Thực trạng và một vài ý kiến nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí tại tp.hồ chí minh

Lượt xem: 146
Số trang: 5
Mã số: 35293
Loại file: DOCX
Nhúng
Toàn màn hình
Thích
/ 5
Sao chép
THỰC TRẠNG VÀ MỘT VÀI Ý KIẾN NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
Tóm tắt
Ô nhiễm môi trường không khí một thuật ngữ đã ra đời từ rất lâu cùng với Ô nhiễm môi trường.
Ngày nay, thuật ngữ này trở nên phổ biến, trở thành một vấn đề nóng của cả thế giới bởi những hậu quả
mà nó gây ra và đáng buồn là nhiều con người trên thế giới trong đó có cả Việt Nam phải chấp nhận sống
chung với như một tất yếu. sao lại như vậy? Bài viết y xin trình bày một cách khái quát dễ
hiểu nhất về lịch sử về ô nhiễm môi trường, cũng như thực trạng một số ý kiến nhằm giảm thiểu ô
nhiễm môi trường không khí ở Tp.Hồ Chí Minh.
Sơ lược lịch sử
Ô nhiễm môi trường không khí thì không có gì mới nhưng nó vẫn là một đề tài nóng bỏng từ khi con
người phải nhận hậu quả từ việc ô nhiễm môi trường và thay đổi nhận thức về nó. Trở về thời kỳ Trung cổ
tại nước Anh, khi mà đốt than phương pháp bản đề người dân chống lại cái lạnh, thì bắt đầu phát
sinh các vấn đề về môi trường đặc biệt là môi trường không khí do khói đen được phát ra từ các ống khói.
Nhà vua đã ban hành lời công bố về việc điều tiết sử dụng than đá nhưng điều này không giải quyết được
vấn đề.m 1952, một sự kiện kinh khủng về ô nhiễm môi trường không khí đã gây trấn động c nước
Anh, đó là hiện tường “sương mù màu đen” đã làm hơn 4000 người chết.
Thời gian trôi qua, năng lực sản xuất phát triển, lúc y con người coi trọng lợi nhuận hơn chất
lượng môi trường mà họ đang sống. Cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra trên phạm vi toàn thế giới, hàng
loạt các nhà máy sản xuất ra đời. Văn minh, vật chất đi lên khiến cho con người quên đi rằng chất lượng
môi trường đặc biệt là bầu không khí mà họ đang hít thở ngày càng đi xuống.
Bắt đầu từ khi những hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra thể hiện ngày càngràng, cùng với sự
phát triển về nền tri thức nhân loại, con người bắt đầu có những đánh giá, dự đoán về sức ảnh hưởng của
ô nhiễm môi trường đặc biệt “biến đổi khí hậu toàn cầu” đối với vận mệnh nhân loại thì chúng ta bắt
đầu thay đổi cách nhìn về nó. “Nghị định thư Kyoto” được ký kết mang tầm quốc tế vào năm 2005, đây là
một nghị định liên quan đến Chương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu. Nó chính thức đánh dấu sự
quan tâm của cả thế giới về vấn đề “biến đổi khí hậu toàn cầu”.
Cho đến nay, hưởng của ô nhiễm môi thể hiện ngày càng trầm trọng hậu quả quá trình nóng lên
toàn cầu diễn ra càng nét không có dấu hiệu dừng lại. Đơn cử là sự chết từ từ của quốc đảo Tuvalu
do sự dâng lên của mực nước biển, nhiều quốc đảo khác cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng. Về phía
chúng ta, trongo cáo mới nhất của quan phân tích rủi ro Maplecroft (Anh), các nhà khoa học đánh
giá Việt Nam đứng thứ 13 trong số 16 nước chịu tác động mạnh nhất của hiện tượng “Biến đổi khí hậu”.
