp dụng tới ngày 31/3/2001. Nội dung chủ yếu của chế độ này bao

gồm những vấn đề sau :

3.1.1. Danh mục hàng hóa được hưởng ưu đãi :

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

20

* Nông thuỷ sản (từ chương 1 đến chương 24 thuộc hệ HS) : 73 mặt hàng

đã được công nhận hưởng qui chế ưu đãi (hệ thống danh sách tích cực). Các mặt

hàng này được lựa chọn sau khi đã cân nhắc các ảnh hưởng tới sản xuất nông

nghiệp trong nước khi chúng được hưởng quy chế ưu đãi. Thuế quan ưu đãi

không áp dụng đối với các sản phẩm không có tên trong “danh sách tích cực”.

* Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ (từ chương 25 đến chương 97 thuộc

hệ HS): tất cả đều được hưởng ưu đãi trừ 27 mặt hàng như dầu thô, đồ da, các

sản phẩm từ các loại lông, gỗ dán, lụa thô, sợi lụa, vải lụa, sợi bông, giầy và các

bộ phận của giầy ... (hệ thống danh sách tiêu cực).

3.1.2. Mức thuế ưu đãi :

* Hàng hoá nông thuỷ sản : có mức thuế thấp hơn 10% đến 100% so với

mức thuế chung hiện hành của các loại hàng hoá cùng loại.

* Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ : về nguyên tắc sẽ không phải chịu

thuế nhập khẩu, tuy vậy có 66 mặt hàng mà thuế nhập khẩu không thể giảm đến 0

bởi cần tính đến các ngành sản xuất trong nước như các loại cặp bằng da, quần áo

... Thay vào đó, các mặt hàng này chỉ phải chịu 50% so với mức thuế chung hiện

hành.

3.1.3. Phương thức về cấp thuế quan ưu đãi :

* Nông, thuỷ sản : Thông thường, nông, thủy sản đủ tiêu chuẩn quy chế ưu

đãi thì không chịu giới hạn của hạn ngạch. Tuy nhiên nếu như quy chế ưu đãi đối

với hàng nhập khẩu có thể gây ảnh hưởng xấu tới ngành nông, thuỷ sản trong

nước thì một qui định về trường hợp ngoại lệ sẽ được đưa ra để tạm hoãn quy chế

ưu đãi của các sản phẩm này.

Để áp dụng qui định, cần phải chứng minh được việc áp dụng thuế ưu đãi

sẽ dẫn đến tăng kim ngạch nhập khẩu của nông, thuỷ sản và chứng minh các sản

phẩm nhập khẩu đó sẽ phương hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

21

cạnh tranh trực tiếp của các ngành. Bên cạnh đó, phải chứng minh rằng cần phải

áp dụng các biện pháp khẩn cấp để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước.

* Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ : về nguyên tắc cũng được hưởng

chế độ ưu đãi thuế quan giống như nông, thủy sản và đối với một số trường hợp

ngoại lệ các sản phẩm đó cũng không được hưởng ưu đãi. Nhật Bản cũng đặt ra

hạn ngạch trần đối với 146 mặt hàng cần thiết ảnh hưởng đến sản xuất trong nước

và áp dụng mức thuế ưu đãi đó trong phạm vi hạn ngạch đó. Các sản phẩm nhập

khẩu đã sử dụng hết hạn ngạch thì không được hưởng ưu đãi thuế quan.

3.1.4. Biện pháp ưu đãi đặc biệt đối với các nước chậm phát triển :

Đối với 42 nước chậm phát triển (LLDC) , ngoài việc áp dụng mức thuế

0% đối với nông, thuỷ sản, các sản phẩm công nghiệp, khai thác mỏ Nhật Bản

còn không đưa ra mức hạn ngạch trần đối với các sản phẩm công nghiệp khai

thác mỏ.

Đến thời điểm 1997, Nhật Bản đã cho 155 quốc gia và 25 khu vực (trong

đó tất cả đều là thành viên của UNCTAD và hầu hết là các nước đang phát triển)

được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan.

Về kim ngạch nhập khẩu có áp dụng ưu đãi, thì năm 1972 đạt 109.800

triệu Yên, đến năm 1991 tăng lên tới 1.621.900 triệu Yên, trong vòng gần 20 năm

đã tăng 15 lần. Nếu so với mức tăng 5 lần của tổng kim ngạch nhập khẩu trong

thời gian này thì con số trên là rất lớn và nó góp phần vào việc đẩy mạnh hoạt

động ngoại thương với các nước đang phát triển. So với 18 nước cho các nước

đang phát triển hưởng chế độ ưu đãi thuế quan ưu đãi, như EC : 2 tỷ USD, Nhật

Bản: 14,2 tỷ USD, Mỹ : 10 tỷ USD.

Nước đang hưởng ưu đãi thuế quan nhiều nhất của Nhật Bản là Hàn Quốc,

tiếp theo là Đài Loan, Trung Quốc, Braxin, ASEAN. Hơn nữa, do hoạt động

ngoại thương, sản xuất công nghiệp của các nước NIES châu Á ngày càng phát

triển, nên vào năm 1989 Mỹ đã huỷ bỏ quy chế thuế quan ưu đãi đối với các

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

22

nước Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông. Ngay cả EC cũng chấm dứt

việc cho Hàn Quốc hưởng quy chế ưu đãi trong một thời gian do những vướng

mắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Chính vì những lý do đó mà trong thời

gian gần đây người ta chia các nước đang phát triển thành các nước thương mại

Đông Á, Đông Nam Á và các nước con nợ lớn và vẫn tiếp tục thảo luận việc

chấm dứt cho hưởng quy chế này.

Bảng 2: Những nước và khu vực được hưởng chế độ GSP

LDC LLDC

1971 96 nước -

1975 110 nước và 28 khu vực -

1980 117 nước và 29 khu vực 29 nước

1985 123 nước và 25 khu vực 34 nước

1990 130 nước và 25 khu vực 38 nước

1995 147 nước và 25 khu vực 41 nước

1997 155 nước và 25 khu vực 42 nước

LLDC:Các nước kém phát triển nhất

LDC: Các nước kém phát triển

(Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997, tr.31)

Biểu đồ 2: Kim ngạch nhập khẩu được hưởng ưu đãi của các nước từ Nhật

Tr¨m triÖu yªn 0 1000 2000 3000 4000 5000 6000

Tæng Asean

Singapore

Morocco

Braxin

Philippin

Indonexia

Malayxia

Th¸i Lan

§μi Loan

Kim ng¹ch 95

Kim ng¹ch 96

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

23

Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997, tr31

3.2 Chế độ thuế quan đặc biệt

Thuế quan đặc biệt hiện nay của Nhật Bản bao gồm 3 loại: thuế khẩn cấp,

thuế đối kháng và thuế chống phá giá hàng hoá.

3.2.1 Thuế khẩn cấp: là loại thuế đánh vào hàng nhập khẩu để bảo vệ kịp

thời ngành sản xuất trong nước khi có sự tăng nhanh nhập khẩu do giá hàng hoá

của nước ngoài rẻ.

3.2.2 Thuế đối kháng: là loại thuế đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu để

bù lại việc các nhà sản xuất và nhập khẩu được hưởng trợ cấp của chính phủ.

3.2.3 Thuế chống phá giá hàng hoá: là loại thuế đặc biệt đánh vào

hàng nhập khẩu để bảo vệ cho những ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại do

việc các nhà sản xuất và xuất khẩu được hưởng trợ cấp từ chính phủ hoặc là do

việc bán phá giá hàng hoá.

Theo nguyên tắc WTO, các biện pháp chống phá giá chỉ được áp dụng khi

nó gây thiệt hại đối với nền công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tương tự ở

nước nhập khẩu. Thuế quan chống phá giá của Nhật Bản được quy định rất rõ

ràng, chặt chẽ dựa theo hiệp định GATT và pháp lệnh Nhà nước. Cụ thể là :

Bước 1: Yêu cầu đánh thuế quan chống phá giá

Trước hết những nhà sản xuất trong nước phải chứng minh được một cách

đầy đủ việc hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá và hàng hoá nhập khẩu

đó làm phương hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc cạnh tranh

trực tiếp của các ngành, sau đó đưa lên Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

24

Bước 2 : Chính phủ sẽ bắt đầu điều tra khi thấy đơn yêu cầu đánh thuế đã được

chứng minh đầy đủ. Thời gian đưa ra quyết định có bắt đầu tiến hành điều

tra hay không kéo dài trong 2 tháng kể từ khi nhận được đơn yêu cầu.

Bước 3 : Điều tra

Ban điều tra bao gồm đại diện của Bộ Tài chính, Bộ trực thuộc, Bộ thương

mại. Việc điều tra sẽ hoàn thành trong vòng 1 năm kể từ sau khi bắt đầu

điều tra.

Bước 4 : Đánh thuế

Sau khi chứng minh được hàng hoá nhâp khẩu được bán phá giá và có thiệt

hại, chính phủ sẽ thực hiện đánh thuế chống phá giá trong phạm vi chênh

lệch của mức giá thấp hơn.

Tại vòng đàm phán Tokyo, người ta đã xây dựng những hiệp định về các

biện pháp trợ cấp đối kháng và hiệp định chống phá giá. Vì vậy, Nhật Bản đã tiến

hành sửa đổi luật, sửa đổi pháp lệnh của chính phủ và soạn thảo những qui định

về thủ tục từ việc bắt đầu điều tra đến việc quyết định mức thuế. Sau đó, dựa vào

những qui định trong quan điểm hướng dẫn liên quan đến những thủ tục của thuế

đối kháng và thuế chống phá giá mà Nhật Bản đã làm rõ các vấn đề thủ tục, cơ sở

áp dụng thuế.

Nhìn vào sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương thế giới và

tiềm lực kinh tế của Nhật Bản người ta có thể dự đoán rằng sản xuất trong nước

sẽ ngày càng phải chịu nhiều thiệt hại do việc nhập khẩu hàng nước ngoài với số

lượng lớn. Vì vậy, Nhật Bản đã áp dụng quy chế thuế quan đặc biệt một cách

thích hợp.

4. Miễn giảm và hoàn trả thuế

4.1. Miễn giảm thuế:

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

25

Khi hàng hoá nhập khẩu đáp ứng được các điều kiện nhất định thì sẽ được

miễn giảm một phần hoặc toàn bộ tiền thuế. Hàng hoá được miễn một phần thuế

hải quan gọi là giảm thuế còn nếu hàng hoá được miễn toàn bộ thuế gọi là miễn

thuế. Việc xem xét miễn giảm thuế xuất phát từ những yêu cầu mang tính chính

sách của kinh tế, xã hội, văn hoá và trong nhiều trường hợp cũng căn cứ vào tập

quán, hiệp ước quốc tế, quan hệ ngoại giao ...

Miễn giảm thuế gồm có 2 loại là miễn giảm vô điều kiện như đối với hành

lý xách tay của du khách nước ngoài, đồ dùng của người tàn tật và miễn giảm

thuế có điều kiện.

Bên cạnh đó, căn cứ vào luật mà theo đó hàng hóa được hưởng miễn giảm

thuế thì miễn giảm thuế được chia làm 2 loại là miễn giảm thuế tạm thời nếu theo

Luật tính thuế tạm thời và miễn giảm thuế lâu dài nếu theo Luật thuế hải quan.

* Theo Luật thuế hải quan, các hàng hoá sẽ được miễn thuế lâu dài là :

- Hàng tiêu dùng, sinh hoạt : khi giá nhập khẩu của những mặt hàng như

lương thực thiết yếu (gạo, bột mỳ ... ) cao, khi giá cả trong nước lẫn giá nhập

khẩu của thịt lợn và đường là những mặt hàng có giá biến động lớn đồng loạt

tăng cao thì những hàng hóa này được miễn giảm thuế.

Ngoài những mặt hàng có quan hệ mật thiết tới đời sống hàng ngày như

lương thực, quần áo ... thì ngay cả với những mặt hàng khác khi giá nhập khẩu

tăng vọt mà đó lại là những mặt hàng rất cần thiết để đảm bảo đời sống nhân dân

hoặc không ảnh hưởng tới sản xuất trong nước thì cũng có thể được miễn giảm

thuế.

- Vật tư nguyên liệu dùng để sản xuất : là vật tư, nguyên liệu cần thiết để

sản xuất ra những hàng hoá chuyên dụng như thức ăn gia súc ...

- Hàng hoá có mục đích sử dụng đặc biệt : là những hàng hoá dùng cho

nghiên cứu khoa học và giáo dục, hàng là quà tặng, quà biếu cho các hoạt động

phúc lợi xã hội.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

26

- Hàng hoá của các nhà ngoại giao: miễn thuế cho hàng hoá được sử dụng

trong đại sứ quán ...

- Ngoài ra, hàng hoá cũng được miễn thuế trong các trường hợp sau:

+ Giảm thuế trong trường hợp hàng hoá bị thiệt hại do thay đổi phẩm chất.

+ Giảm thuế đối với hàng hoá xuất khẩu để gia công.

+ Miễn thuế đối với các hàng hoá như thuỷ sản đánh bắt nước ngoài.

+ Miễn thuế đối với hàng tái xuất.

+ Miễn thuế đối với những vật tư, nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng

xuất khẩu.

+ Miễn thuế xuất khẩu những hàng hoá mà nguyên vật liệu để sản xuất ra

hàng hoá đó đã bị chịu thuế.

* Theo Luật tính thuế tạm thời, các hàng hoá được hưởng miễn giảm thuế

bao gồm:

- Miễn đối với dầu thô được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm hoá dầu :

căn cứ vào mục đích sử dụng, nếu là dầu thô dùng làm nhiên liệu thì sẽ phải chịu

thuế, nếu sử dụng làm nguyên liệu thì không phải chịu thuế, Nhật Bản đã thực

hiện miễn thuế đối với dầu thô được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu sản xuất

các sản phẩm hoá dầu.

- Giảm thuế đối với các hàng được gia công ở nước ngoài (rồi nhập khẩu

trở lại Nhật) để đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước đang phát triển ở

xung quanh, Nhật Bản đã thực hiện chế độ này, theo đó chẳng hạn như đối với

quần áo may mặc, Nhật Bản sẽ giảm thuế nguyên liệu được xuất khẩu ra nước

ngoài để gia công, lắp ráp và chỉ đánh thuế vào phần giá trị gia tăng từ gia công,

lắp ráp với điều kiện thời hạn thực hiện gia công, lắp ráp ở nước ngoài dưới 1

năm.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

27

- Miễn giảm thuế cho nguyên liệu dùng để nghiên cứu năng lượng nguyên

tử : là chế độ miễn thuế đối với những nguyên liệu dùng để nghiên cứu năng

lượng nguyên tử mà Nhật Bản khó chế tạo. Ngoài ra cũng miễn thuế cho những

hàng hoá sản xuất trong nước gặp khó khăn như máy bay và các bộ phận của máy

bay, các máy móc, thiết bị để khám phá vũ trụ.

- Miễn thuế cho sữa bột đã tách bơ dùng làm thức ăn ở nhà trẻ, trường học

... Sau đại chiến lần thứ 2, chế độ dinh dưỡng của trẻ em Nhật Bản đã được cải

thiện rõ rệt nên việc sử dụng sữa bột tăng lên nhanh chóng.

