Thành ngữ và tục ngữ trong thơ nôm Hồ Xuân Hương

Lượt xem: 151
Số trang: 5
Mã số: 37535
Loại file: DOC
Nhúng
Toàn màn hình
Thích
/ 5
Sao chép
Thành ngữ và tục ngữ trong thơ
nôm Hồ Xuân Hương
Người ta thường bảo “Nôm na là cha mách qué”, thế nhưng với
thơ Hồ Xuân Hương thì đó lại là một ngoại lệ, bởi vì người đọc
nhớ Xuân Hương, yêu Xuân Hương lại chính từ cái sự “mách qué”
ấy. Nếu không có cái chất “nôm na”, “mách qué”, “xỏ xiên” đầy
tinh quái này thì có lẽ đã không có một Xuân Hương để cho người
đời chiêm ngưỡng và tôn vinh Bà thành Bà chúa thơ Nôm trong
làng thơ Việt Nam. Chính cái chất nôm na trong thơ của Bà đã tạo
nên một chất men xúc tác mãnh liệt trong lòng người đọc. Người
ta ngây ngất, hỉ hả, khoái trá với cái thứ ngôn ngữ “nhà quê, mách
qué” như: đỏ lòm lom, già tom, mân mó, tấp tênh, lún phún, le te,
chín mõm mòm,... Tất cả những cái đó hoàn toàn xa lạ với sự trau
chuốt, gọt giũa, khuôn sáo mà người ta thường bắt gặp trong ngôn
ngữ thơ. Ngoài những đặc trưng ấy, người ta còn bắt gặp ở Bà một
biệt tài nữa trong việc vận dụng tiếng nói dân gian trong thơ. Đó
là việc đưa thành ngữ, tục ngữ vào trong thơ, làm cho câu thơ trở
nên giàu tính hình tượng, dễ nhớ, và độc đáo hơn.
Qua sự khảo sát trong số 39 bài thơ trong tập Thơ Hồ Xuân Hương
do tác giả Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu được Nhà xuất
bản Văn học xuất bản năm 1987, chúng tôi đã phát hiện được 15
trường hợp có xuất hiện các yếu tố của thành ngữ, tục ngữ trong
những câu thơ. Đây quả là một con số không nhỏ, nó cho thấy
thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương có vị trí và vai
trò đặc biệt quan trọng như thế nào. Quả là hiếm có một nhà thơ
nào lại quan tâm đặc biệt đến vai trò của ngôn ngữ dân gian như
Hồ Xuân Hương.
Việc đưa thành ngữ, tục ngữ vào tác phẩm đã được nhà thơ xử lí
rất tinh tế, tài tình và nhuần nhuyễn. Có những tác phẩm tuy rất
ngắn nhưng chúng ta đã không khỏi ngạc nhiên khi thấy tác giả đã
hai lần sử dụng đến yếu tố thành ngữ, tục ngữ. Chẳng hạn như:
Bài Mời trầu có hai câu thành ngữ xanh như lá và bạc như vôi
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO 0906.345.800
được áp dụng trong câu thơ "Đừng xanh như lá, bạc như vôi". Bài
Khóc Tổng Cóc lại có hai câu thành ngữ khác là nòng nọc đứt đuôi
và gọt gáy bôi vôi được áp dụng trong hai câu thơ “Nòng nọc đứt
đuôi từ đây nhé, Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”. Hoặc như
ở bài Quan thị thì hai câu thơ "Đố ai biết đó vông hay trốc, Còn kẻ
nào hay cuống với đầu" lại chính là hai hình ảnh hết sức ví von
được rút ra từ hai câu tục ngữ[/i] ngồi lá vông, chổng mông lá trốc
[/i]và đầu trỏ xuống, cuống trỏ lên.
Thậm chí có bài như bài Làm lẽ, chỉ với tám câu thơ ngắn nhưng
lại có tới ba câu thành ngữ đã góp phần vào trong ấy, đó là "Năm
thì mười hoạ chăng hay chớ" lấy từ ý của câu thành ngữ năm thì
mười hoạ; “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm" lấy từ ý của câu thành ngữ
cố đấm ăn xôi; và câu "Cầm bằng làm mướn, mướn không công"
lấy từ ý của thành ngữ làm mướn không công. Ngoài ra, còn có
những bài khác cũng được vận dụng từ ý của thành ngữ, tục ngữ
như: "Tài tử văn nhân ai đó tá?" (Tự tình I) lấy ý của thành ngữ tài
tử giai nhân. "ấy ai thăm ván cam lòng vậy" (Tự tình III) lấy ý
thành ngữ thăm ván bán thuyền. "Bảy nổi ba chìm với nước non"
(Bánh trôi nước) ý của thành ngữ ba chìm bảy nổi (bảy nổi ba
chìm). "Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo" (Đèo Ba Dội) ý của
thành ngữ mỏi gối chồn chân. "Bán lợi mua danh nào những kẻ"
(Chơi chợ chùa Thầy) ý của thành ngữ bán lợi mua danh (mua
danh bán lợi). Và "Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi" (Con ốc nhồi) từ
ý của thành ngữ lăn lóc như cóc bôi vôi.
