Tiểu luận kết thúc học phần: Tiểu luận quản lý nhà nước, Chương trình chuyên viên, Đề tài: Sử dụng sai bằng cấp
Lượt xem: 281
Số trang: 15
Mã số: 24
Loại file: DOCX
Nhúng
Toàn màn hình
Thích
/ 15
Sao chép
TIỂU LUẬN CUỐI KHOÁ
LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN
ĐÈ TÀI
X lí tình hung: Cô giáo Nguyn Th M
trưng THCS Z, xã B, Huyn K, Tnh L s
dng văn bng không hp pháp
1
ĐÃT VẤN ĐỀ •
Trang
GIẢI QUYẾT VẤN Đ
Trang
I. Mô tả tình huống
Trang
2. Xác định mục đích, mục tiêu xử lý tình huống
Trang
3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả
Trang
a. Nguyên nhân chủ quan
Trang
b. Nguyên nhân khách quan
Trang
c. Hậu quả:
Trang
4. Xây dựng phương án xử lý
Trang
5. Tổ chức thưc hiên • •
Trang
6. Đánh giá kết quả thực hiện
Trang
III. KẾT LUÂN •
Trang
a. Kết luân •
Trang
b. Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền
Trang
MỤC LỤC
2
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO 0906.345.800
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước đây việc bảo quản, lưu giữ hồ sơ, kiểm tra các loại văn bằng chứng chỉ ừong
các quan nhà nước chưa thực sự được coi trọng đặt lên hàng đầu. Công tác quản
thi cử, tuyển sinh cũng còn nhiều bất cập. Do vậy, một số nhân lợi dụng nhưng kẽ hở
trong công tác quản lý để tham gia học tập, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ cho bản thân. Nhưng do thiếu hiểu biết về quản lý nhà nước, do sự nhận thức chưa thực
sự đúng đắn về các chế độ, chính sách pháp luật của Đảng, nhà nước, nên đã có một số
hành vi không đúng như: sử dụng các loại văn bằng, chứng chỉ không phải của mình để
làm hồ tham gia thi, xét tuyển vào các trường đào tạo, luồn lách vào trong các quan
nhà nước, nâng ngạch, nâng lương nhiều lần trong suốt cả quá trình công tác không bị
quan nào phát hiện. Ngành Giáo dục Đào tạo huyện K, tỉnh L cũng đã nhận đựơc
một số thông tin ứong ngành có giáo viên đang sử dụng văn bằng không hợp pháp.
Thực hiện văn bản số 21/KH-BCĐ, ngày 08/5/2006 của Ban chỉ đạo kiểm tra văn
bằng, chứng chỉ tỉnh L về kế hoạch kiểm tra, thanh tra việc cấp phát quản lý, sử dụng văn
bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ứên địa bàn tỉnh L; Cồng văn số 1591/TTr,
ngày 04/8/2006 của Sở Giáo dục Đào tạo L về việc kiểm tra văn bằng chứng chỉ; Kế
hoạch số 657/KHKTVB-GD, ngày 10/10/2006 của phòng Giáo dục huyện K; Kế hoạch
kiểm tra, thanh tra việc cấp phát quản lý, sử dụng văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo
dục quốc dân ngành Giáo dục K đợt II năm học 2006-2007.
Những năm gần đây việc kiểm tra sử dụng các loại văn bằng chứng chỉ của cán bộ,
công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước đã bắt đầu được quan tâm. Lãnh đạo các
cấp cho đó việc làm thường xuyên rất cần thiết để đánh giá cũng như sắp xếp, phân
công công việc cho phù hợp hợp lý hơn đối với cán bộ, công chức, viên chức ứong các
quan nhà nước. vậy, dưới sự chỉ đạo của ngành Giáo dục Đào tạo huyện K qua
quá trình kiểm tra trường THCS z, xã B, huyện K đã phát hiện ra có giáo viên ừong suốt cả
quá trình công tác cũng như quá
3
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO 0906.345.800
trình đào tạo bồi dưỡng các loại văn bằng chứng chỉ không phải của mình của
nhân người khác.