Biểu đồ 3: Số tiền thuế được miễn giảm

Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha. 1997, tr.23

4.2 Chế độ hoàn trả thuế:

Chế độ này cho phép những hàng hoá nhập khẩu đã nộp thuế thoả mãn

được những tiêu chuẩn để được hoàn trả thì sẽ được hoàn trả một phần hay toàn

bộ thuế đã nộp trước đó. Hoàn trả thuế cũng được chia làm 2 loại là trả thuế tạm

thời và trả thuế lâu dài.

* Các trường hợp được hoàn trả thuế lâu dài theo Luật thuế hải quan :

- Hàng hoá bị thiệt hại, hư hỏng do thay đổi phẩm chất.

- Vật tư, nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.

- Những hàng hóa mà nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hoá đó đã phải

chịu thuế.

- Hàng hoá bị trả lại hoặc bị huỷ bỏ do không phù hợp với hợp đồng.

Tr¨m triÖu yªn

0

200

400

600

800

1000

1200

1400

1600

1800

89 90 91 92 93 94 95 96 N ¨m

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

28

* Theo Luật thuế tạm thời có :

- Chế độ hoàn trả thuế do tăng sản xuất những hàng hoá như các sản phẩm

tinh dầu mỏ tinh chế thô : đây là chế độ hoàn trả một phần thuế trong trường hợp

tình hình cung cấp các sản phẩm tinh chế từ dầu thô như dầu hoả, dầu nhẹ, dầu

nặng loại A ... bị thiếu nên phải sử dụng biện pháp xử lý đặc biệt sản xuất từ dầu

nặng.

- Chế độ hoàn trả thuế đối với những hàng hoá như dầu mỏ dùng để sản

xuất ra các sản phẩm hoá dầu.

Bảng 3: Các mặt hàng áp dụng chế độ miễn giảm, hoàn trả thuế

Năm Số lượng hàng hoá được áp dụng Tên hàng hoá

1969 5 Tủ lạnh, bộ nhớ, vòng bi, đèn chân không, các loại đồng hồ đeo tay.

1974 24 Ống đồng vàng, pittong, máy kéo sợi, ôtô, tai nghe, dây điện từ chậm... 1987 4 Ống đồng vàng, vòng bi, đèn chân không, dây điện từ chậm.

1988 626 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS)

1989 843 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS), các loại hàng may mặc (chương 62 trong hệ HS)

1990 258 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS), các loại hàng may mặc (chương 62 trong hệ HS)

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

29

Từ 1994 trở đi

369 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS) & 28 mặt hàng tương ứng, các loại hàng may mặc (chương 62 trong hệ HS), các loại đạn dược (chương 57 trong hệ HS)...

Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997,tr.25

4.3 Chế độ thanh toán lại thuế Hải quan:

Chế độ này giống với chế độ hoàn trả ở chỗ một phần hay toàn bộ thuế nộp

trước được hoàn trả. Nhưng khác ở chỗ, theo chế độ hoàn trả, tiền thuế nộp trước

được hoàn trả lại cho người nộp thuế. Còn theo chế độ này, tiền thuế đó được

thanh toán cho người chịu thuế. Trong các trường hợp không thuộc sự điều chỉnh

của chế độ miễn giảm hay hoàn trả thuế thì người ta sẽ áp dụng chế độ này để

bảo vệ ngành sản xuất trong nước và áp dụng chủ yếu cho các sản phẩm sản xuất

từ dầu mỏ được sản xuất ở Nhật Bản mà có sử dụng dầu thô nhập khẩu đã bị

đánh thuế hay các sản phẩm dầu được dùng làm nguyên liệu cho việc sản xuất

các hàng hoá như các sản phẩm hoá dầu, khí gas.

II. CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG NHẬT BẢN

1. Hạn ngạch nhập khẩu

Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp về khối lượng hoặc giá trị

nhập khẩu của các loại hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào

trong một thời gian nhất định thường là một năm. Hạn ngạch nhập khẩu được

tính toán trên cơ sở dự đoán nhu cầu và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp

trong nước. Vào đầu và giữa năm tài chính, Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp và

Thương mại (MITI) sẽ phê chuẩn những mặt hàng nhập khẩu hạn ngạch được ghi

trong giấy thông báo nhập khẩu. Thông báo nhập khẩu quy định trình tự các bước

để xin hạn ngạch cho một hay một nhóm mặt hàng. Khi nhập khẩu một mặt hàng

theo hạn ngạch, nhà nhập khẩu sẽ không được cấp giấy phép của ngân hàng quản

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

30

lý ngoại hối hay các cơ quan khác nếu họ chưa xin được hạn ngạch của Bộ Công

Nghiệp và Thương mại.

Hiện nay, ở Nhật Bản có 66 mặt hàng thuộc hạn ngạch nhập và hạn ngạch

của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phân cho các nhà nhập khẩu trong

giới hạn của tổng hạn ngạch theo một trong các chế độ sau :

- Chế độ theo dõi việc phân bố hạn ngạch nhập khẩu : hạn ngạch được

phân bố căn cứ vào tỷ lệ hạn ngạch của nhà nhập khẩu trong một thời kỳ cụ thể

trong quá khứ so với tổng trị giá hay số lượng hạn ngạch của một mặt hàng hay

một nhóm hàng.

- Chế độ theo dõi việc thông quan : việc phân bổ căn cứ vào tổng số lượng

hạn ngạch hay giá trị hạn ngạch dự tính hoặc đã thực hiện được trong thời gian

trước.

- Chế độ thông báo chính thức : việc phân bổ căn cứ vào số lượng hay trị

giá hạn ngạch tối đa do các cơ quan nhà nước phân trước cho các nhà nhập khẩu.

Mức hạn ngạch được quyết định trước này được qui định trong các thông báo

chính thức gửi cho các nhà nhập khẩu.

- Chế độ theo đơn đặt hàng : hạn ngạch được phân bổ căn cứ vào số lượng

hay trị giá hàng đã được đặt mua bởi người tiêu dùng cuối cùng.

- Chế độ theo đầu doanh nghiệp : là chế độ theo đó số lượng hoặc trị giá

hạn ngạch được phân bổ bình đẳng cho các nhà nhập khẩu. Chế độ này thường

được dùng đi đôi với một trong hai chế độ theo dõi nói trên.

- Chế độ ai xin trước được trước : hạn ngạch được phân theo nguyên tắc ai

xin trước được trước cho đến khi đạt đến một nửa số lượng hay giá trị qui định.

- Chế độ thống nhất ý kiến của các quan chức về phân bổ hạn ngạch: theo

chế độ này, các quan chức Bộ Công Nghiệp và Thương mại và các Bộ khác sẽ

bàn bạc để quyết định hạn ngạch phân bổ cho các nhà nhập khẩu.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

31

2. Những hạn chế xuất khẩu tự nguyện

Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restrain: VER) là thoả

thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu sang nước khác đối với một

mặt hàng xác định, với một mức tối đa trong khoảng một thời gian nào đó. Hay

nói cách khác hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của nước

nhập khẩu và được nước xuất khẩu tự nguyện chấp nhận nhằm ngăn chặn trước

những mối đe doạ lớn hơn và những hạn chế khác đối với thương mại của mình.

Xét về hình thức, VER cũng giống như hạn ngạch nhập khẩu, đều làm

giảm khối lượng trao đổi mậu dịch và làm cho giá cả hàng hoá tăng lên theo quy

luật cung cầu. Tuy nhiên, xét về lợi ích thì đối với nước xuất khẩu VER sẽ có lợi

hơn vì mặc dù số lượng xuất khẩu bị hạn chế nhưng giá cả hàng hoá lại tăng lên

và phần thu nhập tăng thêm này các nhà xuất khẩu sẽ nhận được, trái ngược với

hạn ngạch nhập khẩu, phần thu tăng thêm thuộc về các nhà nhập khẩu. Chính vì

vậy, chính phủ Nhật Bản trong các cuộc thương thuyết để giải quyết vấn đề mâu

thuẫn mậu dịch đã cố gắng ký được các hiệp định về VER thay cho việc để các

nước bạn hàng ban hành các hàng rào mậu dịch.

Nếu như trước đây, Nhật Bản chỉ phải thực hiện VER đối với các sản

phẩm dệt và một số mặt hàng sử dụng nhiều lao động do có những mâu thuẫn

mậu dịch nảy sinh thì đến nay, Nhật Bản đã thực hiện VER đối với rất nhiều loại

hàng hoá xuất khẩu sang các thị trường Mỹ và Tây Âu như các sản phẩm sắt

thép, nhiều loại sản phẩm máy móc công nghiệp, ôtô, tivi màu và đầu video...

Trong đó, tự nguyện hạn chế xuất khẩu ôtô sang thị trường Mỹ là một trong

những ví dụ điển hình. Đứng trước nguy cơ bị phá sản vì không thể cạnh tranh

nổi các loại ôtô có chất lượng cao và tiêu tốn ít nhiên liệu của Nhật Bản, các nhà

sản xuất ôtô Mỹ đã đấu tranh đòi chính phủ phải có những chính sách bảo hộ và

kết quả sau cuộc thương lượng, Nhật Bản đã chấp nhận thực hiện VER đối với

các loại ôtô xuất khẩu sang Mỹ. Việc thực hiện VER trong khi có lợi cho nhà sản

xuất thì gây thiệt thòi cho người tiêu dùng vì phải chịu giá ô tô tăng lên.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

32

Theo yêu cầu của các chính phủ nước ngoài, chính phủ Nhật Bản đã trực

tiếp điều hành việc phân phối VER cho các ngành công nghiệp và các công ty

trong nước. Tổng hạn ngạch xuất khẩu sau khi thương lượng với các nước bạn

hàng sẽ được phân phối cho các công ty xuất khẩu. Một số VER được ban hành

bởi MITI dựa trên cơ sở của Luật quản lý thương mại, nhưng rất nhiều VER cũng

được thực hiện thông qua sự hướng dẫn hành chính của MITI và sự phân phối

giữa các ngành có liên quan. Việc phân phối hạn ngạch xuất khẩu cố định cho

các nhà xuất khẩu sẽ làm giảm cạnh tranh, giữ giá cả ở mức cao làm tổn hại đến

người tiêu dùng và những ngành công nghiệp trong nước sử dụng những sản

phẩm trung gian được sản xuất theo chế độ VER làm nguyên liệu đầu vào để sản

xuất các sản phẩm khác.

Tuy nhiên, VER chỉ là giải pháp tạm thời và không hiệu quả. Nó có thể

giúp làm giảm khối lượng thặng dư mậu dịch của Nhật Bản nhưng cũng đồng

thời làm giảm khối lượng trao đổi mậu dịch hoặc bóp méo quá trình tự do mậu

dịch dẫn đến giảm hiệu quả trong việc phân phối các nguồn tài nguyên quốc gia

và quốc tế. Từ đó dẫn đến ngày càng nhiều các công ty Nhật Bản tăng cường đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm chuyển các hoạt động sản xuất để xuất khẩu hoặc

trực tiếp sang thị trường xuất khẩu hoặc sang các nước thứ ba mà từ đó sản phẩm

sẽ được xuất khẩu sang thị trường các nước khác. Theo thống kê năm 1990, trong

khi xuất khẩu ôtô của Nhật Bản theo VER sang Mỹ đã giảm xuống dưới 2,4 triệu

xe, nhưng sản xuất ôtô của Nhật Bản ở thị trường Mỹ và các nước đã lên tới 1,7

triệu xe.

VER là biện pháp hạn chế thương mại nằm ngoài phạm vi nguyên tắc của

GATT và việc huỷ bỏ VER đã được thảo luận tại vòng đàm phán Urugoay về các

thương thuyết mậu dịch đa phương. Sau vòng đàm phán này, hầu hết các hiệp

định về VER của Nhật Bản đã được huỷ bỏ. Ví dụ, VER đã được dỡ bỏ đối với

thép và các sản phẩm thép vào tháng 3-1992, máy công cụ vào tháng 12-1993,

ôtô khách vào tháng 3-1994, đồ gốm sứ vào tháng 12-1994.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

33

3. Các hạn ngạch hạn chế nhập khẩu khác :

Ngoài các chế độ hạn ngạch nói trên, ở Nhật Bản còn có một số chế độ

khác như :

- Chế độ cho phép nhập khẩu : là chế độ theo đó người nhập khẩu muốn

nhập khẩu phải được sự đồng ý của các tỉnh nhập hàng, hàng nhập khẩu có định

mức được qui định trong nguyên tắc chi tiết của Luật quản lý thương mại.

- Chế độ định mức nhập khẩu phối hợp : chế độ này căn cứ vào mối quan

hệ cung cầu trong nước để hạn chế số lượng hoặc giá trị của hàng hoá nhập khẩu.

- Chế độ báo cáo nhập khẩu : chế độ này được qui định cũng nhằm để hạn

chế số lượng hoặc giá trị nhập khẩu.

4. Giấy phép nhập khẩu

Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép

nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ cấp giấy phép nhập khẩu.

Hiệp định này đòi hỏi hệ thống giấy phép nhập khẩu phải rõ ràng và dự đoán

trước được, đồng thời các bên phải công bố cho các thương nhân những thông tin

đầy đủ về các loại giấy phép được cấp. Thời hạn tối đa cho các cơ quan quốc gia

xem xét đơn xin phép nhập khẩu là 60 ngày.

Ở Nhật Bản, tuy hầu hết hàng nhập khẩu không cần giấy phép nhập khẩu

của MITI nhưng các mặt hàng sau vẫn phải có giấy phép nhập khẩu :

- Hàng hoá nằm trong 66 mặt hàng liệt kê trong thông báo nhập khẩu thuộc

diện có hạn ngạch nhập khẩu.

- Hàng hoá sản xuất hay vận chuyển từ các quốc gia, khu vực quy định

trong thông báo nhập khẩu đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu.

- Hàng hoá đòi hỏi phương thức thanh toán đặc biệt.

- Hàng hoá đòi hỏi sự xác nhận của hải quan về nhập khẩu hay sự xác

nhận của một số Bộ, các nhà nhập khẩu được toàn quyền ký hợp đồng với các

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

34

nhà xuất khẩu, nhưng việc đăng ký và thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào sự cho

phép hay xác nhận của các Bộ phận liên quan.

Việc thanh toán hàng nhập khẩu cần giấy phép chỉ có thể thực hiện sau khi

giấy phép nhập khẩu đã được cấp.

5. Chế độ hạn ngạch thuế

Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ qui định trong đó áp dụng mức thuế bằng

0 hoặc thấp đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng một số lượng qui

định nhằm đảm bảo cung cấp những hàng hoá với giá rẻ cho người tiêu dùng.

Khi hàng hoá nhập khẩu vượt quá số lượng qui định đó thì sẽ áp dụng mức thuế

cao (thuế lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

Có nhiều cách tính số lượng để áp dụng mức thuế suất lần 1 nhưng hiện

nay ở Nhật Bản, phương pháp tính số lượng phổ biến là lấy số lượng dự đoán nhu

cầu trong nước trừ đi số lượng dự đoán sản xuất trong nước.