Qua một số dẫn chứng trên, chúng ta có thể thấy rằng Hồ Xuân
Hương khi đưa thành ngữ, tục ngữ vào thơ thường chủ yếu thông
qua hai phương thức chính như sau:
Phương thức thứ nhất là vận dụng trực tiếp thành ngữ, tục ngữ
vào thơ, tức là lấy nguyên văn, nguyên dạng những câu thành
ngữ, tục ngữ vốn có của dân gian để đưa vào thơ như trường hợp:
xanh như lá, bạc như vôi (Đừng xanh như lá, bạc như vôi - Mời
trầu); nòng nọc đứt đuôi (Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé - Khóc
Tổng Cóc); năm thì mười hoạ, (Năm thì mười hoạ chăng hay chớ -
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO 0906.345.800
Làm lẽ); cố đấm ăn xôi (Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm - Làm lẽ); bảy
nổi ba chìm (Bảy nổi ba chìm với nước non - Bánh trôi nước); mỏi
gối chồn chân (Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo - Đèo Ba Dội);
bán lợi mua danh (Bán lợi mua danh nào những kẻ - Chơi chợ
chùa Thầy). Cách xử lí này phải nói là tương đối khó bởi vì nó đòi
hỏi tác giả phải có một khả năng cảm nhận hết sức tinh tế về nghĩa
của những câu thành ngữ, tục ngữ mà họ định sử dụng để xem nó
có phù hợp với ý thơ mà mình định trình bày ở trong câu và trong
bài hay không. Đồng thời, tác giả cũng phải là người hết sức giỏi
về khả năng xử lí ngôn từ để có thể “ghép” những câu thành ngữ,
tục ngữ, vốn là một “khối từ ngữ đúc sẵn”, vào với những từ ngữ
chủ quan riêng của mình để tạo nên một câu thơ hoàn chỉnh mà
không bị cứng nhắc, gượng ép về nghĩa cũng như về vần điệu.
Những khó khăn nói trên đã được Hồ Xuân Hương xử lí thành
công một cách tuyệt vời. Chúng ta thử lấy một ví dụ nhỏ trong số
các ví dụ trên thì sẽ thấy rõ hơn biệt tài của Bà trong vấn đề này.
Ví dụ trong bài Làm lẽ, để miêu tả thân phận hẩm hiu, thua thiệt
của người vợ lẽ trong cuộc sống vợ chồng, tác giả đã sử dụng hai
câu thành ngữ năm thì mười hoạ và cố đấm ăn xôi trong hai câu
thơ "Năm thì mười hoạ chăng hay chớ" và "Cố đấm ăn xôi, xôi lại
hẩm". Đối với tiềm thức văn hoá của người Việt thì hai câu thành
ngữ này vốn rất quen thuộc vì nó thường được sử dụng để nói tới
sự trái khoáy, trớ trêu của một điều gì đó. Vì vậy trong trường hợp
này phải nói rằng Xuân Hương đã sử dụng nó rất hợp cảnh hợp
tình.
Phương thức thứ hai là chỉ lấy ý của thành ngữ, tục ngữ để chuyển
vào trong thơ chứ không áp dụng hoàn toàn như ở cách thứ nhất.
Chẳng hạn như: thăm ván bán thuyền (ấy ai thăm ván cam lòng
vậy - Tự tình III); gọt gáy bôi vôi (Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi
vôi - Khóc Tổng Cóc); làm mướn không công (Cầm bằng làm
mướn, mướn không công - Làm lẽ); ngồi lá vông, chổng mông lá
trốc (Đố ai biết đó vông hay trốc - Quan thị); đầu trỏ xuống, cuống
trỏ lên (Còn kẻ nào hay cuống với đầu - Quan thị); lăn lóc như cóc
bôi vôi (Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi - Con ốc nhồi). Cách xử lí
Tải xuống 5,000₫ (5 trang)
Thông tin tài liệu
Ngày đăng: 2012-12-29 22:48:33
Thành ngữ và tục ngữ trong thơ nôm Hồ Xuân Hương Người ta thường bảo “Nôm na là cha mách qué”, thế nhưng với thơ Hồ Xuân Hương thì đó lại là một ngoại lệ, bởi vì người đọc nhớ Xuân Hương, yêu Xuân Hương lại chính từ cái sự “mách qué” ấy. Nếu không có cái chất “nôm na”, “mách qué”, “xỏ xiên” đầy tinh quái này thì có lẽ đã không có một Xuân Hương để cho người đời chiêm ngưỡng và tôn vinh Bà thành Bà chúa thơ Nôm trong làng thơ Việt Nam. Chính cái chất nôm na trong thơ của Bà đã tạo nên một chất men xúc tác mãnh liệt trong lòng người đọc. Người ta ngây ngất, hỉ hả, khoái trá với cái thứ ngôn ngữ “nhà quê, mách qué” như: đỏ lòm lom, già tom, mân mó, tấp tênh, lún phún, le te, chín mõm mòm, . Tất cả những cái đó hoàn toàn xa lạ với sự trau chuốt, gọt giũa, khuôn sáo mà người ta thường bắt gặp trong ngôn ngữ thơ. Ngoài những đặc trưng ấy, người ta còn bắt gặp ở Bà một biệt tài nữa trong việc vận dụng tiếng nói dân gian trong thơ. Đó là việc đưa thành ngữ, tục ngữ vào trong thơ, làm cho câu thơ trở nên giàu tính hình tượng, dễ nhớ, và độc đáo hơn. Qua sự khảo sát trong số 39 bài thơ trong tập Thơ Hồ Xuân Hương do tác giả Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu được Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1987, chúng tôi đã phát hiện được 15 trường hợp có xuất hiện các yếu tố của thành ngữ, tục ngữ trong những câu thơ. Đây quả là một con số không nhỏ, nó cho thấy thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng như thế nào. Quả là hiếm có một nhà thơ nào lại quan tâm đặc biệt đến vai trò của ngôn ngữ dân gian như Hồ Xuân Hương.
— Xem thêm —
Bình luận