Phân tích Giá trị nhân văn trong vợ chồng A Phủ

Số trang: 11
Mã số: 529009
Loại file: PDF
Nhúng
Toàn màn hình
Thích
/ 11
Sao chép
Phân tích Giá trị nhân văn trong vợ chng A Ph
V chng A Ph tác phm trong tp Truyn Tây Bc của Tô Hoài, được gii
nht tiu thuyết, giải thưởng Hội Văn nghệ Vit Nam 1954-1955. V chng A Ph
được sáng tác vào khong 1952-1953, là kết qu ca cuc thâm nhập đời sng vào
các dân tộc Thái, Dao, Hmông, Mường trên các vùng cao Tây Bc đất nước.
Trước và sau khi sáng tác truyện này, Tô Hoài đã và vn gi mt tình cm sâu
nng với đồng bào min núi. Ông tng sng chung vi h, ông hc mt ít tiếng
Thái, Hmông để giao tiếp, từng đo tay kết làm anh em vi mt số người, tng
nhn một ni con Hmông làm con nuôi, tng là bn thân ca nhiu cán b lãnh
đạo người min núi [1]. Có th nói V chng A Ph cũng như các truyện khác
trong Truyn Tây Bc là kết tinh ca vn sng, vn hiu biết và nht là tình yêu
thương, lòng kính trng của nhà văn đối với người dân min núi Tây Bắc nước ta.
V chng A Ph và c tp Truyn Tây Bc có mt v trí chc chắn trong văn học
đương đại Vit Nam. Nó m rộng đề tài văn hc sang nhng vùng núi ho lánh
chưa được nhà văn đào xi. Nó nhìn nhận con người min núi vi mt tình cm
trân trọng, yêu thương, gần gũi. Và ch yếu là truyn ngắn đã xây dựng được
nhng hình tượng sống động làm người đọc nh mãi. Tác phẩm đã được nhà văn
chuyn th và dng thành phim.
Bn thân truyn V chng A Phủ đã được viết đi viết li my lần. Văn bản hin
nay là kết qu ca ln viết th ba, khác nhiu so vi lần đầu tiên. Tuy vy tác gi
vn thấy thành công chưa đu. “Phn sau truyn còn lng lo so vi phần trước”.
Phn sau là phn k v chng A Phủ sau khi đến Phing Sa, Tô Hoài vn mong
được viết li. Trong kch phim V chng A Phủ ông đã viết hay hơn, được nhà
văn Nguyễn Tuân khen. Nhưng câu chuyn viết li không phi là chuyn d dàng.
Trong tp Truyn ngn Vit Nam 1945-1985 (Nxb Văn học, Hà Ni, 1985), khi
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO 0906.345.800
tuyn truyn này, tác giả đã ct b phn sau và truyn kết thúc đoạn hai người đã
b xa Hng Ngài ti Phiềng Sa. Câu “Hai ngưi nhn là v chng. Mà tht thì A
Ph và Mị đã thành v chồng” đã khép li câu chuyn.
Chủ đề ca truyn V chng A Ph, theo li Tô Hoài phát biu vào năm 1960 là:
“Nông dân các dân tc Tây Bắc bao năm gian khổ chống đế quc và bọn chúa đất.
Cuộc đấu tranh giai cp, riêng Tây Bc, mang mt sắc thái đặc bit. Nhìn lướt
qua nơi thế lc phong kiến còn đương kéo lùi đất nước lại hàng trăm năm trước”,
nhưng “các dân tộc đã không lng l chịu đựng. Hđã thc tnh. Cán b của Đng
ti đâu thì các dân tộc đứng lên ti đấy, trước nht là những người tr tui. H tht
đẹp và yêu đi… còn mt phút sng vn còn chđợi, vn mong, vn tin mt ngày
bình yên, yên vui ca tình yêu và của đất nước”. Hơn 40 năm sau, khoảng năm
1994, Tô Hoài li nhn mạnh đến s phận đắng cay của người ph n min núi,
ngoài việc lao đng cc nhc, còn b mê tín, thn quyn cm tù trong tinh thn.