Khi Nhật Bản thực hiện tự do hoá thương mại thì chế độ hạn ngạch thuế

được sử dụng như là biện pháp mang tính quá độ nhằm làm giảm xung đột gay

gắt của sản xuất trong nước và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá. So

với qui định hạn ngạch nhập khẩu, theo đó chỉ cho phép nhập khẩu trong một số

lượng nhất định thì theo chế độ hạn ngạch thuế, nhà nhập khẩu vẫn có thể nhập

khẩu vượt quá số lượng qui định, nhưng phải chịu thuế mức thuế suất lần 2 đối

với phần vượt đó. Theo nguyên tắc của GATT, các nước thành viên không được

sử dụng chế độ hạn ngạch nhập khẩu nhưng lại thừa nhận chế độ hạn ngạch thuế

với điều kiện không có sự phân biệt đối với từng nước.

Chế độ hạn ngạch này được xây dựng dựa trên sự đảm bảo cân bằng giữa

mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ nhà sản xuất trong nước.

Chính vì vậy, đối với mỗi danh mục hàng hoá chính phủ đều phải nghiên cứu ưu

và nhược điểm của việc vận dụng chế độ hạn ngạch này căn cứ trên việc xem xét

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

35

đến tình hình cung cầu, thời hạn áp dụng, thực trạng sản xuất trong nước ... và

tiến hành cách thức áp dụng phù hợp để thúc đẩy mậu dịch tự do.

Bảng 4: Các mặt hàng thuộc đối tượng của việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế (tính đến năm 1992), cụ thể như sau :

Mức thuế ST

T Hàng hoá Thời hạn bắt đầu áp dụng Lần 1 Lần 2

1 Bò thịt giống 4/1972 0 45.000 yên/con 2 Pho mát tự nhiên 10/1970 0 35% 3 Yến mạch 4/1971 0 10%

4 Ngô 4/1965 4/1989 0

10%

50% hoặc 12 yên/kg tuỳ theo

cách nào cao hơn 5 Lúa mạch 10/1974 0 25 yên/kg

6 Đường mật dùng để nấu rượu 4/1987 0 18 yên/kg, 25%

7 Cacao để làm sôcôla (không đường) 4/1988 0 25%

8 Cà chua dạng tương, cà chua bột 7/1989 0 20%

9 Dứa hộp 4/1990 0 30%

10 Cồn để sản xuất rượu.. 4/1972 0 44.8 yên/1,20.2% 96 yên/1,17.9%

11 Dầu nặng và dầu thô 4/1972 0

2.770 yên/kl 2.580 yên/kl 2.520 yên/kl

3.750 yên/kl

12 Da (ngựa, cừu, dê) 4/1986 20% 60%

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

36

15%

13 Giầy da 4/1986 27%

21.6% 30%

60% hoặc 4.800 yên/đôi tuỳ theo cách nào cao hơn

Nguồn: Thuế xuất nhập khẩu Nhật Bản 6. Các biện pháp hành chính kỹ thuật hạn chế nhập khẩu

Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng hoá xuất

nhập khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Tuỳ thuộc mỗi nước mà có các

biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau được đưa ra để kiểm soát hàng hoá xuất

nhập khẩu.

Thị trường Nhật Bản luôn là một thị trường có nhiều điểm khác biệt mang

tính đặc trưng so với thị trường các nước khác. Trong buôn bán, giá cả có thể là

rất quan trọng, nhưng ở thị trường Nhật Bản, chất lượng là yếu tố được quan tâm

hàng đầu. Ngay cả khi mua một mặt hàng rẻ tiền thì người Nhật cũng vẫn rất

quan tâm tới chất lượng mặt hàng đó. Nhìn chung, tiêu chuẩn chất lượng và độ an

toàn của hàng hoá của Nhật Bản cao hơn và chặt chẽ hơn so với yêu cầu quốc tế

và thông thường, hàng hoá nước ngoài muốn xâm nhập thị trường Nhật Bản thì

trước hết phải đáp ứng được những tiêu chuẩn này.

Hiện nay, hệ thống dấu chất lượng ở Nhật Bản bao gồm nhiều loại qui định

cho những hàng hoá khác nhau, trong đó hai dấu chứng nhận chất lượng được sử

dụng phổ biến là : dấu chứng nhận tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS) và

dấu chứng nhận công nghiệp Nhật Bản (JIS)

6.1 Dấu JAS (tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản):

Luật về tiêu chuẩn hoá các nông lâm sản và hợp lý hoá các nhãn hiệu chất

lượng thường được gọi là Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản hay Luật JAS.

Luật này qui định các tiêu chuẩn về chất lượng, đưa ra các quy tắc về việc ghi

nhãn chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS. Các qui định áp dụng

đối với các sản phẩm được phát hành theo định kỳ. Các qui định này xác định

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

37

phạm vi áp dụng của luật, nêu ra định nghĩa về các sản phẩm tiêu chuẩn JAS, xác

định các tiêu chuẩn về chất lượng cần được thoả mãn và các phương pháp đánh

giá chất lượng.

Việc sử dụng dấu chứng nhận phẩm chất JAS trên nhãn hiệu sản phẩm là

tự nguyện và các nhà sản xuất cũng như những người bán lẻ không bị bắt buộc

phải sản xuất hay kinh doanh các sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng JAS. Tuy

nhiên, việc ghi nhãn sản phẩm là bắt buộc đối với những sản phẩm do Bộ nông -

lâm- ngư nghiệp qui định. Các nhà sản xuất muốn được dán nhãn hiệu chất lượng

JAS lên các sản phẩm của họ thì phải thông qua các tổ chức giám định để đánh

giá chất lượng của hàng hoá đó.

Danh sách các sản phẩm được điều chỉnh bởi luật JAS bao gồm : đồ uống,

thực phẩm chế biến, dầu ăn và mỡ, các nông lâm thuỷ sản chế biến. Đa số các

sản phẩm như thực phẩm đóng hộp, nước hoa quả, các sản phẩm chế biến từ cà

chua, dăm bông, thịt lợn hun khói được sản xuất tại Nhật đều mang dấu chất

lượng JAS.

Các sản phẩm nhập khẩu cũng có thể được cung cấp dấu chứng nhận phẩm

chất JAS nếu họ đạt các tiêu chuẩn do JAS đề ra. Việc giám định các tiêu chuẩn

này có thể lấy kết quả của các tổ chức giám định nước ngoài do Bộ trưởng Bộ

nông- lâm- ngư nghiệp chỉ định.

6.2 Dấu JIS (tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản):

Dấu này cũng tương tự như dấu JAS nhưng là áp dụng đối với tất cả các

sản phẩm công nghiệp và khoáng sản như vải, quần áo, lò sưởi, các thiết bị điện,

giầy dép, bàn ghế, đồ dùng nấu nướng, dụng cụ thể thao, nhạc cụ và các loại sản

phẩm khác đòi hỏi phải được tiêu chuẩn hoá về chất lượng và kích cỡ hay các qui

cách phẩm chất khác. Dấu này lúc đầu được áp dụng để tạo ra một chuẩn mực về

chất lượng cho các sản phẩm xuất khẩu khi Nhật Bản bắt đầu bán sản phẩm của

mình ra nước ngoài.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

38

Dấu chứng nhận tiêu chuẩn JIS chỉ được áp dụng đối với những sản phẩm

thoả mãn các yêu cầu về chất lượng của JIS. Do đó khi kinh doanh các sản phẩm

này chỉ cần kiểm tra dấu chất lượng tiêu chuẩn JIS là đủ để xác nhận chất lượng

của chúng và người tiêu dùng Nhật Bản cũng thích chọn những sản phẩm có

đóng dấu chất lượng JIS.

Ngoài hai loại dấu chứng nhận phẩm chất trên, ở Nhật Bản còn có một số

loại dấu chứng nhận phẩm chất khác, trong đó có những dấu mang tính bắt buộc

như dấu S và những dấu mang tính tự nguyện như dấu G, dấu Q là hai loại dấu

chuyên ngành hiện đang sử dụng rộng rãi.

Dấu S được cấp cho các sản phẩm có đủ độ an toàn, dùng cho nhiều chủng

loại hàng hoá dành cho trẻ em, đồ dùng gia đình, dụng cụ thể thao.

Dấu G được áp dụng đối với các sản phẩm có thiết kế đạt tiêu chuẩn. Các

sản phẩm được đóng dấu này được bộ phận giám định thiết kế của MITI lựa chọn

trên cơ sở độ an toàn, độ bền, màu sắc và các đặc tính khác cùng với thiết kế. Các

đồ gia dụng được lựa chọn để mang dấu chất lượng thiết kế là các sản phẩm dệt

như rèm cửa, chăn, đồ nội thất, đồ điện, các thiết bị nghe nhìn, đồ thuỷ tinh và

đồ uống. Hiện nay có khoảng 500 sản phẩm được cấp dấu G.

Dấu Q được cấp cho các sản phẩm dệt có chất lượng cao. Dấu này được

Viện giám định các sản phẩm dệt của MITI cấp sau khi tiến hành các cuộc giám

định chất lượng đối với sản phẩm. Ban đầu dấu Q chỉ được cấp cho các sản phẩm

quần áo trẻ em, về sau dấu này được cấp cho các loại sản phẩm phải trải qua rất

nhiều cuộc kiểm tra về các đặc tính khác nhau như độ bền, độ co, độ phai và chất

lượng của thiết kế.

Bên cạnh đó cũng có một số loại dấu khác có các quy định về quy cách

phẩm chất tương tự như của dấu JIS chẳng hạn như dấu “Len” có thể được áp

dụng đối với các loại quần áo len may sẵn theo các tiêu chuẩn về quy cách phẩm

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

39

chất JIS hay như dấu SIF cấp cho các hàng may mặc có chất lượng tốt như quần

áo nam, nữ, ba lô và các sản phẩm phục vụ thể thao.

Ở Nhật có nhiều dấu chất lượng khác nhau, do các cơ quan của chính phủ

hoặc các tổ chức giám định đặt ra. Trong một số trường hợp các dấu này trùng

nhau và một sản phẩm có thể cùng một lúc mang nhiều hơn một dấu.

Người Nhật có thói quen đưa ra quyết định mua hàng căn cứ vào các dấu

chất lượng trên bao bì vì họ coi đó như là sự đảm bảo độ tin cậy về chất lượng

hàng hoá được mua. Các nhà xuất khẩu có ý định xâm nhập vào thị trường Nhật

cần có được dấu chứng nhận phẩm chất cho sản phẩm của họ để đảm bảo rằng

các sản phẩm này đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu của thị trường Nhật, từ đó

sẽ dễ dàng hơn trong việc tiêu thụ hàng hoá. Hơn nữa, nếu chất lượng của một

sản phẩm đã được thị trường Nhật Bản chấp nhận thì sản phẩm đó hoàn toàn có

thể cạnh tranh được ở các thị trường khác.

Nhiều nhà xuất khẩu hay sản xuất nước ngoài tại Nhật Bản cho rằng những

tiêu chuẩn người Nhật đề ra là quá cao và việc đáp ứng được những tiêu chuẩn đó

là không thể được vì quá tốn kém. Ngược lại, nhiều nhà xuất khẩu nhận thức là

phải đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng và độ an toàn của

hàng hoá đối với người tiêu dùng Nhật Bản và họ đã đạt được kết quả kinh doanh

tốt.

7. Keiretsu (Hệ thống)

Keiretsu là một hệ thống kinh tế và tổ chức kinh doanh kiểu Nhật Bản và

thường được hiểu là các tổ hợp hay tập đoàn công nghiệp khổng lồ của Nhật Bản.

Nó được thành lập vào đầu những năm 60, khi các thị trường chứng khoán của

Nhật Bản đã trở nên rất yếu kém. Các cổ phiếu của các công ty lớn lâm vào tình

trạng ế ẩm, giá tụt xuống rất nhanh. Họ đang trong tình trạng có thể bị các đối thủ

mạnh khác giành quyền kiểm soát. Theo đó, việc ra đời các tập đoàn này là một

biện pháp đối phó hợp lý cho sự tồn tại của họ.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

40

Trong nền kinh tế Nhật Bản hiện nay có 8 tập đoàn lớn được xếp vào

Keiretsu bao gồm Mitsubishi, Mitsu, Sumitomo, Fuyo, DKB, Sanwa, Tokai và

IBJ. Các tập đoàn này được tổ chức xoay quanh các ngân hàng và các tổng công

ty thương nghiệp. Các công ty thành viên của mỗi tập đoàn được liên kết với

nhau qua 3 yếu tố then chốt, đó là:

- Nắm chéo các cổ phần của nhau.

- Các mối quan hệ nhân sự.

- Vấn đề tài chính bên trong.

Việc nắm giữ cổ phần đan xen, chiếm một số vốn lớn gần 35% toàn bộ số

vốn của nền kinh tế Nhật Bản cùng đội ngũ quản lý điều hành công việc với mục

tiêu tạo ra lợi nhuận tối đa trong một thời gian dài đã cho phép các tập đoàn này

khống chế thị trường trong thời kỳ mở rộng kinh tế, thủ tiêu cạnh tranh trong các

thời kỳ suy thoái, bảo vệ lẫn nhau khỏi sự phá sản và thoát ra khỏi mối đe doạ bị

mất quyền kiểm soát canh tranh. Các mạng lưới phân phối của Keiretsu còn cho

phép kiểm soát giá bán lẻ. Chính vì vậy trung bình mỗi người tiêu dùng Nhật Bản

phải trả giá cao hơn từ 30% đến 40% so với người tiêu dùng phương Tây đối với

các sản phẩm cùng loại.

Keiretsu là một trong số những đặc trưng nhất của nền kinh tế Nhật Bản và

đã cung cấp một sự cạnh tranh sắc bén mà các nước khác không thể địch được,

nó tạo ra một hàng rào ngăn cản mậu dịch chính cho các bạn hàng nước ngoài

thâm nhập vào thị trường Nhật Bản.

8. Hệ thống phân phối Nhật Bản

Đóng góp vào sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản sau chiến

tranh có nhiều yếu tố khác nhau đặc trưng riêng của nền kinh tế Nhật mà các

nước khác không có như Keiretsu, hệ thống phân phối ...

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

41

Hệ thống phân phối bao gồm tất cả các khâu mà thông qua đó sản phẩm

được đưa từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng. Hệ thống phân phối Nhật

Bản hết sức phức tạp, có các đặc điểm chủ yếu sau phân biệt với hệ thống phân

phối của các nước khác :

- Có nhiều cửa hàng bán lẻ. Nói cách khác, mật độ cửa hàng bán lẻ rất đông.

- Giữa nhà chế tạo và các nhà bán lẻ tồn tại rất nhiều cấp phân phối trung gian.

- Tồn tại hệ thống duy trì giá bán lẻ.

- Giữa nhà sản xuất và nhà bán lẻ có sự câu kết chặt chẽ, thể hiện ở chỗ :

các nhà sản xuất sẽ cung cấp vốn cho các nhà bán buôn, các nhà bán buôn lại

cung cấp tài chính cho các nhà bán lẻ, các nhà sản xuất thực hiện chế độ chiết

khấu hoa hồng thường xuyên và rộng rãi, sẵn sàng mua lại hàng hoá nếu không

bán được ... Các nhà bán lẻ thường chỉ kinh doanh một số hàng hoá của các nhà

sản xuất nhất định, không kinh doanh các hàng hoá của các nhà sản xuất khác kể

cả các nhà sản xuất trong nước. Mối quan hệ giữa các nhà sản xuất với các nhà

phân phối, bán lẻ rất khăng khít, bền vững khiến cho hàng hóa nước ngoài rất

khó thâm nhập thị trường Nhật Bản và mở rộng đại lý tiêu thụ hàng.

