VỐN CHỦ SỞ HỮU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Số trang: 27
Mã số: 631637
Loại file: PDF
Nhúng
Toàn màn hình
Thích
/ 27
Sao chép
Đang tải
BẤM ĐỂ XEM THÊM
Thông tin tài liệu
Ngày đăng: 2011-08-15 12:21:34
1.1. Vốn chủ sở hữu là gì?Vốn chủ sở hữu (VCSH) hay vốn tự có của ngân hàng là nguồn vốn riêng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và đƣợc bổ sung trong quá trình kinh doanh.Vai trò của VCSH của ngân hàng:- Là tấm đệm chống lại rủi ro phá sản- Điều kiện bắt buộc để có giấy phép hoạt động- Tạo niềm tin cho công chúng và sự đảm bảo với chủ nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng- Cung cấp năng lực tài chính và điều tiết sự tăng trƣởng và phát triển của ngân hàng- Quyết định quy mô hoạt động của NHTM và xác định tỷ lệ an toànĐặc điểm của VCSH của ngân hàng:- Chỉ chiếm 5% đến 10% tổng nguồn vốn HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM VỐN CHỦ SỞ HỮU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Giới thiệu chung về vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại 1.1. Vốn chủ sở hữu là gì? Vốn chủ sở hữu (VCSH) hay vốn tự có của ngân hàng là nguồn vốn riêng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và đƣợc bổ sung trong quá trình kinh doanh. Vai trò của VCSH của ngân hàng: - Là tấm đệm chống lại rủi ro phá sản - Điều kiện bắt buộc để có giấy phép hoạt động - Tạo niềm tin cho công chúng và sự đảm bảo với chủ nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng - Cung cấp năng lực tài chính và điều tiết sự tăng trƣởng và phát triển của ngân hàng - Quyết định quy mô hoạt động của NHTM và xác định tỷ lệ an toàn Đặc điểm của VCSH của ngân hàng: - Chỉ chiếm 5% đến 10% tổng nguồn vốn - Ổn định và luôn đƣợc bổ sung trong quá trình phát triển 1.2. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam Xét quy mô vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trong những năm gần đây, có thể thấy nhìn chung, quy mô vốn còn rất nhỏ. Hệ thống NHTM Nhà nƣớc vẫn chiếm đến hơn 70% thị phần huy động vốn đầu vào và thị phần cho vay, trong khi tổng mức vốn tự có của các NHTM Nhà nƣớc chỉ tƣơng đƣơng với một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực, với mức vốn tự có trung bình của một ngân hàng này là 4.200 tỷ đồng, hệ số an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro, Capital Adequacy Ratio – CAR) bình quân thấp. Các NHTM ngoài quốc doanh có mức vốn tự có bình quân và hệ số an toàn vốn cao hơn nhƣng lại không chiếm thị phần chủ yếu. Tuy vậy, có thể khẳng định rằng các ngân hàng đều đang tích cực tăng vốn điều lệ và hệ số an toàn vốn những năm vừa qua. Đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân hàng tăng 30% so với cuối năm 2007, tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%. Một số HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM thống kê cho thấy hệ số CAR tại các ngân hàng thƣơng mại của khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng bình quân hiện nay là 13,1%, của khu vực Đông Á là 12,3%. Đây cũng là mức mà thực tế một số ngân hàng thƣơng mại Việt Nam đã có. Tính đến cuối năm 2007, hệ số CAR của nhiều ngân hàng thƣơng mại đã vƣợt yêu cầu mà Ngân hàng Nhà nƣớc đặt ra cho mục tiêu đến năm 2008. Tiêu biểu nhƣ Vietcombank, ACB, Sacombank, BIDV, EAB, MHB… Hệ số an toàn vốn của một số ngân hàng tính đến cuối năm 2007 (đơn vị: %) Vietcombanâ BIDV Agribank MHB ACB Sacombanâ EAB 12 11 7,O 9,44 16,1V 11,0T 14,3S Bình quân, hệ số CAR của các NHTM quốc doanh đã tăng từ 7% trong năm 2006 lên 9% trong năm 2007; tỷ lệ này của các NHTM cổ phần cao hơn, bình quân trên 12%, của Vietcombank 2008 là 8,9%, 2009 dự tính dƣới 8%; của Sacombank dự tính 2008 là 11,9%, 2009 là 10,9%;… Trong cơ cấu vốn, tỷ lệ vốn nợ luôn chiếm tỷ lệ lớn 90%. Trong đó tiền gửi chiếm khoảng 78% tổng nguồn vốn. Nhiều nƣớc quy định tỷ lệ VCSH/ Tổng vốn huy động là 1/13, 1/20, 1/80. Ở Việt Nam, con số này là 1/20. Thực trạng cơ cấu ...
— Xem thêm —
Từ khóa:
Bình luận