Nhúng
Toàn màn hình
/ 12
Sao chép
Đang tải
Tải xuống tài liệu (12 trang)
Thông tin tài liệu
Ngày đăng: 2012-12-18 16:45:26
1 Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều - Nguyễn Du-phần 11 1.Vị trí đoạn trích. Bị bán vào nhà chứa của mụ Tú Bà. Thúy Kiều rút dao tự vẫn nhưng không chết. Đạm Tiên báo mộng số nàng chưa thoát kiếp đoạn trường. Mụ Tú Bà cho Kiều ra ở lầu Ngưng Bích. Mắc lừa Sở Khanh, bị Tú Bà bắt về đánh đập dã man, buột Kiều phải tiếp khách. Đoạn trích này bắt đầu từ đó ( Câu 1229 đến câu 1248). 2. Bố cục :hai đoạn + Đoạn một, mười câu đầu: Cảnh sống ô nhục ở lầu xanh và tâm trạng đau đớn, tủi nhục của Thúy Kiều. + Đọan hai, còn lại: Thái độ thờ ơ của Thúy Kiều trước cảnh, thú vui ở lầu xanh, ý thức về nhân phẩm của nàng. II. Đọc – hiểu 1. Cảnh sống ở lầu xanh - Trong mười câu thơ đầu, có tới 4 câu tác giả miêu tả cảnh sống ở lầu xanh: Biết bao bướm lả ong lơi Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm Dập dịu lá gió cành chim Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh Biết bao : diễn tả sự việc xảy ra thường xuyên, rất nhiều không thể tính được. Sau từ “biết bao” là cuộc sống xô bồ, trác tác “cuộc say đầy tháng”, “trận cười suốt đêm”. “Trận cười” chứ không phải tiếng cười. Đó là cái cười khả ố, tiếng cười khả ố, tiếng cười của kẻ thỏa mãn trong sắc dục, dâm dật đến điên lọan. - Cái tài của Nguyễn Du là sử dụng các thành ngữ và tách thành ngữ để mang sắc điệu riêng: “ong bướm lả lơi” thành “bướm lả, ong lơi” gây ấn tượng về sự giao tình ở chốn lầu xanh mụ Tú Bà. - Hình ảnh “lá gió cành chim” giúp người đọc có sự liên tưởng: Lá đón gió, cành đón chim như thân phận của con gái làm những việc đưa và đón, sớm và tối. Nhục nhã bao nhiêu khi thể xác bị dày vò. Nhịp thơ diễn tả sự buông thả thân xác người con gái, mặc cho khách làng chơi tha hồ đùa cợt. Chỉ bốn câu thơ mà cuộc sống ở lầu xanh hiện ra mồn một. Trong dòng chảy đục ngầu những dơ bẩn của nhà chứa. Thái độ Thúy Kiều như thế nào? - Diễn tả nổi thương mình của Thúy Kiều: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh … ong chường bấy thân” Đây là 6 câu thơ diễn tả nỗi đau đớn đến tê đi tái lại: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh Giật mình mình lại thương mình xót xa” Chỉ khi “tỉnh rượu”, “tàn canh”, Kiều mới được sống với chính mình. Đấy là lúc nàng “giật mình” xót xa vì thân xác bị dày vò, thảm hại. - Ba tiếng mình trong câu tám cũng để chỉ một Thúy Kiều, diễn đạt nỗi đau mất mát chỉ mình mình biết, chỉ mình mình hay. Nỗi đau chỉ mình biết thôi đau lắm, xót lắm. Nó không thể san sẻ cùng ai. Đây cũng là biệt tài của Nguyễn Du trong việc sử dụng từ ngữ. Từ nỗi đau của thân phận, lời thơ bật lên những câu hỏi: “Khi sao phong gấm rả là… Giờ tan tác như hoa giữa đường Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân” - Những từ ngữ sóng đôi khi/giờ, mặt/thân đặt trong những câu hỏi: Khi sao? Giờ sao? Mặt sao? Thân sao? Cả quá khứ và hiện tại, cả đời sống tinh thần và thân xác, tất cả đem đến cho người đọc hai đọan đời và muôn nỗi tái tê. - Thúy Kiều ý thức được về thân phận của mình qua liên tưởng “tan tác như hoa giữa đường”. Đời nàng, thân phận nàng lúc này như bông hoa rụng vứt giữa đường bị bao bước chân vô tình xéo, đap không thương tiếc. - Nguyễn Du đã sử dụng những thành ngữ và tách thành những câu riêng: + “Gió sương dày dạn” : dày gió, dạn sương diễn tả sự chai lì không còn biết gì là xấu hổ nữa. + “Ong bướm chán chường” : “Bướm chánong chường” diễn tả sự ê chề mỏi mệt đến chán chường của thân xác và tinh thần của Thúy Kiều. Đời nàng lại đến như thế ư? Thúy Kiều đã ý thức được tất cả càng thấy thương mình. Ơû đây có nỗi đau của thân phận, nỗi đau thay đổi giá trị con người. Kiều càng thấy thương thân, tiếc thân. Đây thực chất là những tiếng kêu vút lên từ ngục tối nhà chứa. Nó đòi quyền sống quyền hạnh phúc cho con người. Vì thế thế đọan trích góp phần làm nên giá trị nhân đạo của “Truyện Kiều”. 2. Thái độ của Kiều trước thú vui của khách - Cách chiêu hàng của mụ Tú Bà thể hiện rất rõ: “Lầu xanh mới rủ chướng đào Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người” Ơû đó có nhiều phong cảnh đẹp: “Đôi phen gió tự hoa kề Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu” Câu thơ miêu tả vẻ đẹp đặc trưng của bốn mùa xuân, hạ thu, đông. Mùa xuân có hoa, mùa hạ có gió mát, mùa thu có trăng trong trẻo, mùa đông có tuyết. Đó là vẻ đẹp của phong hoa tuyết nguyệt. - Đến các thú vui: “Đôi phen nét vẽ câu thơ Cung cầm trong nguỵêt nước cờ dưới hoa” Đó là thú cầm, kì, thi, họa. Thúy Kiều biết tất cả đấy. Nhưng thái độ của nàng hoàn toàn khác. Nàng thờ ơ với ...
— Xem thêm —
Bình luận