Hệ thống này đã góp phần bảo hộ cho những sản phẩm sản xuất trong

nước một thời gian khi những sản phẩm này chưa đủ sức cạnh tranh nhưng dần

dần cùng với sự thay đổi của tình hình trong, ngoài nước, nó đã bộc lộ nhiều hạn

chế mà nếu tiếp tục duy trì, không thay đổi thì nhất định sẽ ảnh hưởng xấu tới

kinh tế như làm cho giá hàng hoá đắt lên nhiều lần khi tới tay người tiêu dùng,

giảm bớt tính minh bạch của việc định giá, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh,

đặc biệt là chắc chắn vấp phải sự phản kháng của các nhà kinh doanh nước ngoài.

Kể từ khi nền kinh tế bong bóng sụp đổ vào cuối những năm 80 làm cho

việc sản xuất cũng như tiêu thụ gặp nhiều khó khăn cùng với những tác động từ

bên ngoài như quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới diễn ra ngày càng

mạnh mẽ, mâu thuẫn với các nước bạn hàng tăng do mất cân đối trong mậu dịch

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

42

buôn bán ... điều đó đòi hỏi muốn tiếp tục tăng trưởng, Nhật Bản phải tích cực tự

do hoá, nới lỏng những hạn chế nhập khẩu của mình trong đó có hệ thống phân

phối khép kín và bài ngoại. Cho đến nay, hệ thống này được thay đổi theo hướng

tích cực bằng nhiều biện pháp khác nhau như các nhà phân phối có thể tự do bán

các sản phẩm của các nhà sản xuất khác bao gồm cả các sản phẩm nhập khẩu,

tiêu biểu cho xu hướng này là các nhà bán buôn và bán lẻ trực thuộc tập đoàn chế

tạo ôtô Nissan đã được phép ký hợp đồng trực tiếp với hãng Ford và được độc

quyền bán các ôtô Ford tại Nhật Bản; các siêu thị lớn thực hiện hệ thống “phát

triển và nhập khẩu” tiêu thụ các sản phẩm nước ngoài, chẳng hạn như Tổng công

ty siêu thị lớn nhất Nhật Bản - Daiei đã nhập khẩu các máy ghi hình, tivi màu và

các đồ gia dụng để bán ...

9. Quản lý ngoại tệ

Ở Nhật Bản, Ngân hàng Nhật Bản - Ngân hàng trung ương của Nhật Bản -

là nơi tập trung các nguồn thu ngoại tệ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt

động ngoại thương thông qua những chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tỷ lệ

lãi suất.

Khác với các nước khác, ngân hàng Nhật Bản được phân loại theo những

lĩnh vực hoạt động khác nhau như ngân hàng xuất nhập khẩu, ngân hàng tín dụng

dài hạn ... để cung cấp vốn một cách hiệu quả. Những loại ngân hàng này đã trợ

giúp cho các công ty Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh vì vốn của họ tích

lũy được còn rất thấp, phải dựa chủ yếu vào các khoản tiền đi vay. Cùng với sự

phát triển lớn mạnh của các công ty Nhật Bản với số vốn ngày càng lớn đã làm

thu hẹp sự khác biệt giữa các kênh cung cấp vốn khác nhau.

Biện pháp trên được thực hiện chủ yếu trong các thập niên trước.Bước

sang những năm gần đây, khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển vươn lên trở thành

một trong những cường quốc kinh tế hùng mạnh của thế giới, ngân hàng Nhật

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

43

Bản thường hay sử dụng biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái dựa trên việc quản

lý ngoại tệ của mình.

Một biện pháp gián tiếp khác Nhật Bản sử dụng để hạn chế nhập khẩu

hàng hoá trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế là đưa ra lãi suất tiền gửi cao để thu

hút tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng, giảm mức tiêu thụ của người dân.

Ngoài ra, Nhật Bản còn sử dụng nhiều biện pháp khác như hạn chế những

giao dịch ngoại tệ, chỉ cho phép một tỷ lệ % nhất định về việc chuyển lợi nhuận

bằng ngoại tệ ra nước ngoài.

III. TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

1.Hoạt động xuất khẩu:

1.1 Kim ngạch xuất khẩu

Đối với một nước nghèo tài nguyên khoáng sản như Nhật Bản thì ngoại

thương đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế.

Trước đây, tỷ trọng xuất khẩu của Nhật trong tổng xuất khẩu thế giới rất

thấp. Xuất khẩu thì ngoài tàu thuyền, các mặt hàng chủ yếu là những sản phẩm

công nghiệp nhẹ, công nghiệp thô sơ như vải, quần áo, giày dép mà phẩm chất

chưa có uy tín trên thế giới. Để đẩy mạnh xuất khẩu, chính phủ Nhật Bản đã đưa

ra nhiều biện pháp khác nhau như : "Luật về tỷ giá hối đoái và kiểm soát mậu

dịch" hay chính sách giảm thuế đối với các khoản tiền thu từ xuất khẩu, thực hiện

thuế ưu đãi đối với các ngành xuất khẩu. Nhờ đó đã giúp Nhật Bản có một lợi thế

đáng kể trong việc mở rộng xuất khẩu.

Trong giai đoạn này, chính phủ Nhật Bản đã thành lập nên các ngân hàng

hỗ trợ phát triển, ngân hàng xuẩt khẩu để cung cấp vốn, tín dụng với lãi suất thấp

cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Xuất khẩu của Nhật Bản liên

tục tăng, ngày càng chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường quốc tế làm cho thặng

dư mậu dịch của Nhật Bản tăng mạnh.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

44

Ngoài ra, chính phủ còn thiết lập các tổ chức, cơ quan yểm trợ như Tổ

chức xúc tiến mậu dịch JETRO để đẩy mạnh xuất khẩu. Mức tăng trưởng xuất

khẩu của Nhật Bản đạt bình quân trên 10% một năm.

Vào những năm 90, khi cán cân mậu dịch giữa Nhật Bản và các nước ngày

càng thặng dư, để tránh xảy ra mâu thuẫn xung đột, ngân hàng trung ương Nhật

Bản đã thực hiện tăng lãi suất làm cho hoạt động xuất khẩu tăng chậm. Sau khi

lượng hàng xuất khẩu giảm nhẹ vào năm 1990 với tỷ phần 2,1% tổng xuất khẩu

của Nhật các năm sau tăng lên một cách vững chắc đạt 5% vào năm 1995 và

6,3% vào năm 2000.

2.1 Những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu.

Sự điều chỉnh trong chính sách sản phẩm xuất khẩu gắn liền với sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế của Nhật. Trong thời kỳ đầu những năm 60, Nhật bản chủ yếu xuất

khẩu hàng thô sau dố chuyển sang các hàng háo , sản phẩm công nghiệp nhẹ.

Bước tiếp theo Nhật Bản chuyển sang khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm

công nghiệp nặng và sản phẩm hoá chất. Việc xuất khẩu máy móc thiết bị có sự

gia tăng mạnh trong suốt hai thập kỷ gần đây.

Bảng 5: Các mặt hàng xuất khẩu của Nhật Bản

Tỷ lệ %

Loại sản phẩm 1960 1970 1980 1997 1998 1999 2000

1. Lương thực thực phẩm 6,6 3,5 1,2 0,5 0,5 0,5 0,4

2. Sản phẩm dệt may 30,2 12,5 4,8 2,0 1,9 1,9 1,8

3. Hoá chất 4,2 6,4 5,2 7,1 7,0 7,4 7,4

4. Kim loại 13,8 19,7 14,6 6,4 6,3 5,7 5,5

5. Máy móc thiết bị 25,3 46,3 62,8 73,8 73,6 74,5 70,0

- Thiết bị thông dụng 5,5 10,4 13,9 23,8 22,5 21,4 21,5

- Thiết bị điện 6,8 14,8 17,5 23,6 23,2 24,4 26,5

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

45

- Thiết bị vận tải 2,6 6,9 17,9 14,0 15,4 14,9 13,4

- Thiết bị chính xác 7,1 7,3 3,6 2,3 2,6 2,4 2,2

6. Sản phẩm phi kim loại 3,6 1,9 1,4 1,2 1,1 1,1 1,2

7. Sản phẩm khác 16,8 9,8 8,1 9,0 9,5 10,0 9,5

Nguồn: - Japan Almanac 2002

- Tổng giá trị xuất khẩu là 100%

2 Hoạt động Nhập khẩu

Ở những thập niên trước, bằng các biện pháp thuế quan và phi thuế quan

nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và tăng thu ngoại tệ, nền kinh tế

của Nhật Bản đã đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng, dần dần tham gia trở lại

vào các quan hệ mậu dịch quốc tế, gia nhập các tổ chức thương mại, kinh tế thế

giới. Tuy nhiên, để tiếp tục đà tăng trưởng cao, Nhật Bản vẫn tiếp tục duy trì các

biện pháp nói trên và chưa gia nhập hoàn toàn mà mới chỉ gia nhập bảo lưu một

số một điều khoản. Ví dụ, tháng 12-1955, Nhật Bản gia nhập GATT nhưng xin

hoãn áp dụng điều 11 của tổ chức này mà theo đó các nước thành viên không

được hạn chế nhập khẩu vì lý do cán cân thanh toán bị nhập siêu. Sau đó, khi

Nhật Bản trở thành nước gia nhập điều thứ 11 của GATT, nhập khẩu của Nhật

Bản có tăng nhưng chậm.

Nhật Bản đã đạt được sự phát triển kinh tế thần kỳ khiến cả thế giới kinh

ngạc, nhiều ngành sản xuất trong nước vươn lên có sức cạnh tranh lớn trên thị

trường quốc tế. Vì vậy, Nhật Bản đã giảm mạnh về thuế quan đối với nhiều danh

mục hàng hoá. Mức độ giảm thuế quan của Nhật nói chung là lớn so với các

nước khác và là mức thuế quan nhập khẩu thấp nhất so với các nước phát triển.

Thêm vào đó, Nhật Bản đã đơn giản hoá các thủ tục kiểm tra hải quan tạo điều

kiện cho việc nhập khẩu.

Kể từ sau năm 1980, chính phủ Nhật Bản đã cố gắng đổi mới trong việc tự

do hoá trao đổi ngoại tệ và bắt đầu nới lỏng quy chế về các thị trường tài chính

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

46

trong nước, hệ thống viễn thông nhằm khuyến khích sự thâm nhập của hàng hoá

nước ngoài. Chính phủ Nhật Bản đã thông báo và thực hiện hàng loạt các

“chương trình trọn gói” về các biện pháp khuyến khích xuất nhập khẩu một cách

toàn diện bao gồm việc giảm hoặc xoá bỏ thuế quan, xoá bỏ hạn ngạch, cải tiến

các thủ tục nhập khẩu, cử những phái đoàn vận động nhập khẩu ra nước ngoài,

mở các hội chợ nhập khẩu ở Nhật Bản. Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản cũng đã

đổi mới khoảng 100 nguyên tắc liên quan đến các thủ tục nhập khẩu, các tiêu

chuẩn hàng hoá, vấn đề kiểm dịch ...

Những chính sách này giúp cho nhập khẩu tăng lên. Đến tháng 12-1987,

Nhật Bản tiếp tục điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nâng giá đồng Yên lên 122 Yên =

1USD. Trước đó, vào 30-7-1985, chính phủ Nhật Bản đã thông báo một “Chương

trình hành động" với mục tiêu đạt được mở cửa thị trường Nhật Bản vượt mức

quốc tế hiện hành. Chương trình này bao gồm những biện pháp đặc biệt để cải

thiện sự mở cửa của thị trường Nhật Bản trên 6 lĩnh vực : giảm thuế quan hạn

ngạch các tiêu chuẩn chứng nhận và thủ tục nhập khẩu, sự thu mua của chính

phủ, thị trường tài chính, vốn, các dịch vụ và khuyến khích nhập khẩu. Cụ thể :

- Về hàng rào thuế quan : chương trình bao gồm việc huỷ bỏ hoặc giảm

thuế quan đối với 1853 mặt hàng.

- Về hàng rào phi thuế quan : tiến hành một cuộc cải cách căn bản về các

tiêu chuẩn và chứng nhận đối với hàng hoá và các thủ tục nhập khẩu như chuyển

đổi từ hệ thống chứng nhận của chính phủ sang hệ thống tự chứng nhận về tiêu

chuẩn chất lượng và chủng loại hàng hoá, giảm hơn nữa hoặc huỷ bỏ hệ thống

các qui định về tiêu chuẩn hàng hoá và chấp nhận các số liệu kiểm tra hàng hoá

và thiết kế của các cơ quan nước ngoài; sửa đổi lại một cách toàn diện các điều

luật và quy tắc.

Các biện pháp tự do hoá này đã mở đường cho nhiều hàng hoá của Mỹ như

các thiết bị điện tử, máy vi tính, ôtô, phụ tùng ôtô, nông sản phẩm ... tràn vào thị

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

47

trường Nhật Bản. Ngoài ra, ngày càng có thêm nhiều nước đang phát triển khác

cũng tăng cường xuất khẩu hàng hoá sang Nhật.

Nhập khẩu của Nhật Bản đã liên tục tăng nhanh từ mức 3,8% năm 1993,

13,5% năm 1994 lên 22,5% năm 1995 và khoảng 12,6% năm 1996 - tức là cao

nhất trong các nước G7, cao hơn hẳn mức trung bình của các nước công nghiệp

phát triển (5,3%), các nước EU (3,7%) và còn cao hơn các nước đang phát triển

(11,3%).

Trong năm 1999, tỷ lệ thuế quan trung bình của Nhật Bản giảm từ 3,9%

xuống 1,7% trong đó tỷ lệ thuế quan chính thức của các sản phẩm công nghiệp

(trừ một số trường hợp ngoại lệ) được giảm xuống mức rất thấp, thậm chí nhiều

loại sản phẩm được huỷ bỏ thuế quan hoàn toàn.

Tới năm 2000, Nhật Bản cũng đã chuyển dần từ hình thức bảo hộ phi thuế

quan sang hình thức thuế quan (trừ gạo) và sẽ giảm đi khoảng 36% đối với các

sản phẩm nông nghiệp. Có lẽ, với chính sách đó, nông phẩm của các nước trong

đó có Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường Nhật Bản dễ dàng hơn.

Một số sản phẩm nhập khẩu chủ yếu :

Mức thuế bình quân của Nhật Bản rất thấp, khoảng 2,7% (năm 1990)

nhưng cũng rất phức tạp. Mức thuế của mỗi mặt hàng được xây dựng dựa trên

tình hình sản xuất trong nước của mặt hàng đó. Nhìn chung, mức thuế đánh vào

nguyên liệu, các sản phẩm công nghiệp có xu hướng thấp còn nông phẩm thì cao.

Trước kia, thuế đánh vào nguyên liệu thấp và ngày càng cao khi tỷ lệ gia

công ngày càng lớn. Nhưng hiện nay, dưới sức ép của các nước bạn hàng, mức

thuế đánh vào thành phẩm đã giảm để tạo điều kiện cho nhập khẩu.