Hiện nay, ngành Giáo dục Đào tạo đang ứiển khai rầm rộ hiệu quả cuộc
vận động "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong Giáo dục, nói không
với việc vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp Bản thân tôi là một cán bộ quản lý
trực tiếp trong hệ thống giáo dục của ngành Giáo dục Đào tạo; Qua học lớp Bồi dưỡng
kiến thức quản nhà nước chương trình chuyên viên khoá XVII tại trường chính trị L,
được tiếp thu trang bị những kiến thức về quản nhà nước, tôi chọn đề tài xử tình
huống: “Cô giáo Nguyễn Thị M trường THCS z, B, huyện K tính L sử dụng văn bằng
không hợp pháp làm đề tài tiểu luận cuối khoá học. Đây một hội tốt để bản thân tôi
vận dụng những kiến thức đã học, liên hệ với thực tế, ứên cơ sở đó tìm tòi, suy nghĩ đưa ra
những giải pháp thiết thực phù hợp giúp cho quá trình công tác của bản thân ngày càng tốt
hơn.
4
BẤM ĐỂ XEM THÊM
Thông tin tài liệu
Ngày đăng: 2014-08-17 10:43:15
TIỂU LUẬN CUỐI KHOÁ LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN ĐÈ TÀI Xử lí tình huống: Cô giáo Nguyễn Thị M ở trường THCS Z, xã B, Huyện K, Tỉnh L sử dụng văn bằng không hợp pháp 1ĐÃT VẤN ĐỀ • Trang GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Trang I. Mô tả tình huống Trang 2. Xác định mục đích, mục tiêu xử lý tình huống Trang 3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả Trang a. Nguyên nhân chủ quan Trang b. Nguyên nhân khách quan Trang c. Hậu quả: Trang 4. Xây dựng phương án xử lý Trang 5. Tổ chức thưc hiên • • Trang 6. Đánh giá kết quả thực hiện Trang III. KẾT LUÂN • Trang a. Kết luân • Trang b. Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền TrangMỤC LỤC 2 ĐẶT VẤN ĐỀ • Trước đây việc bảo quản, lưu giữ hồ sơ, kiểm tra các loại văn bằng chứng chỉ ừong các cơ quan nhà nước chưa thực sự được coi trọng và đặt lên hàng đầu. Công tác quản lý thi cử, tuyển sinh cũng còn nhiều bất cập. Do vậy, một số cá nhân lợi dụng nhưng kẽ hở trong công tác quản lý để tham gia học tập, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân. Nhưng do thiếu hiểu biết về quản lý nhà nước, do sự nhận thức chưa thực sự đúng đắn về các chế độ, chính sách pháp luật của Đảng, nhà nước, nên đã có một số hành vi không đúng như: sử dụng các loại văn bằng, chứng chỉ không phải của mình để làm hồ sơ tham gia thi, xét tuyển vào các trường đào tạo, luồn lách vào trong các cơ quan nhà nước, nâng ngạch, nâng lương nhiều lần trong suốt cả quá trình công tác mà không bị cơ quan nào phát hiện. Ngành Giáo dục và Đào tạo huyện K, tỉnh L cũng đã nhận đựơc một số thông tin ứong ngành có giáo viên đang sử dụng văn bằng không hợp pháp. Thực hiện văn bản số 21/KH-BCĐ, ngày 08/5/2006 của Ban chỉ đạo kiểm tra văn bằng, chứng chỉ tỉnh L về kế hoạch kiểm tra, thanh tra việc cấp phát quản lý, sử dụng văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ứên địa bàn tỉnh L; Cồng văn số 1591/TTr, ngày 04/8/2006 của Sở Giáo dục và Đào tạo L về việc kiểm tra văn bằng chứng chỉ; Kế hoạch số 657/KHKTVB-GD, ngày 10/10/2006 của phòng Giáo dục huyện K; Kế hoạch kiểm tra, thanh tra việc cấp phát quản lý, sử dụng văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ngành Giáo dục K đợt II năm học 2006-2007. Những năm gần đây việc kiểm tra sử dụng các loại văn bằng chứng chỉ của cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước đã bắt đầu được quan tâm. Lãnh đạo các cấp cho đó là việc làm thường xuyên và rất cần thiết để đánh giá cũng như sắp xếp, phân công công việc cho