Tài liệu ôn tập Ngữ văn 12 – 2011HĐBM Ngữ văn – Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp

Lượt xem: 260
Số trang: 0
Mã số: 507055
Loại file: PDF
Nhúng
Toàn màn hình
Thích
/ 0
Sao chép
Tài liệu chưa hiển thị phần xem trước tài liệu
Tải xuống 5,000₫ (0 trang)
Thông tin tài liệu
Ngày đăng: 2012-04-21 08:54:58
------------------------------------------------------------
PHẦN I: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

I. Khái niệm.
  - Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội
chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng – sai, cái tốt –
xấu của vấn đề được nêu ra. Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị
luận cũng như vận dụng nó vào đời sống.
  - Gồm có hai dạng:
    + Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
    + Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
II. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
  1. Khái niệm: quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề
tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời. Bao gồm:
    + Lí tưởng (lẽ sống)
    + Cách sống
    + Hoạt động sống
    + Mối quan hệ trong cuộc đời giữa con người với con người (cha con, vợ
chồng, anh em và những người thân thuộc khác). Ở ngoài xã hội có các quan hệ:
tình làng nghĩa xóm, thầy trò, bạn bè…
  2. Hai dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường gặp:
    + Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách trực tiếp.
    Ví dụ:
    Đề 1. Suy nghĩ của anh/chị về đức tính hy sinh.
    Đề 2. Trình bày ý kiến của anh/chị về vấn đề:
       Sự tự tin của con người trong cuộc sống.
    + Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách gián tiếp: Ở dạng
đề này, vấn đề tư tưởng, đạo lí được ẩn trong một câu tục ngữ, một câu danh
ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện, một văn bản ngắn…
    Ví dụ:
    Đế 1: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày ý kiến của anh/chị về
câu nói sau đây của nhà văn Nga Lep Tôn-xtôi:
    “Bạn đừng nên chờ đợi những quà tặng bất ngờ của cuộc sống mà hãy tự mình
làm nên cuộc sống”.
    Đề 2: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị
về câu nói sau:Tài liệu ôn tập Ngữ văn 12 – 2011HĐBM Ngữ văn – Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp
------------------------------------------------------------
PHẦN I: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

I. Khái niệm.
  - Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội
chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng – sai, cái tốt –
xấu của vấn đề được nêu ra. Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị
luận cũng như vận dụng nó vào đời sống.
  - Gồm có hai dạng:
    + Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
    + Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
II. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
  1. Khái niệm: quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề
tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời. Bao gồm:
    + Lí tưởng (lẽ sống)
    + Cách sống
    + Hoạt động sống
    + Mối quan hệ trong cuộc đời giữa con người với con người (cha con, vợ
chồng, anh em và những người thân thuộc khác). Ở ngoài xã hội có các quan hệ:
tình làng nghĩa xóm, thầy trò, bạn bè…
  2. Hai dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường gặp:
    + Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách trực tiếp.
    Ví dụ:
    Đề 1. Suy nghĩ của anh/chị về đức tính hy sinh.
    Đề 2. Trình bày ý kiến của anh/chị về vấn đề:
       Sự tự tin của con người trong cuộc sống.
    + Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách gián tiếp: Ở dạng
đề này, vấn đề tư tưởng, đạo lí được ẩn trong một câu tục ngữ, một câu danh
ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện, một văn bản ngắn…
    Ví dụ:
    Đế 1: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày ý kiến của anh/chị về
câu nói sau đây của nhà văn Nga Lep Tôn-xtôi:
    “Bạn đừng nên chờ đợi những quà tặng bất ngờ của cuộc sống mà hãy tự mình
làm nên cuộc sống”.
    Đề 2: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị
về câu nói sau: ------------------------------------------------------------ PHẦN I: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI  I. Khái niệm.   - Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng – sai, cái tốt – xấu của vấn đề được nêu ra. Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống.   - Gồm có hai dạng:     + Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.     + Nghị luận về một hiện tượng đời sống. II. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.   1. Khái niệm: quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời. Bao gồm:     + Lí tưởng (lẽ sống)     + Cách sống     + Hoạt động sống     + Mối quan hệ trong cuộc đời giữa con người với con người (cha con, vợ chồng, anh em và những người thân thuộc khác). Ở ngoài xã hội có các quan hệ: tình làng nghĩa xóm, thầy trò, bạn bè…   2. Hai dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường gặp:     + Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách trực tiếp.     Ví dụ:     Đề 1. Suy nghĩ của anh/chị về đức tính hy sinh.     Đề 2. Trình bày ý kiến của anh/chị về vấn đề:        Sự tự tin của con người trong cuộc sống.     + Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách gián tiếp: Ở dạng đề này, vấn đề tư tưởng, đạo lí được ẩn trong một câu tục ngữ, một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện, một văn bản ngắn…     Ví dụ:     Đế 1: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày ý kiến của anh/chị về câu nói sau đây của nhà văn Nga Lep Tôn-xtôi:     “Bạn đừng nên chờ đợi những quà tặng bất ngờ của cuộc sống mà hãy tự mình làm nên cuộc sống”.     Đề 2: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói sau:Tài liệu ôn tập Ngữ văn 12 – 2011HĐBM Ngữ văn – Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp ------------------------------------------------------------ PHẦN I: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI  I. Khái niệm.   - Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng – sai, cái tốt – xấu của vấn đề được nêu ra. Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống.   - Gồm có hai dạng:     + Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.     + Nghị luận về một hiện tượng đời sống. II. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.   1. Khái niệm: quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời. Bao gồm:     + Lí tưởng (lẽ sống)     + Cách sống     + Hoạt động sống     + Mối quan hệ trong cuộc đời giữa con người với con người (cha con, vợ chồng, anh em và những người thân thuộc khác). Ở ngoài xã hội có các quan hệ: tình làng nghĩa xóm, thầy trò, bạn bè…   2. Hai dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường gặp:     + Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách trực tiếp.     Ví dụ:     Đề 1. Suy nghĩ của anh/chị về đức tính hy sinh.     Đề 2. Trình bày ý kiến của anh/chị về vấn đề:        Sự tự tin của con người trong cuộc sống.     + Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách gián tiếp: Ở dạng đề này, vấn đề tư tưởng, đạo lí được ẩn trong một câu tục ngữ, một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện, một văn bản ngắn…     Ví dụ:     Đế 1: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày ý kiến của anh/chị về câu nói sau đây của nhà văn Nga Lep Tôn-xtôi:     “Bạn đừng nên chờ đợi những quà tặng bất ngờ của cuộc sống mà hãy tự mình làm nên cuộc sống”.     Đề 2: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói sau:
— Xem thêm —
Từ khóa: văn họctài liệu