Xét riêng từng ngành, mức thuế đối với các mặt hàng như sau :

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

48

- Nông sản : số mặt hàng có mức thuế 0% chiếm khoảng 20% tổng số

hàng nông sản, còn lại là những mặt hàng phải chịu thuế trong đó hơn một nửa có

mức thuế lên tới 15%. Trong đó :

+ Các sản phẩm từ động vật : thịt trên 10%, hải sản 5 ~ 15%

+ Các sản phẩm từ thực vật : hoa 0%, hoa màu 0 ~ 10%

+ Các sản phẩm chế biến như kem, rượu ...: 10 ~ 40%

- Các sản phẩm công nghiệp, khoáng sản : số mặt hàng có mức thuế 0%

chiếm khoảng 40% trong đó chủ yếu là khoáng sản, máy móc. Các mặt hàng như

gỗ, dệt, da thuộc ... có mức thuế tương đối cao.

a. Gạo, lúa mỳ:

Ở Nhật Bản, do môi trường chung không thuận lợi cho nông nghiệp nên

sản xuất lúa gạo có quy mô nhỏ. Giá thành gạo sản xuất ở Nhật Bản cao gấp 4-5

lần ở Mỹ, 7-8 lần ở Thái Lan. Vì vậy, mức độ cần thiết bảo hộ để duy trì sản xuất

là vô cùng cao.

Từ sau chiến tranh, việc sản xuất, nhập khẩu lúa gạo chịu sự điều chỉnh

của Luật quản lý lương thực, theo đó nếu muốn nhập khẩu gạo, lúa mỳ, lúa mạch

thì cần thiết phải được sự cho phép của Bộ trưởng Bộ nông thuỷ sản. Sau khi

được phép mới tiến hành nhập khẩu và rồi bán luôn cho Bộ nông thủy sản (gọi là

chế độ nhập khẩu một cửa của chính phủ). Còn gạo sản xuất trong nước thì nhà

nước sẽ thu mua với giá được tính theo công thức thiết lập để duy trì thu nhập từ

nông nghiệp ở mức trung bình của quốc gia. Đồng thời, lúa gạo cũng là đối tượng

của chế độ hạn ngạch nhập khẩu (IQ thuộc Luật thương mại quản lý nhập khẩu).

Từ quan điểm cho rằng phải tự cung lương thực, chính phủ Nhật Bản đã

đứng ra quản lý hoàn toàn việc sản xuất cũng như nhập khẩu gạo, do vậy mức độ

phụ thuộc vào nhập khẩu không cao trừ những trường hợp phải nhập khẩu do

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

49

thiếu gạo. Hiện nay, hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 40.000 tấn gạo mà

chủ yếu là dùng vào mục đích đặc biệt như chế biến rượu Sake ở Okinawa.

Lúa mỳ, cũng như gạo, là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu. Hầu

như toàn bộ lúa mì sản xuất trong nước đều do nhà nước kiểm soát. Trong quá

trình công nghiệp hoá tiến lên một nước công nghiệp phát triển, người tiêu dùng

Nhật Bản ngày càng chuyển từ món ăn truyền thống là gạo sang các món ăn theo

kiểu phương Tây và lẽ dĩ nhiên, việc tiêu thụ lúa mì sẽ tăng lên dẫn đến mức độ

phụ thuộc vào nhập khẩu ngày càng lớn. Hàng năm, Nhật Bản phải nhập khẩu

hơn 5 triệu tấn lúa mỳ.

Biểu đồ 6: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu lúa mỳ

Nguồn: Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

b. Các sản phẩm sữa, tinh bột

Các sản phẩm sữa, tinh bột vừa là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập

khẩu (IQ) vừa phải chịu thuế. Nguyên nhân xuất phát từ chỗ có một số loại thuộc

sản phẩm sữa và tinh bột không nhập khẩu theo chế độ nhập khẩu một cửa của

chính phủ nên không bị đánh thuế thì sẽ phải chịu hạn chế về số lượng nhằm

tránh sự ảnh hưởng đến giá hàng hoá trong nước do giá nhập khẩu thấp.

Cho dù hạn ngạch nhập khẩu trái với nguyên tắc của GATT nhưng cho đến

nay, các sản phẩm sữa, tinh bột vẫn không được phép nhập khẩu tự do.

Biểu đồ 5: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu của sữa bột tách bơ (1), tinh bột (2)

0

200

400

600

800

1980 1985 1990 1995

Khối lương Nhập ẩKhối lượng SX

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

50

Nguồn : Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

c. Thịt bò, cam :

Nhật Bản vốn là một nước nông nghiệp nhưng điều kiện sản xuất chăn

nuôi khó khăn. Mặc dầu vậy, Nhật Bản vẫn cố gắng áp dụng nhiều biện pháp kỹ

thuật hiện đại để tạo ra năng suất cao nhằm đáp ứng được nhu cầu trong nước.

Tuy nhiên, chi phí sản xuất cao khiến cho thịt lấy từ vật nuôi của Nhật Bản như

thịt bò không thể nào cạnh tranh được với thịt bò nhập khẩu. Vì vậy nó cần được

chính phủ bảo hộ, đưa vào danh sách những mặt hàng chịu hạn ngạch nhập khẩu.

Nhưng dưới sức ép nhiều phía, sau những đàm phán với Mỹ và Ôxtrâylia

về thịt bò, với Mỹ về cam, Nhật Bản thực hiện tự do hóa thịt bò, cam vào tháng

4-1991, nước cam vào tháng 4-1992.

Nhật Bản đã có nhiều cố gắng để dỡ bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với thịt

bò, cam nhưng cũng không thể nào tự do hoá hoàn toàn mà phải áp dụng mức

thuế suất tương đối cao để bảo vệ sản xuất trong nước. Chính vì vậy, mức thuế

của thịt bò sau khi thực hiện tự do hoá vào năm 1991 đã nâng lên 70% từ mức

25% của trước khi thực hiện tự do hoá. Sau đó nhờ hợp lý hoá trong quá trình sản

xuất, chi phí giá thành giảm xuống nên mức thuế cũng được điều chỉnh hạ thấp

dần xuống 60% vào năm 1992, đến năm 1993 còn 50%. Do vậy, lượng nhập

khẩu thịt bò có xu hướng ngày càng tăng, một phần cũng do nhu cầu của người

dân Nhật tăng lên. Tuy nhiên, trong trường hợp nhập khẩu thịt bò tăng nhanh thì

chính phủ sẽ đề ra qui định tăng mức thuế mang tính khẩn cấp, bảo hộ (biện pháp

áp dụng từ năm 1991 đến năm 1993).

0

50

100

150

200

250

1980 1985 1990 1995

Khèi l−îng nhËp khÈu

Khèi l−îng s¶n xuÊt

0

500

1000

1500

2000

2500

3000

1980 1985 1990 1995

Khèi l−îng nhËp khÈu

Khèi l−îng s¶n xuÊt

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

51

Đối với cam, sau khi xem xét, tính toán các yếu tố tác động, mức thuế vẫn

không có gì thay đổi so với trước khi thực hiện tự do hoá : từ tháng 6 đến tháng

11/1992 : 20%, từ tháng 12/1992 đến tháng 5/1993 : 40%, nước cam (không

đường) : 25% hoặc 30%.

Biểu đồ 6: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu thịt bò

Nguồn: Shukuryojyukyuhyo Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

d. Lâm sản

Vào đầu những năm 90, nhu cầu về gỗ ở Nhật Bản vẫn tăng lên, đặc biệt là

gỗ cho xây dựng và làm bột giấy. Nhưng sau đó, do giảm xây dựng nhà ở, nhu

cầu lại giảm xuống 20% từ mức cao nhất. Gỗ có nhiều loại khác nhau nhưng ở

đây sẽ đi sâu vào 3 loại gỗ chủ yếu :

* Gỗ tròn:

70% lượng gỗ tiêu thụ ở Nhật Bản là dựa vào nhập khẩu, do vậy mức thuế

đánh vào mặt hàng này (trừ gỗ pơmu) chỉ 0%. Gỗ được nhập khẩu từ nhiều nước

khác nhau như Mỹ, Canada, Malayxia, New Guinea ... và được sử dụng làm ván

ép, dùng để xây dựng, làm đồ nội thất...

Hiện nay việc nhập khẩu gỗ tròn đang gặp vướng mắc do các nước xuất

khẩu đang xem xét nâng giá xuất khẩu gỗ đồng thời Nhật Bản cũng bị chỉ trích

trong việc gián tiếp gây ra hiện tượng phá rừng, làm huỷ hoại môi trường sinh

thái ở các nước xuất khẩu.

0

200

400

600

800

1000

1200

1980 1985 1990 1995

Khèi l−îng nhËp khÈu Khèi l−îng s¶n xuÊt

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

52

* Gỗ xẻ

Gỗ xẻ là loại gỗ được xẻ từ gỗ tròn, dùng cho việc xây dựng, đồ dùng nội

thất. Gỗ xẻ được nhập khẩu chủ yếu từ Mỹ và Canada.

Mức thuế đối với gỗ SPF từ 4,8% đến 8%; gỗ lauan: 10%; còn lại nhiều

loại gỗ khác không bị đánh thuế. (Gỗ SMF là gỗ xẻ từ các loại gỗ vân xam, gỗ

thông, gỗ linh xam).

* Gỗ ván ép

Là những tấm gỗ mà người ta ghép dính những ván mỏng với số lượng lẻ

vào nhau, được sử dụng để xây dựng, làm đồ nội thất trong gia đình ...

Trước đây, sản xuất ván ép của Nhật Bản để nhằm mục đích xuất khẩu nhưng

gần đây nhập khẩu có xu hướng tăng lên, có đến 30% nhu cầu gỗ ván ép trong nước

là phải nhập khẩu trong đó chủ yếu từ Indonexia. Gỗ ván ép phải chịu mức thuế

tương đối cao so với các loại gỗ khác : 10 ~ 20%.

Các ngôi nhà truyền thống của người Nhật thường được làm bằng gỗ. Do

đó, nhu cầu về gỗ là rất lớn. Đặc biệt, vào những năm 89, 90, dưới tác động của

nền kinh tế “bong bóng” làm cho giá đất tăng vọt, mọi người đổ xô vào xây dựng

nhà khiến cho nhu cầu về nhập khẩu gỗ lên tới 1300 tỷ yên. Nhưng sau đó, khi

nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ, nhu cầu về gỗ cũng giảm theo. Điều này có thể

thấy rõ qua biểu đồ dưới đây.

Biểu đồ 7: Nhập khẩu các loại gỗ của Nhật Bản

Nguồn: Shukuryojyukyuhyo - Bộ nông- lâm- thuỷ sản Nhật Bản, 1998

e. Dầu lửa, các sản phẩm dầu mỏ 0

200

400

600

800

1000

1200

1400

1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991

G ç v¸n Ðp

G ç x Î

G ç trßn

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

53

Dầu lửa có quan hệ mật thiết với cuộc sống của con người, nó không chỉ

được sử dụng làm nhiên liệu mà còn sử dụng làm nguyên liệu để tạo ra tơ sợi hóa

học, nhựa ... Dầu lửa chiếm 89% trong cung cấp năng lượng chủ yếu của Nhật,

cao hơn so với các nền kinh tế tiên tiến khác. Tuy nhiên kể từ cuộc khủng hoảng

dầu lửa đầu tiên, việc cắt giảm tiêu dùng dầu lửa và phát triển năng lượng nguyên

tử và các nguồn năng lượng khác đã giúp Nhật Bản giảm sự lệ thuộc vào dầu lửa.

Mặc dầu vậy, Nhật Bản vẫn phải dựa vào các nguồn cung cấp năng lượng từ bên

ngoài với mức độ lớn hơn bất kỳ nước phát triển nào khác. Do nhu cầu mở rộng

sản xuất trong nước, nhập khẩu dầu lửa tăng nhanh vào những năm đầu thập niên

90. Năm 1991, Nhật Bản nhập khẩu 236 triệu tấn kl tương đương với 30,2 tỷ

USD, chiếm 13% trong tổng số tiền bỏ ra để nhập khẩu.

Trước kia, Nhật Bản chủ yếu nhập khẩu dầu naphatha, dầu nặng, nhưng từ

năm 1986 lại nhập khẩu cả xăng, dầu phun, dầu nhẹ. Các sản phẩm nhập khẩu

này đáp ứng 20% nhu cầu nhiên liệu dầu của Nhật Bản.

Nhìn chung, đánh thuế là nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước (gọi

là thuế bảo hộ) nhưng đối với Nhật Bản - một nước mà đến 99,7% dầu mỏ tiêu

thụ trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu thì không cần thiết phải đánh thuế.

Thuế đánh vào các sản phẩm dầu lửa ngoài chức năng là thuế bảo hộ còn

thực hiện chức năng là thuế tài chính. Hàng năm, Nhật Bản vẫn xem xét, nghiên

cứu để đưa ra một mức thuế phù hợp.

Bảng 6 : Chương trình giảm thuế dầu lửa

Đến năm 1991 Từ 1992 đến 1996 Từ 1997 đến 2001 Sau

2002

Mức

thuế 350 yên/kl 315 yên/kl 215 yên/kl 0

Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

54

g. Da thuộc

* Da thuộc và các sản phẩm từ da

Ngành sản xuất da thuộc của Nhật Bản phát triển dựa chủ yếu vào việc

nhập khẩu da từ nước ngoài. Các doanh nghiệp tham gia vào ngành này phần

nhiều có quy mô vừa, nhỏ hoặc rất nhỏ nên khả năng cạnh tranh quốc tế rất kém.

Đặc biệt trong đó mặt hàng da thuộc và giầy da cho đến tháng 3-1986 vẫn là mặt

hàng chịu hạn ngạch nhập khẩu, còn hiện nay nó chịu sự điều chỉnh của chế độ

hạn ngạch thuế (TQ).

Theo chế độ hạn ngạch thuế, mức thuế đánh lần 2 vào da thuộc, giầy da so

với ngay cả các loại khoáng sản cũng thuộc loại cao. Ví dụ : cặp da xách tay từ

10 đến 17,5%; quần áo bằng da từ 12,5 đến 20% ... Ngoài ra, cơ quan thuế sẽ qui

định các mức thuế cụ thể đối với từng mặt hàng.

Bảng 7: Mức thuế của da thuộc và giầy da

. Mức tế hạn ngạch lần1 Mức tế hạn ngạch lần2

Da: Bò, ngựa, cừu, dê 15% ~ 20% 60%

Giầy da 21,6% ~ 30% 60% hoặc 4.800 yên ( Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha- 1997, tr.27 )

2.Đầu tư trực tiếp NN liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu của Nhật Bản

Ở Nhật Bản, Luật về đầu tư nước ngoài đã được xây dựng từ khá lâu. Ban

đầu, Luật qui định chỉ cấp giấy phép cho các dự án có tác dụng tích cực tới cán

cân thanh toán của Nhật khi đang ở trong tình trạng khó khăn hoặc các dự án có

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

55

đóng góp cho sự phát triển của các ngành sản xuất quan trọng; đối với các dự án

đã được cấp giấy phép, Luật này đảm bảo chuyển lợi nhuận cũng như tiền vốn

đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, lo sợ các công ty xuyên quốc gia của phương

Tây, nhất là Mỹ chi phối kinh tế của mình, các tập đoàn kinh tế lớn ở Nhật Bản

được sự hỗ trợ của chính phủ đã liên kết lại với nhau theo kiểu Keiretsu, lập nên

một hệ thống phân phối hàng hoá mang tính chất bài ngoại, khép kín để ngăn

chặn sự thâm nhập của các công ty nước ngoài, chống những mối đe doạ cạnh

tranh thôn tính. Một loạt những Luật về tiêu chuẩn kỹ thuật, độ an toàn của sản

phẩm ... được ban hành đã làm cho các công ty nước ngoài rất ngại đầu tư vào

Nhật Bản.