phù hợp và hợp lý hơn đối với cán bộ, công chức, viên chức ứong các cơ quan nhà nước. Vì vậy, dưới sự chỉ đạo của ngành Giáo dục và Đào tạo huyện K qua quá trình kiểm tra trường THCS z, xã B, huyện K đã phát hiện ra có giáo viên ừong suốt cả quá trình công tác cũng như quá 3 trì nh đào tạo bồi dưỡng các loại văn bằng chứng chỉ không phải là của mình mà là của cá nhân người khác. Hiện nay, ngành Giáo dục và Đào tạo đang ứiển khai rầm rộ và có hiệu quả cuộc vận động "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong Giáo dục, nói không với việc vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp Bản thân tôi là một cán bộ quản lý trực tiếp trong hệ thống giáo dục của ngành Giáo dục và Đào tạo; Qua học lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên khoá XVII tại trường chính trị L, được tiếp thu và trang bị những kiến thức về quản lý nhà nước, tôi chọn đề tài xử lý tình huống: “Cô giáo Nguyễn Thị M ở trường THCS z, xã B, huyện K tính L sử dụng văn bằng không hợp pháp ” làm đề tài tiểu luận cuối khoá học. Đây là một cơ hội tốt để bản thân tôi vận dụng những kiến thức đã học, liên hệ với thực tế, ứên cơ sở đó tìm tòi, suy nghĩ đưa ra những giải pháp thiết thực phù hợp giúp cho quá trình công tác của bản thân ngày càng tốt hơn. 4 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG Trường THCS z, xã B thuộc xã vùng III của huyện K được thành lập theo Quyết định số 1988 của Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo L tháng 10 năm 1999. Với tổng số GV, CBCNV ban đầu là 11 biên chế, ứong đó: Ban giám hiệu: 01; Nhân viên: 01; Giáo viên: 09; Học sinh của trường phần lớn là con em của đồng bào các dân tộc ít người ở các thôn bản, em ở xa nhất là 16 km. Điều kiện kinh tế xã hội khu vực còn rất nhiều khó khăn, cơ sở vật chất nhà trường còn nhiều thiếu thốn. về đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên ứong nhà trường chưa được ổn định cả về số lượng, chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và cồng tác tổ chức quản lý cán bộ như: Thiếu giáo viên, nhân viên cũng như cán bộ quản lý. Do nhu cầu phát triển của nhà trường, giáo viên ở các đơn vị khác được điều động cũng bổ sung về trường ứong 2 năm là 12 người; ngoài ra trong năm học do nhu cầu giáo viên đi học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhà trường còn tiếp nhận thêm giáo viên hợp đồng ngắn hạn. Hiện nay nhà trường có 25 GV, CBCNV (Trong đó biên chế 21, 3 hợp động ngắn hạn, 01 giáo viên tăng cường). Vì vậy công tác quản lý hồ sơ còn buông lỏng, chưa được chặt chẽ, quản lý văn bằng chứng chỉ chưa đảm bảo theo đúng yêu cầu của cấp học, đã có giáo viên mượn văn bằng chứng chỉ của bạn để làm hồ sơ theo học các lớp chuẩn hoá nhằm nâng cao trình độ văn bằng cho cá nhân mà nhà trường không phát hiện kịp thời. Thực hiện kế hoạch số 657/KHKTVB-GD, ngày 10/10/2006 của phòng Giáo dục huyện K; Kế hoạch kiểm ứa, thanh ứa việc cấp phát quản lý, sử dụng văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ngành Giáo dục K đợt II năm học 2006-2007 và một số thông tin của quần chúng, trường THCS z, xã B, huyện K tiến hành tổ chức rà soát, kiểm ừa lại toàn bộ hồ sơ của cán bộ, công chức, viên 5 chức trong đơn vị đã phát hiện có cô giáo Nguyễn Thị M, giáo viên chưa tốt nghiệp PTTH nhưng lại có bằng tốt nghiệp và các giấy tờ có liên quan: Họ tên, ngày tháng năm sinh không trùng khớp với hồ sơ lý lịch tại cơ quan đơn vị mình đang công tác. Sau khi nắm được thông