Nhưng tình yêu và tui trđã chiến thng tù ngc phong kiến và thn quyn. Cuc
kháng chiến ca các dân tộc đã đưa học lên con đường chiến đấu bo v hnh
phúc ca chính h. Tác giđặc biệt lưu ý ti vđẹp ca tui trtình yêu ca h,
vẻ đẹp ca tâm hn M trong gi khc ct dây cu thoát cho A Ph và cho chính
mình. Có thcoi đó là những gợi ý để đi sâu phân tích nội dung và ngh thut tác
phm.
1. Nhng thân phn trâu nga nơi địa ngc trn gian
Mđầu tác phm, tác gi gii thiu ngay với người đọc hình nh ca M, mt cô
gái, con dâu thng lí, mt buồn rười rượi: “Lúc nào cũng vậy, dù quay si, thái c
nga, dt vi, ch củi hay đi cõng nước dưới khe sui lên, cô y cũng cúi mặt, mt
buồn rười rượi” Đó là nét mặt muôn thu ca cô dâu tr n, mt sn phm ca
chế độ bóc lt n lãi min núi.
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO 0906.345.800
B m M vay tin ca thống lí để làm đám cưới, mỗi năm trả lãi một nương ngô.
Mười mấy năm, bố mẹ đẻ ra M, Mị đã ln, ri m Mị đã chết, b M già yếu mà
vn không tr hết n! Nhà thng lí bt M v làm dâu gán n. Sau này A Ph cũng
b buc vay n np pht và phi n. “Bao gi có tin thì cho về, chưa có tiền thì
phi làm con trâu con nga” cho thống lí. Đời này, đời con, đời cháu, bao gi
hết n thì thôi”. Như vậy là người n s tr thành trâu ngựa đời đời, không
mong gì thoát ra được!
Hai t “trâu nga” trong ming thng lí Pá Tra nói ra hoàn toàn không phi là nói
theo nghĩa bóng, mà là theo nghĩa đen. Mị v làm dâu ch có vùi vào vic cả đêm
lẫn ngày. Quanh năm suốt tháng, lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ li nhng vic ging
nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mt… Tết xong thì lên núi hái thuc phin, giữa năm
thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù đi hái củi, lúc bung ngô,
lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước si. Bao gi cũng thế, sut
năm suốt đời như thế.
Chng M không xem Mlà người, “chẳngm nào cho Mị đi chơi Tết”. Khi thy
M muốn đi chơi, A Sử liền bước li, nm M, ly thắt lưng trói hai tay M. Nó
xách c mt thúng sợi đay ra trói đng Mo ct nhà. Tóc M xoã xung, nó
qun luôn tóc lên ct, làm cho Mkhông cúi, không nghiêng được đầu na. Trói
xong v, A S thắt lưng xanh ra ngoài áo ri tắt đèn, khép cửa bung li. Hn trói
v cũng như thắt cái dây lưng, tắt đèn khép cửa, dửng dưng, lnh lùng, không suy
nghĩ, không xúc động! Đoạn sau, khi M bóp thuc cho A S, mt quá thiếp đi, A
S tàn nhẫn “đạp chân vào mt M”. NhàTra đã có lần trói đứng một người
con dâu cho đến chết. Đến lượt A Ph cũng bị trói đứng như vậy! Có thnói đó là
mt tc lệ đã mt hết nhân tính.
Cng c cho tc l y là tư tưởng mê tín dị đoan. Cướp v v, trình ma, cho người
vay n, cũng trình ma. Mt thế lc vô hình trói buc và hù doạ người dân lao động
min núi, làm cho h s hãi, cam chu, nm im trongm kp. Cnh tiếng nhc
BẤM ĐỂ XEM THÊM
Thông tin tài liệu
Ngày đăng: 2013-04-21 23:34:40
Vợ chồng A Phủ là tác phẩm trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, được giải nhất tiểu thuyết, giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955. Vợ chồng A Phủ được sáng tác vào khoảng 1952-1953, là kết quả của cuộc thâm nhập đời sống vào các dân tộc Thái, Dao, Hmông, Mường trên các vùng cao Tây Bắc đất nước. Trước và sau khi sáng tác truyện này, Tô Hoài đã và vẫn giữ một tình cảm sâu nặng với đồng bào miền núi.
— Xem thêm —