Sau đó, Nhật Bản gia nhập OECD nên không thể đưa ra qui định hạn chế

đầu tư trực tiếp của xí nghiệp nước ngoài nữa. Thêm vào đó, Nhật Bản đã nhiều

lần thực hiện tự do hoá tư bản. Cho đến nay, ngoài một số rất ít các ngành cấm

nước ngoài đầu tư (negative list), còn lại tất cả hoàn toàn được tự do hoá.

Những năm gần đây, khi chính phủ chuyển hướng trọng tâm trước kia của

Luật về đầu tư nước ngoài là “ngăn ngừa việc thôn tính doanh nghiệp trong nước

của đầu tư nước ngoài" sang tự do hoá hơn, qui định dễ dàng hơn về phẩm chất

hàng hoá, sự cải cách của hệ thống phân phối cùng với điều chỉnh tỷ giá hối đoái,

nâng giá đồng Yên lên mà đầu tư trực tiếp vào Nhật Bản đã tăng lên.

Đồng thời, những chính sách bảo hộ thuế quan và phi thuế quan của chính

phủ về hạn chế hoặc tiến đến xoá bỏ hoàn toàn như giảm mức thuế quan đối với

hàng hoá nhập khẩu, giảm hạn ngạch nhập khẩu làm xói mòn khả năng cạnh

tranh của hàng hoá Nhật Bản không chỉ ở các thị trường nước ngoài mà ở ngay

cả thị trường trong nước với các hàng nhập khẩu rẻ hơn. Do đó, ngày càng nhiều

công ty Nhật đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với trọng tâm là thị trường

Bắc Mỹ và Châu Á

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

56

Việc di chuyển các cơ sở sản xuất ra nước ngoài là tạo ra nơi sản xuất hàng

xuất khẩu sang nước thứ 3, nhờ đó làm giảm xuất khẩu của Nhật Bản sang các

nước này. Mặt khác, thông qua đó, việc nhập khẩu những nguyên liệu mà từ

trước đến nay phải nhập khẩu để dùng cho sản xuất trong nước sẽ giảm. Hơn

nữa, trong trường hợp hàng hoá sản xuất ở nước ngoài nếu được nhập khẩu trở lại

Nhật Bản (gọi là hình thức xuất khẩu ngược) thì sẽ giúp cho nhập khẩu tăng.

Những nỗ lực này đã đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản lên

tới 69,7 tỷ USD trong năm tài chính 1990, gấp hơn 6 lần lượng đầu tư của năm

năm trước đó khiến Nhật Bản trở thành nước đứng đầu thế giới về mặt này. Tổng

số vốn đầu tư của các công ty Nhật Bản vào các nhà máy ở nước ngoài trong

năm 1996 tăng khoảng 11,6%.

Thực tế hiện nay, hầu như toàn bộ các công ty hàng đầu của Nhật Bản

đang tiếp tục quá trình di chuyển hoạt động sản xuất của họ ra nước ngoài và

tăng tỷ lệ nhập khẩu trở lại thị trường nội địa về những hàng hoá được sản xuất

tại đó. Xu hướng này được thể hiện rõ nhất trong ngành ô tô. Tổng khối lượng

sản phẩm sản xuất ở các cơ sở nước ngoài của 5 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của

Nhật Bản đã vượt quá tổng khối lượng sản phẩm xuất khẩu của họ xuất ra từ

Nhật Bản do sản xuất trong nước. Tỷ lệ sử dụng vốn để đầu tư ra nước ngoài của

toàn bộ các công ty trong ngành lắp ráp chiếm tới 46% kinh phí của họ, trong

ngành ô tô là 30% và trong toàn ngành công nghiệp nói chung là 13%.

3. Chính sách sản phẩm

Để thực hiện những mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ, chính phủ Nhật

Bản nói riêng cũng như chính phủ các nước nói chung đều phải định ra hướng

cho chính sách cơ cấu sản phẩm xuất nhập khẩu. Việc xác định được một cơ cấu

sản phẩm hợp lý dựa vào điều kiện trong nước cùng tình hình môi trường ngoài

nước sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu những

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

57

sản phẩm có lợi thế so sánh và nhập khẩu những sản phẩm mà sản xuất trong

nước không thuận lợi.

Cơ cấu sản phẩm này được điều chỉnh theo tốc độ tăng trưởng kinh tế và

cơ cấu ngành nghề. Để thực hiện được sự điều chỉnh này, một trong những biện

pháp là hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu và ngược lại.

Nhìn chung trong suốt quá trình phát triển từ trước đến nay, Nhật Bản luôn

chủ trương đánh thuế thấp đối với nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng

hoá xuất khẩu và đánh thuế cao đối với các thành phẩm, cho nên trong cơ cấu sản

phẩm xuất khẩu của Nhật Bản, tỷ trọng của các nguyên liệu và sản phẩm sơ chế

rất cao trong khi đó tỷ trọng của các thành phẩm trong tổng kim ngạch nhập khẩu

lại thấp.

Trước đây, trong giai đoạn sản xuất bắt đầu hồi phục, chính phủ Nhật Bản

đã thực hiện chính sách miễn giảm thuế đối với nguyên vật liệu, năng lượng, máy

móc thiết bị để sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Nhờ đó, tỷ trọng của các hàng hóa

này trong cơ cấu nhập khẩu đã tăng lên.

Bước sang thời kỳ tăng trưởng kinh tế, cùng với môi trường quốc tế thuận

lợi cho sự thay đổi cơ cấu công nghiệp và hướng vào xuất khẩu các hàng chế biến

có giá trị gia tăng ngày càng cao, chính phủ tăng cường hỗ trợ vốn, tín dụng với

lãi suất thấp cho các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp hoá dầu làm cho hoạt

động sản xuất của những ngành này phát triển, từ đó tăng xuất khẩu, thay thế vị

trí của các hàng hóa công nghiệp nhẹ. Các sản phẩm tàu thuỷ, thép ... trở thành

những hàng xuất khẩu trụ cột của Nhật Bản. Bên cạnh đó, sau vòng đàm phán

Kennơdy, Nhật Bản đã tiến hành giảm thuế quan đối với nhiều mặt hàng, đặc biệt

là các mặt hàng chế biến trước kia bị hạn chế, nhờ đó khối lượng nhập khẩu mặt

hàng này cũng tăng lên.

Sau khi đạt tới tốc độ tăng trưởng cao, chính phủ Nhật Bản lại buộc phải

có những điều chỉnh trong chính sách thuế quan để hạn chế tác động của hai cuộc

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

58

khủng hoảng dầu lửa lên nền kinh tế. Chính phủ đã tiến hành miễn thuế đối với

các mặt hàng gia công ở nước ngoài để tăng cường nhập khẩu hàng gia công,

giảm nhập khẩu hàng nguyên liệu và ban hành các hàng rào phi thuế quan để bảo

hộ các ngành công nghiệp hoá học mới, kỹ thuật mới, sản phẩm điện tử ...

Một vài năm lại đây, các chế độ bảo hộ bằng hạn ngạch, thuế quan cao dần

dần được nới lỏng nên số lượng nhập khẩu gạo, lúa mì đã tăng lên và trong

những năm tới chắc sẽ còn tăng hơn nữa.

Sau thoả thuận Plaza năm 1985, việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái làm cho giá

trị đồng Yên lên cao đã tạo điều kiện cho việc nhập khẩu ôtô, phụ tùng ôtô, thiết

bị văn phòng, linh kiện điện tử như chất bán dẫn, những sản phẩm có mức độ gia

công, giá trị gia tăng cao cũng tăng lên rõ rệt.

CHƯƠNG III BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN

THIỆN CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

Như chương trước đã đề cập, hệ thống chính sách thuế quan và phi thuế

quan của Nhật Bản đã phát huy hiệu quả cao đối với sự phát triển kinh tế. Vậy

Việt Nam có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm của Nhật Bản. Để trả lời câu hỏi

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

59

đó, trong chương này sẽ nghiên cứu hiện trạng chính sách thuế quan và phi thuế

quan của Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

I. TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG Ở VIỆT NAM

1. Chính sách thuế quan

Ở nước ta, Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu được ban hành vào năm 1987

để thay cho chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương tồn tại trong suốt thời quản lý

theo cơ chế hành chính bao cấp. Vào thời kỳ đó, bạn hàng chính của Việt Nam là

Liên Xô cũ và các nước Đông Âu thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), họ

chiếm khoảng từ 75% đến 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Do đó,

Luật thuế ra đời chủ yếu áp dụng cho hàng hoá buôn bán giữa Việt Nam và các

nước này và danh mục biểu thuế được ban hành theo danh mục hàng hoá của

SEV. Tuy nhiên, sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ yếu sụp đổ đã gây tác

động lớn đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động ngoại thương nói

riêng. Bối cảnh quốc tế thay đổi buộc các nhà hoạch định chính sách Việt Nam

phải tìm ra một hướng đi mới nếu không muốn bị tụt hậu.

Chính sách ngoại thương - một trong những hướng trọng tâm của Việt

Nam sau thời kỳ đổi mới đã được xây dựng theo hướng đa dạng hoá về thị trường

và sản phẩm, tự do hoá các hoạt động nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để hỗ trợ cho chính sách ngoại thương được thực hiện một cách có hiệu quả,

Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/12/1991 và sửa đổi, bổ sung vào năm 1993,

trong đó đưa ra nhiều nội dung thay đổi căn bản.

1.1 Biểu thuế xuất nhập khẩu

Trong biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu mới sử dụng danh mục hàng hóa HS

của Tổ chức hải quan quốc tế thay cho danh mục hàng hóa của khối SEV, dù đã

có những sửa đổi, bổ xung nhưng biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của ta vẫn còn

dàn trải quá rộng. Mức thuế cao nhất (100%) áp dụng cho 28 mặt hàng trong đó

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

60

có 21 mặt hàng bia rượu, 6 mặt hàng thuốc lá và 1 mặt hàng quần áo cũ. Mức

thuế cao (60%) áp dụng cho ôtô, hàng tiêu dùng (may mặc, giầy dép, dụng cụ

gia đình khác) còn thuế đánh vào nhập khẩu các nguyên liệu thô, các máy móc

thiết bị cơ bản và các sản phẩm trung gian khác nói chung rất thấp (từ 0% ~ 5%).

Thuế suất dàn trải như vậy vừa phức tạp lại không có lợi cho nền kinh tế, chúng

có thể đưa các nguồn lực vào những hoạt động không có hiệu quả, tạo tâm lý

không tốt đối với các nhà kinh doanh nước ngoài vì họ cho rằng thuế suất của

Việt Nam quá phức tạp và quá cao. Trên thực tế, với việc qui định thuế suất như

thế, nếu tính tổng số thuế thu được thì có thể còn thấp hơn việc qui định thuế suất

tập trung.

1.2 Chế độ thuế

Theo Luật Thuế của Việt Nam năm 1987, sửa đổi, bổ xung vào các năm

1991 và 1993, thuế nhập khẩu gồm có 2 loại là thuế suất phổ thông và thuế suất

ưu đãi nhưng trên thực tế chỉ có 1 loại thuế suất phổ thông áp dụng cho tất cả các

loại hàng hoá. Từ 1/1/1991, thuế nhập khẩu của Việt Nam đã được sửa đổi gồm 3

loại là: thuế suất phổ thông, thuế suất ưu đãi và thuế ưu đãi đặc biệt. Thuế suất

phổ thông được áp dụng thống nhất cao hơn 50% so với thuế suất ưu đãi. Thuế

ưu đãi đặc biệt được áp dụng đối với từng nước, hoặc khu vực hợp tác đa phương

trên nguyên tắc bình đẳng.

Ngoài ra, Luật thuế xuất nhập khẩu bổ sung cũng áp dụng thuế chống bán

phá giá đối với hàng nhập khẩu có giá thấp hơn mức giá thông thường, thuế

chống trợ giá đối với hàng hoá có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, thuế chống

phân biệt đối xử đối với hàng hoá nhập từ nước có sự phân biệt đối xử khác với

hàng hoá của Việt Nam.

1.3 Thuế VAT (Thuế giá trị gia tăng)

Luật thuế giá trị gia tăng (VAT) được áp dụng ở Việt Nam kể từ ngày

01/01/1999 theo Nghị định của Chính phủ ngày 11/05/1998.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

61

Thuế giá trị gia tăng (VAT) là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của

hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất,

kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của

Nghị định nói trên.

Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất. Giá tính thuế

& thuế suất đối với từng loại, nhóm mặt hàng đều được Chính phủ quy định rõ.

2. Các biện pháp phi thuế quan trong hoạt động Ngoại thương

2.1 Giấy phép xuất nhập khẩu

Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý hàng nhập khẩu.

Nhưng giấy phép nhập khẩu khác với hạn ngạch là được áp dụng rộng rãi hơn.

Người nhập khẩu phải am hiểu các quy định của Nhà nước về việc xin giấy phếp

và những phí tổn có liên quan đến việc xin giấy phép nhập khẩu để hoạt động

kinh doanh được thuận lợi và có hiệu quả.

Tại Việt Nam, giấy phép nhập khẩu từng lô hàng ( chuyến hàng ) được bãi

bỏ từ 15/12/1995. Tuy nhiên giấy phép nhập khẩu vẫn là một biện pháp quan

trọng trong quản lý nhập khẩu. Ngày 04/042001, Thủ tướng chính phủ đã ban

hành Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg, quy định cơ chế quản lý hàng hoá xuất

nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2005. Theo đó, nhiều hàng hoá chịu sự quản lý, thông

qua hình thức cấp giấy phép của Bộ Thương mại và các Bộ chuyên ngành.

2.2 Hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu

Hạn ngạch xuất khẩu được áp dụng cho các mặt hàng mà nhà nước và các

tổ chức quốc tế ấn định đối với Việt Nam như hàng may mặc xuất sang Liên

minh Châu Âu.

Trong năm 1998, giá gạo trên thế giới cao do nhu cầu tăng và nguồn cung

hạn chế, song hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta vẫn được điều phối để vừa tăng

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

62

kim ngạch xuất khẩu, vừa đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực. Nhờ lượng

gạo xuất khẩu tăng, lúa hàng hoá trong dân đã được mua ở mức tối đa, giá lúa

gạo tăng bảo đảm thu nhập có lợi cho nông dân, đồng thời nhờ công tác điều

hành xuất khẩu gạo mà giá lúa, gạo không có sự biến động mạnh, không gây tác

động xấu đến tình hình cung cầu của thị trường lương thực trong nước. Bên cạnh

đó cũng có nhận xét cho rằng, việc qui định hạn ngạch về gạo đã làm giảm nguồn

thu ngân sách nhà nước và thu nhập của người nông dân do họ bị các doanh

nghiệp đầu mối được nhà nước phân bổ hạn ngạch ép giá nên hiện nay chính phủ

Việt Nam đã bỏ chế độ hạn ngạch về gạo.