Thực trạng môi trường không khí ở Tp.Hồ Chí Minh.
thể nói, Tp. Hồ Chí Minh một thành phố trẻ, đông dân nhất, đồng thời cũng một trung m
kinh tế, văn hóa, giáo dục của Việt Nam. Với nhiều yếu tố thuận lợi về vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu ôn
hòa, lịch sử lâu đời, với cấu dân tr dồi dào, Tp.Hồ Chí Minh được đánh giá “Hòn Ngọc Viễn
Đông”. Minh chứng, trong năm 2010, khi cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính trên thế giới diễn ra
phức tạp, Tp,Hồ Chí Minh đã hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội và phần lớn đạt kế hoạch.
Theo số liệu của Tổng cục thống tốc độ tăng trưởng GDP của Tp.Hồ Chí Minh năm 2010 đạt 11,8%.
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO 0906.345.800
Song cùng với việc thực hiện nhiều mục tiêu phát triển kinh tế, hệ quả tiêu cực là áp lực của việc ô nhiễm
môi trường đặc biệt là môi trường không khí đè nặng lên đô thị này.
- Ô nhiễm bụi: môi trường không khí xung quanh của hầu hết các khu vực trong Tp.Hồ Chí Minh
đều nhiễm bụi, đặc biệt các nút giao thông, các khu vực công trường y dựng, các khu công
nghiệp. Dựa theo tiêu chuẩn đánh giá mức độ ô nhiễm không khí thể đề cập đến ô nhiễm bụi dựa trên
các loại bụi sau:
+ Bụi PM
10
:nồng độ bụi PM
10
của Tp.Hồ Chí Minh các năm đều vượt ngưỡng được khuyến khích
của WHO (20 µg/m
3
). Theo TTKTTV Quốc gia, Chi cục BVMT Tp. Hồ Chí Minh, năm 2010 nồng độ
PM
10 của
Tp.Hồ Chí Minh năm 2006 năm ở mức 80 µg/m
3
tức là là vượt tiêu chuẩn cho phép (50 µg/m
3
).
+ Bụi lơ lửng tổng số (TSP): tình trạng ô nhiễm bụi lửng tổng số (TSP) không chỉ tp.Hồ Chí
Minh nhiều thành phố lớn nước đề mức đáng lo ngại, đặc biệt hai bên các đường giao thông
chính. (Biểu đồ 1)
Biểu đồ 1. Diễn biến nồng độ TSP tại một số tuyến đường phố giai đoạn 2005-2009
Nguồn: Các trạm QT&PTMT vùng (Đất liền 1, 2, 3) – Mạng lưới QT&PTMT quốc gia, 2010
Theo số liệu Các trạm QT&PTMT vùng (Đất liền 1, 2, 3) Mạng lưới QT&PTMT quốc gia năm
2010, nồng độ TSP của tp.Hồ Chí Minh năm 2008 là trên 400 µg/m
3
đỉnh điểm vào năm 2005 trên
500 µg/m
3
. Như vậy không chỉ có các tuyến đường giao thông mà các khu dân cư cũng gặp phải vấn đề ô
nhiễm bụi, đặc biệt khu dân cư nằm sát khu vực đang có hoạt động xây dựng hoặc gần đường có mật độ
xe lớn.
- Ô nhiễm một số khí độc hại: do đặc điểm hàng ngày tại tp.Hồ Chí Minh hoạt động giao thong đều
diễn ra mức cao đặc biệt vào giờ cao điểm khi mà lượng xe cộ lưu thông trên đường cao, dẫn đến
nồng độ các khí độc hại như CO, SO
2
, NO
2
trong không khí đều ở mức cao. Cùng với đó, hoạt động công
nghiệp cũng phát sinh một lượng lớn SO
2
- Ô nhiễm chì: Nồng độ chì xu hướng tăng trong một vài năm gần đây, tuy nhiên theo số liệu
quan trắc của Chi cục BVMT Tp.Hồ Chí Minh, mặc dù nồng độ chì trung bình 24 giờ vẫn nằm trong giới
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO 0906.345.800
hạn cho phép nhưng từ năm 2005, nồng độ bắt đầu tăng hơn so với năm trước. Năm 2006, nồng độ chì đã
tăng 1,4 – 2,4 lần so với năm 2005.