Về may mặc, những năm trước kia, hạn ngạch may mặc được chính phủ

phân bổ cho các doanh nghiệp nhưng bắt đầu từ năm 1999 đã thực hiện đấu thầu

hạn ngạch. Vì là năm đầu tiên thực hiện nên lượng quota đem ra đấu thầu mới chỉ

dừng ở mức 20% hạn ngạch thương mại, còn lại giao theo phương thức giao hạn

ngạch thu phí, chủ yếu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may đủ tiêu

chuẩn kỹ thuật.

Mục đích của hạn ngạch xuất khẩu là để bảo vệ các nhà sản xuất, người

tiêu dùng trong nước khỏi sự thiếu hụt tạm thời của sản phẩm này và cải thiện giá

của các sản phẩm trên thị trường thế giới bằng việc thu hẹp nguồn cung cấp

chúng. Khả năng thứ hai chỉ có thể thực hiện được ở một nước hay nhóm nước

có ưu thế xuất khẩu về một sản phẩm. Vào thời điểm hiện nay, so với năng lực

sản xuất trong nước, hạn ngạch xuất khẩu may mặc vẫn còn thấp nên chúng ta

cần xúc tiến các hoạt động đàm phán để nâng cao mức hạn ngạch xuất khẩu.

Vừa qua, hiệp định mới ký với EU đã đạt được thoả thuận tăng hạn ngạch hàng

năm là 3 ~ 5% so với 1,2 ~ 2,5% trước đây.

Đối với hạn ngạch nhập khẩu, hàng năm, chính phủ đều xem xét, nghiên

cứu, phân tích dự đoán khả năng sản xuất và nhu cầu trong nước, căn cứ vào

mục tiêu, định hướng phát triển để qui định số lượng hoặc trị giá những hàng hoá

được nhập khẩu, đặc biệt là hàng tiêu dùng, mặt hàng mà khả năng cạnh tranh

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

63

của các ngành sản xuất trong nước vẫn còn rất non kém so với hàng ngoại nhập

vừa rẻ vừa mẫu mã đẹp. Tuy nhiên, từ những năm 90, những qui định về hạn

ngạch nhập khẩu đã giảm một cách đáng kể.

2.3 Qui định cấm xuất khẩu, nhập khẩu

Theo qui định kèm theo nghị định 57/1998/NĐ- CP ngày 31/7/1998 của

chính phủ, có 6 mặt hàng bị cấm xuất khẩu (vũ khí, đạn dược ...) và 9 mặt hàng

cấm nhập khẩu (ma tuý, các loại văn hoá phẩm đồi truỵ ...). Nhìn chung, những

mặt bị cấm xuất khẩu chủ yếu xem xét ảnh hưởng của nó đến mặt chính trị, xã

hội hơn là kinh tế nên nó cũng không gây mâu thuẫn mấy đến hoạt động ngoại

thương. Riêng gỗ, trước kia được xuất khẩu nhưng từ tháng 1/1994 đã được đưa

vào danh mục hàng cấm xuất khẩu do nguy cơ phá rừng tăng cao làm ảnh hưởng

đến môi trường thiên nhiên. Điều này cũng dẫn đến chính phủ phải qui định hạn

chế số lượng hoặc trị giá những đồ gỗ liên quan đến nguyên liệu gỗ khai thác

trong nước.

2.4 Quản lý ngoại tệ

Theo qui định hiện hành, tất cả các nguồn thu ngoại tệ đều tập trung gửi

vào ngân hàng hoặc các cơ quan quản lý ngoại hối để nhà nước có thể kiểm soát

được hoạt động kinh tế đối ngoại đặc biệt là hoạt động nhập khẩu, ngăn chặn

nguồn vốn thất thoát ra ngoài, duy trì cân bằng thu chi quốc tế, thực hiện chính

sách tỷ giá tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Ở Việt Nam, Ngân hàng trung ương hàng ngày qui định một khung tỷ giá

chính thức cho việc mua bán ngoại tệ. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái do ngân hàng

công bố thường chênh lệch so với tỷ giá hối đoái thị trường, là tỷ giá mà nhà sản

xuất quan tâm vì nó cho phép nhà sản xuất có thể tính được lợi nhuận thực tế thu

được.

Trong cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1997, bằng các biện pháp

đồng bộ thắt chặt chính sách tiền tệ như điều chỉnh tỷ giá hối đoái chính thức,

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

64

thực hiện thu mua bắt buộc đối với nguồn ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất

nhập khẩu, điều chỉnh cơ chế tín dụng ngoại tệ, giảm lãi suất tiền gửi ngoại tệ của

các tổ chức kinh tế, Việt Nam đã khắc phục được những tác động xấu của cuộc

khủng hoảng tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta vẫn

không thể nào tránh khỏi tình trạng xuất khẩu suy giảm do đồng tiền các nước

trong khu vực bị giảm giá so với đồng đôla, hàng hoá Việt Nam trở nên đắt đỏ so

với hàng các nước trong khu vực. Sau đó, ngân hàng trung ương đã điều chỉnh để

nâng giá đồng Việt Nam lên so với đồng đôla Mỹ, nhờ vậy mà xuất khẩu có xu

hướng tăng trở lại.

Từ ngày 11/9/1998, ngân hàng Nhà nước đã thực hiện hạ thấp mức lãi suất

cho vay bằng đôla của các tổ chức tín dụng đối với các doanh nghiệp từ

8,5%/năm xuống còn 7,5%/năm đồng thời tiền gửi ngoại tệ của các doanh nghiệp

tại các tổ chức tín dụng cũng hạ xuống nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp

Việt Nam tiếp cận với nguồn vốn ngoại tệ, góp phần bình ổn tỷ giá, tạo tâm lý tốt

và điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn, tăng cường xuất khẩu.

Ngoài các biện pháp bảo hộ nói trên, chính phủ còn áp dụng các biện pháp

khác như qui định các quy chế hành chính kỹ thuật nhằm kiểm soát nhập khẩu; từ

ngày 8/9/1998 chính phủ cũng đã lập ra quỹ thưởng cho các doanh nghiệp xuất

khẩu, theo đó, đối tượng được thưởng là các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu

hàng mới lần đầu tiên xâm nhập thị trường nước ngoài, những mặt hàng có chất

lượng cao, được tổ chức quốc tế về đánh giá chất lượng sản phẩm công nhận

bằng văn bản; thâm nhập thị trường xuất khẩu cho hàng hoá xuất khẩu của Việt

Nam; mở rộng thị trường, gia tăng được kim ngạch xuất khẩu đối với những mặt

hàng cần khuyến khích xuất khẩu; sản xuất mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều

nguyên vật liệu sản xuất trong nước, thu hút nhiều lao động trong nước hoặc các

doanh nghiệp xuất khẩu ngoài hạn ngạch, có kim ngạch từ 50 triệu USD/năm trở

lên. Biện pháp này đã tỏ ra có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích các

doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu như trong các ngành dệt may, việc thưởng đã

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

65

làm tăng tỷ trọng sử dụng vải, nguyên phụ liệu trong nước để sản xuất hàng xuất

khẩu, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường ngoài hạn ngạch tăng. Thực tế, tại các

doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu cho thấy họ thích thú vì được thưởng, hay chạy

đua để được thưởng. Tiền thưởng có thể chưa nhiều nhưng có sự động viên rất

lớn. Có doanh nghiệp nói rằng: “Một trăm đồng tiền công không bằng một đồng

tiền thưởng”.

Có thể nói rằng, sau khi mở cửa thị trường, nhà nước ta đã không ngừng

đưa các biện pháp để kích thích nền kinh tế nói chung và hoạt động ngoại thương

nói riêng phát triển, đặc biệt đã liên tiếp thực hiện các cải cách về thuế quan và

phi thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần

không nhỏ vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế của nước nhà. Trong

các biện pháp trên có nhiều biện pháp đạt hiệu quả cao, cần tiếp tục phát huy

nhưng cũng có một số biện pháp còn bất cập và trong quá trình thực hiện nhà

nước phải từng bước sửa đổi, bổ sung, áp dụng thêm những biện pháp khác lấy từ

kinh nghiệm của các nước khác điển hình như Nhật Bản.

II. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG TỪ CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN ĐỐI

VỚI VIỆT NAM Trước khi bước vào thời kỳ phát triển kinh tế cao độ, nền kinh tế Nhật Bản

cũng đã phải trực diện với bối cảnh quốc tế giống với Việt Nam: phải có chiến

lược như thế nào trước trào lưu chung của thế giới là mở cửa và hội nhập vào các

tổ chức thương mại và kinh tế quốc tế trong khi nền kinh tế nước mình còn non

yếu ? Và cuối cùng, người Nhật đã tìm ra chiến lược mở cửa, hội nhập đúng đắn

cho mình - một chiến lược góp phần quan trọng vào việc làm cho nền kinh tế

"phát triển thần kỳ" như đã thấy- bao gồm việc giải quyết 3 vấn đề đặt ra:

- Mở cửa như thế nào để hàng ngoại nhập không cản trở sự phát triển của

các ngành sản xuất trong nước.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

66

- Việc mở cửa phải kết hợp như thế nào với chiến lược, chính sách làm

cho các ngành sản xuất ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và

thế giới.

- Để hội nhập có hiệu quả, tranh thủ được nhiều nhất cơ hội của thị trường

thế giới, phải có chiến lược và tổ chức như thế nào việc đẩy mạnh xuất khẩu.

Việt Nam và Nhật Bản, ngoài những điểm khác biệt cũng có những tương

đồng, đặc biệt là về mặt kinh tế. Cả hai nước đều là nước nông nghiệp, đi lên từ

một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá đến kiệt quệ và không còn con đường nào

khác là đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, phải tham gia, hội nhập vào các tổ chức

thế giới. Từ đó, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản để đưa ra

một chính sách thuế phù hợp thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển trong

những năm tới.

1. Bài học và khả năng áp dụng về chính sách thuế quan

1.1 Áp dụng giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu cho phù hợp với

thông lệ quốc tế

Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại 3 cách xác định giá tính thuế là:

- Giá theo hợp đồng (giá CIF).

- Giá tối thiểu do nhà nước qui định.

- Giá do hợp đồng qui định.

Từ kinh nghiệm của Nhật Bản, đồng thời để phù hợp với các qui định về

trị giá tính thuế quan của GATT, chúng ta nên xác định trị giá tính thuế dựa trên

gía trị kinh doanh tức giá thực trả hoặc có thể trả cho hàng hoá được ghi trong

hoá đơn hay các chứng từ khác của người bán mà dựa vào đó việc thanh toán

được thực hiện. Trong trường hợp hàng hoá không thể sử dụng, giá trị kinh

doanh sẽ áp dụng các phương pháp khác để quyết định giá trị như : giá của các

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

67

hàng hoá giống hệt, giá của hàng hoá tương đương hay phương pháp khấu trừ,

phương pháp dự phòng.

1.2 Giảm mức thuế và thuế suất

Trong thời gian vừa qua, nhà nước ta đã tiến hành nhiều sửa đổi để giảm

mức thuế và thuế suất. Tuy nhiên so với các nước nói chung và Nhật Bản nói

riêng thì còn nhiều và dàn trải rộng, do đó cần thu hẹp chẳng hạn còn khoảng

mười mức từ 0% đến 50% để tạo sự công bằng trong kinh doanh, thu hút các nhà

đầu tư nước ngoài. Chúng ta cũng cần nâng mức thuế suất các mặt hàng có thuế

suất dưới 5% và giảm thuế suất đối với một số mặt hàng có thuế suất cao và quá

cao (trên 50%).

1.3 Đa dạng các biện pháp tính thuế

Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam hiện nay chỉ mới áp dụng phương pháp

tính thuế theo giá. Theo phương pháp này, số tiền thuế thu được tăng lên khi giá

hàng hoá tăng nhưng trong trường hợp giá hàng thấp thì ngược lại, làm cho

nguồn thu ngân sách không ổn định. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp có những

hàng hoá nhu cầu trong nước đang rất cần nhưng do hàng hoá tăng cộng thêm giá

thuế phải trả tăng khiến cho giá khi đến tay người tiêu dùng quá cao không thể

mua được, gây khó khăn cho quá trình sản xuất, tiêu dùng của nhân dân trong

nước.

Do vậy, ngoài cách tính thuế theo giá như hiện nay, cũng như Nhật Bản, ta

nên áp dụng thêm các cách tính thuế khác như thuế theo lượng nhập khẩu, hoặc

hỗn hợp cả hai vừa theo giá vừa theo lượng, thuế lựa chọn, thuế theo mùa, thuế

chênh lệch đối với hàng hoá nhập khẩu. Mỗi cách đều có ưu điểm, nhược điểm,

điều quan trọng là cần nghiên cứu, xem xét nên chọn cách tính thuế nào cho phù

hợp với mỗi loại hàng hoá khác nhau để vừa bảo hộ sản xuất trong nước, thoả

mãn nhu cầu của người tiêu dùng lại vừa đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân

sách.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

68

Ở Nhật Bản, thuế theo lượng được áp dụng đối với mặt hàng điển hình là

dầu lửa. Việc tiêu thụ dầu dùng trong sản xuất và dùng trong tiêu dùng ở Nhật

Bản chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế

tăng trưởng cao độ, nhập khẩu chiếm đến 90% đồng thời giá dầu hay thay đổi

theo sự điều chỉnh của OPEC và quan hệ cung cầu trên thị trường, vì lẽ đó, Nhật

đã chọn cách tính theo lượng. Đối với Việt Nam, chúng ta cũng có thể áp dụng

thuế theo lượng đối với một số mặt hàng mà nhu cầu trong nước rất cần nhưng

giá của hàng hoá đó lại hay biến động.

Việt Nam là một đất nước thuộc vùng nhiệt đới, thuận lợi cho việc trồng

các loại cây ăn quả, rau các loại ... sản xuất nông nghiệp của ta so với các nước

còn lạc hậu và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nhiều loại rau quả chỉ thu hoạch

được theo mùa và chi phí sản xuất cũng thường cao hơn các nước. Trong những

năm gần đây, nhờ kỹ thuật hiện đại, áp dụng biện pháp chế biến, bảo quản, người

dân Việt Nam có thể ăn những loại rau quả trái mùa. Tuy nhiên, nếu không có

những biện pháp bảo hộ hàng hoá do người nông dân sản xuất trước sự cạnh

tranh của hàng hoá ngoại nhập đặc biệt là từ Trung Quốc với giá rẻ thì có thể làm

cho lợi nhuận của người nông dân thấp đi do phải bán với giá rẻ hoặc hàng hoá bị

tồn đọng. Từ đó, phải chăng nhà nước cũng nên áp dụng thuế theo mùa đối với

táo, lê ... của Trung Quốc. Nhưng phần lớn những mặt hàng này nhập khẩu từ

Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch hoặc buôn lậu nên việc kiểm soát để thực

hiện đánh thuế gặp nhiều khó khăn.

1.4 Giảm thuế suất nhanh các ngành có lợi thế cạnh tranh mạnh,

giảm thuế chậm cho các ngành có khả năng cạnh tranh kém

Theo qui định của Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT),

đến đầu năm 2006 (chậm hơn các nước thành viên khác 3 năm), Việt Nam phải

hoàn thành chương trình giảm thuế nhập khẩu nhằm đạt mức thuế suất cuối cùng

từ 0 ~ 5%. Đồng thời để tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế như WTO ,

Việt Nam có thể giảm thuế theo hướng cắt giảm thuế sớm nhất đối với những

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

69

ngành hàng có thế mạnh về xuất khẩu, tiếp đó là những ngành hàng có thể cạnh

tranh với hàng nhập khẩu và sau cùng là những ngành hàng thiếu khả năng cạnh

tranh với hàng nhập khẩu, trong trường hợp cần thiết để bảo hộ ngành sản xuất

non trẻ trong nước có thể xin bảo lưu chưa tham gia điều khoản đó như Nhật Bản

đã thực hiện.

Ở Việt Nam, những ngành hàng có thể coi là có thế mạnh xuất khẩu bao

gồm các mặt hàng nông sản (gạo, cafê, chè ... ), thuỷ sản, dệt may, cao su ...

Nhóm ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu như ngành hàng rau

quả, thực phẩm chế biến, các sản phẩm hoá chất, cơ khí, xi măng ... Những ngành

hàng giấy, đường, luyện kim, khoáng sản ... thuộc nhóm các ngành hàng có tiềm

năng cạnh tranh kém so với hàng nhập khẩu.

Nhà nước dựa vào tình hình sản xuất trong nước và nước ngoài để xác định

các mặt hàng cần bảo hộ chặt chẽ và những mặt hàng có thể tự do hoá thông qua

biện pháp thuế quan.

1.5 Thực hiện chế độ miễn, giảm thuế lâu dài và chế độ miễn giảm

thuế tạm thời

Căn cứ vào những yêu cầu của nền kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục mà

Việt Nam có thể áp dụng chế độ miễn, giảm thuế lâu dài đối với những hàng hoá

phục vụ cho mục tiêu dài hạn như nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu mà

trong nước không có hoặc khan hiếm, những hàng hoá nhập khẩu cần thiết đối

với cuộc sống của người dân Việt Nam, những hàng hoá dùng vào mục đích

nghiên cứu khoa học, phát triển giáo dục ... và chế độ miễn, giảm thuế tạm thời

đối với những hàng hoá nhà nước cần thường xuyên theo dõi để điều chỉnh cho

phù hợp với sự biến động của tình hình trong nước cũng như ngoài nước. Hơn

nữa, việc qui định miễn, giảm thuế tạm thời là để tránh hiện tượng ỷ lại vào

những đặc quyền của các doanh nghiệp trong nước và tránh làm suy giảm năng

lực cạnh tranh.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

70

1.6. Mở rộng diện mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Để đảm bảo sự công bằng đối với những giao dịch trong nước, từ tháng

4/1989 chính phủ Nhật Bản không chỉ đánh thuế tiêu thụ đối với hàng trong nước

mà đối với ngay cả hàng nhập khẩu từ nước ngoài. Thuế tiêu thụ tại cửa khẩu

cùng với hải quan. Thuế tiêu thụ được miễn đối với hàng hoá xuất khẩu, trong

trường hợp những hàng hóa xuất khẩu đã nộp thuế tiêu thụ thì số tiền thuế đã thu

được hoàn trả lại. Thuế tiêu thụ đóng vai trò là một loại thuế tài chính của chính

phủ Nhật Bản, số tiền thuế thu vào ngân sách chính phủ hàng năm ngày càng

tăng.

Ở Nhật Bản, thuế tiêu thụ là một loại thuế gián tiếp đánh vào tất cả các

hàng hoá, dich vụ, ngay cả những hàng hoá nhập khẩu, dù được miễn thuế nhập

khẩu cũng vẫn phải chịu thuế tiêu thụ.

Tại Việt Nam, chỉ có 12 nhóm hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả sản xuất

trong nước và nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Để bảo hộ

sản xuất trong nước, tăng thu ngân sách nhà nước đặc biệt là khi thực hiện AFTA

và các định chế của APEC cũng như tham gia vào WTO mà theo đó Việt Nam

phải từng bước giảm mức thuế quan xuống, chúng ta nên đưa thêm nhiều mặt

hàng như nhóm mặt hàng tiêu dùng thành phẩm cao cấp (mỹ phẩm, nước hoa, đồ

kim hoàn...) vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vì thuế tiêu thụ đặc biệt là một

loại thuế nội địa, không thuộc đối tượng đàm phán khi ký kết các hiệp định quốc

tế.

2. Bài học và khả năng áp dụng về các biện pháp phi thuế quan

Dựa trên những biện pháp mà Nhật Bản đã thực hiện thành công cùng với

tình hình Việt Nam ngày nay, có thể đưa ra những giải pháp sau để bảo hộ sản

xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

71

2.1 Đơn giản hoá thủ tục xuất nhập khẩu

Vấn đề thủ tục xuất nhập khẩu hiện nay ở nước ta mặc dù đã được các cơ

quan, bộ ngành từng bước sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh cho phù hợp với xu thế

chung trên thế giới nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, gây trở ngại cho hoạt

động xuất nhập khẩu. So với Nhật Bản và các quốc gia khác, thủ tục xuất nhập

khẩu của ta còn rất phức tạp, rườm rà, nhiều qui định không rõ ràng, đặc biệt là

hiện tượng cửa quyền gây khó dễ cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập

khẩu, làm cho các đối tác nước ngoài có thể từ bỏ ý định đầu tư vào Việt Nam.

2.2 Tăng cường quản lý chất lượng hàng xuất khẩu

Về vấn đề này, nhà nước ta cần chú trọng đúng mức bởi thị trường thế giới

chỉ đánh giá chất lượng hàng hoá Việt Nam theo nhóm hàng, chứ không quan

tâm nhiều đến tên tuổi doanh nghiệp sản xuất hoặc xuất khẩu sản phẩm đó nên

nếu để hàng kém chất lượng tiêu thụ ở nước ngoài sẽ làm giảm uy tín nhiều mặt

hàng xuất khẩu của Việt Nam, ảnh hưởng xấu đến những doanh nghiệp kinh

doanh xuất khẩu lớn. Chẳng hạn, vừa qua có tình trạng lái buôn ngâm tôm vào

nước làm tăng trọng lượng lên 7 ~ 10% khiến cho hàng xuất khẩu bị khiếu nại trả

lại. Sau đợt đó, chúng ta mất luôn cả khách hàng lẫn thị trường .

Ngày nay, không chỉ Việt Nam mà ở nhiều nước khác trên thế giới, nói

đến hàng Nhật Bản là người ta nghĩ đến những sản phẩm có chất lượng tốt, đó

chính là ngay từ đầu Nhật Bản đã có sự kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hoá

xuất khẩu thông qua các tổ chức, cơ quan chuyên trách được thành lập, theo đó

chỉ những hàng hoá có đủ tiêu chuẩn đặt ra mới được xuất khẩu để đảm bảo uy

tín của hàng hoá Nhật.

Trong xu thế hiện nay, các doanh nghiệp cạnh tranh chính là bằng chất

lượng, dịch vụ bán hàng và sau bán hàng chứ không phải hoàn toàn bằng giá cả

như trước đây nên việc gây ấn tượng ban đầu về chất lượng hàng hoá Việt Nam

đối với người tiêu dùng là rất cần thiết để tạo điều kiện dễ dàng cho việc buôn

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

72

bán về sau, tiếp cận với thị trường thế giới. Bên cạnh việc thiết lập cơ quan kiểm

tra, chúng ta có thể dần dần luật hoá những qui định cụ thể về các yếu tố tối thiểu

liên quan đến chất lượng hàng xuất khẩu để bảo vệ uy tín hàng hoá Việt Nam.

2.3 Chuyển một số mặt hàng từ chế độ cấm nhập khẩu sang chế độ

hạn ngạch nhập khẩu kết hợp với biện pháp thuế quan :

Trong số các biện pháp cấm hoặc hạn chế nhập khẩu, đánh thuế đối với

những hàng hoá cạnh tranh với những sản phẩm quan trọng sản xuất trong nước,

cấm nhập khẩu biện pháp mang tính cưỡng chế cao nhất nên hậu quả xấu gây ra

cũng lớn. Chẳng hạn như trường hợp thuốc lá điếu do bị cấm nhập khẩu trong

khi hoạt động hải quan của nước ta vẫn còn lỏng lẻo đã gây nên tình trạng buôn

lậu rất nhiều và nhà nước thì bị thất thu thuế. Vì vậy, ngoài những hàng cấm (vũ

khí, ma tuý ...) đối với các loại hàng hoá khác như thuốc lá điếu nên chuyển sang

áp dụng các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu kết hợp với thuế quan là nếu hàng

hoá vượt quá hạn ngạch qui định thì phải chịu thuế suất cao.

2.4 Đầu tư hệ thống phân phối sản phẩm

Mặc dù thị trường nội địa với gần 80 triệu dân rất hấp dẫn các doanh

nghiệp nhưng để trụ được là điều không dễ dàng trước sự tràn ngập của hàng

ngoại nhập đặc biệt là hàng Trung Quốc, chủ yếu nhập lậu hoặc theo đường tiểu

ngạch. Ví dụ như hàng dệt may Việt Nam với bình quân 75% giá trị đầu vào gồm

bông sơ, hoá chất, thuốc nhuộm ... được nhập khẩu nên sản phẩm may làm ra giá

còn cao, khó cạnh tranh để tìm chỗ đứng. Trong thời gian qua, các giải pháp bảo

hộ như dán tem chống hàng giả vẫn đang tỏ ra bất cập với thực tế các sản phẩm

như vải, may mặc ... chính vì vậy việc đầu tư cho hệ thống bán hàng, mở rộng

các đại lý là rất cần thiết để đưa hàng hoá Việt Nam trở nên phổ biến trong hành

vi tiêu dùng của người Việt Nam thông qua việc thực hiện chiết khấu hoa hồng

cho những người bán hàng của Việt Nam sản xuất hoặc sẵn sàng nhận hàng hoá

bị trả lại ...

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

73

2.5 Chính sách tỷ giá hối đoái

Một tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá phù hợp là nhân tố quan trọng góp

phần thực hiện định hướng của hoạt động xuất nhập khẩu. Nếu tỷ giá hối đoái

chính thức quá cao sẽ làm cho hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với hàng nội địa,

còn hàng xuất khẩu trở nên đắt hơn do phải chịu chi phí cao từ lạm phát trong

nước, dẫn đến khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, một điều hoàn toàn

bất lợi đối với Việt Nam đang thiếu vốn và ngược lại.

Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu, Việt

Nam nên thực hiện một chính sách tỷ giá hối đoái như thế nào cho phù hợp. Nên

chăng là chúng ta cần có một chiến lược dài hạn cho việc xây dựng tỷ giá hối

đoái, tránh biến động lớn về tỷ giá, gây rủi ro cho các doanh nghiệp hoạt động

sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu,

thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Để thực hiện chiến lược này, cần giảm bớt biên

độ giao dịch của tỷ giá hối đoái ở mức nhỏ (0,5%~1%) và nâng dần tỷ giá chính

thức lên ở mức nhỏ. Nếu không, chúng ta có thể thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái

cố định tạo điều kiện dễ dàng cho việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch lâu dài mà

không thể thiếu được cho công cuộc đưa một nước có nền kinh tế đang phát triển

thành nước phát triển như Việt Nam. Hơn nữa, việc qui định này còn làm cho

nguồn vốn trong nước có hạn cũng không bị lôi cuốn vào đầu cơ ngoại hối như

trước và có thể tập trung vào cho đầu tư thực chất.

KẾT LUẬN

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

74

Nhật Bản là một nước đảo nghèo tài nguyên thiên nhiên và phải chu cấp

cho một số dân hơn 120 triệu người trên một diện tích tương đối nhỏ. Tuy nhiên,

bất chấp những điều kiện hạn chế này và việc cơ sở chế tạo của đất nước bị tàn

phá trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã không những có thể xây

dựng lại được nền kinh tế của mình mà còn trở thành một trong những quốc gia

công nghiệp hàng đầu thế giới và ngày càng đuổi sát, thách thức vị trí cường

quốc kinh tế số một của Mỹ. Đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển của

Nhật Bản không thể không nói đến vai trò quan trọng của chính sách thuế quan

và phi thuế quan.

Từ những năm đầu bước vào công cuộc hồi phục đất nước sau chiến tranh

cho đến lúc đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, các ngành sản xuất của Nhật

Bản vốn đã bị tàn phá hầu hết muốn vực dậy thì cần có sự hỗ trợ đắc lực của

chính phủ. Trong giai đoạn này, chính phủ đã thực hiện một loạt các biện pháp

thuế quan và phi thuế quan mang tính chất bảo hộ sản xuất trong nước, thúc đẩy

xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, từng bước nâng cao vị thế quốc gia.

Sau khi các ngành sản xuất trong nước đã lớn mạnh, có khả năng cạnh

tranh trên thị trường trong nước và thế giới, đồng thời, trước xu thế quốc tế hoá

và toàn cầu hoá, chính phủ Nhật Bản đã dần dần nới lỏng các biện pháp bảo hộ

chặt trong thời kỳ trước, nhờ đó mà tránh được mâu thuẫn thương mại, thúc đẩy

hơn nữa hoạt động ngoại thương phát triển.

Từ việc phân tích, nghiên cứu chính sách thuế quan và phi thuế quan và

sự phát triển ngoại thương của của Nhật Bản cùng hiện trạng chính sách thuế

quan và phi thuế quan ở Việt Nam, trên cơ sở đó có thể rút ra những bài học kinh

nghiệm bổ ích, phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Tài liệu Tiếng Việt:

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

75

1. GS, TS, Dương Phú Hiệp – TS Nguyễn Duy Dũng “Điều chỉnh chính sách

kinh tế của Nhật Bản” 2002

2. "Nhật Bản ngày nay", NXB Hiệp hội quốc tế về thông tin giáo dục, Tokyo

1993.

3. Goro Ono, "Chính sách công nghiệp cho công cuộc đổi mới", NXB Chính trị

quốc gia, 1998.

4. GS.PTS Bùi Xuân Lưu, "Giáo trình thuế & hệ thống thuế ở Việt Nam", trường

Đại học Ngoại thương, 1998.

5. GS.PTS Bùi Xuân Lưu, "Giáo trình chính sách ngoại thương", trường Đại học

Ngoại thương, 2002.

6. Hiroshi Nakajima - Harumi Uraoka, "Nhật Bản - tăng cường hiểu biết và hợp

tác", NXB Tokyo United Publisher Inc, 1998.

7. "Các chính sách huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế của

Nhật Bản", NXB Chính trị quốc gia, 1996.

8. Chalmers Johnson, "MITI và sự thần kỳ của Nhật Bản", Viện kinh tế thế giới,

1989.

9. Lê Văn Sang, "Kinh tế Nhật Bản : giai đoạn thần kỳ", Viện Kinh tế thế giới,

1998.

10. Yasusuke Marakami, "Kinh tế học chính trị Nhật Bản", NXB Khoa học xã

hội, 1994.

11. Chủ Hữu Quý, "Nông nghiệp nông thôn Nhật Bản", NXB Sự thật, 1991.

12."Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản” NXB Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản.

B. Tài liệu Tiếng Nhật:

* Japan Almanac 2001

Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương - A2 - CN9

__________________________________________________________ _____________

76

Đơn vị chủ quản: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THIÊN THI
Địa chỉ: 41-43 Trần Cao Văn, P6, Q3, HCM
giấy phép MXH: 102/GXN - TTĐT