- Benzen, toluen xylen: Nồng độ khí benzen, toluen xylen đều có xuớng tăng cao ven
các trục giao thông đường phố. Theo kết quả quan trắc của Chi cục BVMT Tp.Hồ Chí Minh, trong những
năm qua cho thấy xu hướng gia tăng nồng độ các chất benzene, toluene, xylem trong không khí tp.Hồ Chí
Minh. Nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng này do lượng xe giới tăng rất nhanh, trong khi đó chất
lượng xăng lại không được đảm bảo.
Các nguồn gây ô nhiễm không khí
Chất lượng không khí Tp.Hồ Chí Minh hiện đang suy giảm một cách nhanh chóng. Nguyên nhân của
sự suy giảm này chủ yếu do 3 nguồn chính: Hoạt động công nghiệp, do quá trình đô thị hóa, hoạt đọng
sinh hoạt và dịch vụ cộng đồng.
- Hoạt động công nghiệp:
Trên địa bàn tp.Hồ Chí Minh có tổng số 15 KCX – KCN với gần 1000 doanh nghiệp hoạt động. Qua
kết quả thanh tra cho thấy, bên cạnh những cơ sở thật sự quan tâm đến công tác BVMT, coi đó như là mục
tiêu quan trọng để quảng thương hiệu, mở rộng thị trường, không thể tách rời với phát triển sản xuất,
thì vẫn còn không ít cơ sở được thanh tra chỉ quan tâm đến lợi nhuận thu được, chưa quan tâm đầu tư cho
công tác BVMT sức khoẻ cộng đồng chất lượng môi trường sống của toàn hội. Sự cách nhìn
nhận của các doanh nghiệp trước vấn đề ô nhiễm môi trường đã vô tình làm trầm trọng thêm tình trạng ô
nhiễm môi trường nước và môi trường không khí tại T.P Hồ chí Minh.
- Đô thị hóa:
Tp.Hồ Chí Minh tốc độ đô thị hóa rất nhanh mạnh cùng với tốc độ phát triển kinh tế, chính
vậy kéo theo sự gia tăng dân số nhanh chóng. So với tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999, sau 10 năm dân
số của thành phố tăng thêm 2,086 triệu người, tăng 41,4% chiếm 22% số dân tăng thêm của cả nước.
Tổng số hộ dân toàn thành phố đạt mức 1.812.086 hộ. Mật độ dân số thành phố cũng đã đạt 3.400
người/km2, tăng 41,4% so với mật độ dân số thành phố 10 năm trước (2.404,4 người/km2). nh đến
ngày 1/4/2009, tổng số dân của TPHCM là 7.123.340 người (nữ 3.697.415 và nam 3.425.925). Tn cơ sơ
dân số đông đã tao nên áp lực ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trương không khí. Nguyên nhân chính
của sự ô nhiểm đó chính là ô nhiễm do giao thông đô thị và xây dựng.
Theo số liệu của Cục đăng kiểm Việt Nam, số lượng xe máy trung bình trên 1000 dân Tp.Hồ Chí
Minh vào năm 2006 471 chiếc. Ngoài ra, cuộc tổng kết số liệu năm 2007 của Chi cục BVMT tp Hồ
Chí Minh, số lượng phương tiện cơ giới đăng ký tại Tp.Hồ Chí Minh năm 2006 là trên 3 triệu xe. Từ việc
tăng trưởng số phương tiện trên địa bàn thành phố khá nhanh dẫn đến mức độ tiêu thụ nhiên liệu (Biểu đồ
2) nhằm vận hành chúng vd: xăng, dầu diesel. những nguyên liệu này nguồn phát thải ra các chất
khí độc gây ô nhiễm không khí như CO, hơi xăng dầu (H
m
C
n
, VOC), SO
2
, chì, benzene, toluene
xylem…
Tải xuống 5,000₫ (5 trang)
Thông tin tài liệu
Ngày đăng: 2012-12-26 14:26:57
Thực trạng và một vài ý kiến nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí tại tp.hồ chí minh 1. Sơ lược lịch sử ô nhiễm môi trường không khí. 2. Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí tại tp. Hồ Chí Minh 3. Một vài giải pháp
— Xem thêm —
Bình luận