tin nhà trường cho kiểm ứa lại toàn bộ hồ sơ của cá nhân cô giáo Nguyễn Thị M thì phát hiện: - Bằng tốt nghiệp Trung học cơ sở tên là Nguyễn Thị c, sinh ngày 25 tháng 11 năm 1968 - Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông tên là Nguyễn Thị Ch, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1965 - Sổ bảo hiểm, Hồ sơ thanh tra, Hồ sơ công chức và các hồ sơ cá nhân có liên quan trong trường THCS z, xã B lưu giữ tên là Nguyễn Thị M, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1968. Nhận được thông tin từ cơ sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện K chỉ đạo nhà trường làm rõ vấn đề việc sử dụng các loại văn bằng chứng chỉ của cô giáo Nguyễn Thị M, nguyên nhân sai lệch từ đâu, để tìm ra được biên pháp tháo gỡ hoặc có h ì nh thức xử lý kịp thời. Tránh việc nắm bắt thông tin một chiều, không chính xác, xử lý không đúng hoặc mắc bệnh thành tích ứong việc xử lý sử dụng văn bằng chứng chỉ giả mạo. Cô Nguyễn Thị M vào ngành từ ngày 15 tháng 10 năm 1998. Đến thời điểm kiểm tra văn bằng chứng chỉ, cô Nguyễn Thị M đã công tác được 19 năm nhưng không có cơ quan chức năng nào phát hiện việc sử dụng văn bằng chứng chỉ không họp lý của cồ. Sau khi có kết quả kiểm ứa sơ bộ ban đầu, nhà trường yêu cầu cá nhân viết bản tự kiểm điểm và tự nhận hình thức kỷ luật (Căn cứ theo Mục 3 điều 15 Nghị định 35/2005/NĐ- CP) Theo bản tự kiểm điểm của cô Nguyễn Thị M, năm 1997 cô Nguyễn Thị M có giấy gọi đi công nhân lâm nghiệp nhưng bản thân cô không thích. Cùng lúc đó bạn của cô M là cô Nguyễn Thị Ch có giấy gọi đi học Trung học sư phạm tại 6 trường Cao đẳng Sư phạm L. Do điều kiện hoàn cảnh gia đình cô Ch khó khăn không đi học được, 2 người đã thoả thuận cô Nguyễn Thị Ch cho cô Nguyễn Thị M mượn Giấy gọi, bằng tốt nghiêp THPT để cho cô Nguyễn Thị M đi học trung học Sư phạm và cô Nguyễn Thị c tự đổi tên thành Nguyễn Thị M từ thòi điểm đấy, cho nên không trùng với tên khai sinh, tên ứong Bằng tốt nghiệp THCS. Tại UBND xã V, huyện K không có danh sách ứích ngang và đơn xin đổi tên của cô Nguyễn Thị M. Trong suốt quá trình công tác và mượn Bằng tốt nghiệp của bạn cô Nguyễn Thị M không theo lớp học văn hoá nào khác nữa. Đến năm 2000 cô Nguyễn Thị M lại sử dụng văn bằng, chứng chỉ đó để theo lớp học chuẩn hoá Cao đẳng sư phạm tại trường Cao đẳng Sư phạm L. Tại khoá học đó nếu chưa học hết chương trình THPT thì phải học 2 năm vì còn phải học thêm các mồn văn hoá, nhưng cồ M vẫn sử dụng Bằng tốt nghiệp THPT của cô Nguyễn Thị Ch cho nên chỉ phải học 1 năm mà không phải học thêm các môn văn hoá khác. Đến tháng 10 năm 2006 cồ Nguyễn Thị M lại tiếp tục làm hồ sơ theo học lớp Đại học tại chức tại trường Đại học L. Qua quá trình học tập được gàn 1 năm cô Ch mới phát hiện cô Nguyễn Thị M vẫn sử dụng bằng tốt nghiệp THPH của mình nên cô đã viết đơn trình báo với trường Đại học L về việc cô Nguyễn Thị M mượn Bằng THPT của mình và viết đơn gửi phòng Giáo dục và Đào tạo huyện K trình bày lý do bị mất bằng tốt nghiệp THPT. Cùng lúc trường Đại học L tổ chức kiểm tra các loại văn bằng, chứng chỉ gốc để làm hồ sơ chuẩn bị cho học sinh thi tốt nghiệp, nên đã thông báo lại cho Đ/C trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện K và trường THCS z, xã B, huyện K kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ cá nhân và các loại văn bằng, chứng chỉ của cô Nguyễn Thị M thì mới phát hiện ra việc sử dụng văn bằng chứng chỉ không hợp lý của cô Nguyễn thị M. 7 Hậu quả là Cô Nguyễn Thị M không thể tiếp tục hoàn thành khoá học tại truờng Đại học L đuợc nữa vì theo yêu cầu của nhà trường phải nộp đầy đủ các văn bằng, chứng chỉ gốc khớp với hồ sơ của cá nhân trong khi Cô Nguyễn Thị M không giải trình được. Tình huống diễn đã ra gây khó khăn, lúng túng đối với phòng Giáo dục và Đào tạo huyện K. Vì vậy, lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo huyện K đã làm tờ trình báo cáo vụ việc với UBND Huyện K để UBND Huyện xử lý. II. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ CỦA TÌNH HUỐNG 1. Nguyên nhân chủ quan Bản thân cô giáo Nguyễn Thị M không ý thức được hậu quả việc mình đang làm, nên để sự việc kéo dài suốt 19 năm mà không có hướng giải quyết. Do cá nhân chưa nghiên cứu kỹ các văn bản quy định của quy chế tuyển sinh hàng năm, chưa nắm chắc về chế độ chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Cồ Nguyễn Thị M chưa có ý thức học tập để nâng cao hơn nữa trình độ văn hoá, chưa trung thực trong việc thực hiện quy chế của ngành, của các cấp, và của Chính phủ đã quy định. Mặc dù cồ Nguyễn Thị M mượn văn bằng, chứng chỉ của bạn để tạo điều kiện cho mình tiến thân nhưng ý thức chủ quan là sẽ không ai phát hiện ra nên bản thân cá nhân cồ không tự phấn đấu đi học thêm văn hoá mà chỉ phấn đấu các bằng cấp về chuyên môn nghiệp vụ. 2. Nguyên nhân khách quan Cồng tác tuyển sinh vào các trường chuyên nghiệp trước đây chưa thực sự chặt chẽ, làm kẽ hở để cho một số số người lợi dụng vào được ứong các trường học bằng mọi cách để được đứng vào trong hàng ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Việc kiểm tra, thanh tra của các ngành, các cấp chưa thường xuyên, liên tục, đôi khi còn mang nặng hình thức, qua loa, đại khái, nể nang. 8 Việc quản lý hồ sơ trong các cơ quan nhà nước chưa thực sự chặt chẽ, khoa học nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. 3. Hậu quả - Hậu quả về kỉnh tế: Trong trường hợp bị xử lý buộc thôi việc thì gia đình cô giáo Nguyễn Thị M sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Thứ nhất là hoàn cảnh gia đình cô giáo Nguyễn Thị M gặp rất nhiều khó khăn, thu nhập chủ yếu dựa vào tiền lương hàng tháng. Cô có chồng là nông dân và hai con nhỏ, cháu lớn đang học lớp 9 và cháu nhỏ học lớp 5. Vì ruộng đất ít lại không có cồng việc làm thêm để tăng thu nhập cho gia đình. Vì tự ái, anh chồng sa vào rượu chè, cờ bạc, bỏ bê vợ con. Những lúc uống say, chồng cô còn chưởi mắng, đánh đập, hành hạ vợ con. Thứ hai, cồ giáo Nguyễn Thị M đã đầu tư nhiều kinh phí và thời gian đi học các lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ như Trung học sư phạm, lớp học chuẩn hoá Cao đẳng sư phạm tại trường Cao đẳng Sư phạm L. - Hậu quả về xã hội: Trong bối cảnh toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang ứiển khai rầm rộ và có hiệu quả cuộc vận động "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong Giáo dục, nói không với việc vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp" và phong trào cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" thì việc sử dụng văn bằng không hợp pháp của cô Nguyễn Thị M làm mất uy tín của cồ đối với đồng nghiệp cũng như trong phụ huynh và trong xã hội, đã vi phạm kỹ cương phép nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín, danh dự của nhà giáo và gây ra những khó khăn nhất định trong công tác phối hợp với phụ huynh, công tác tuyên truyền giáo dục. III. MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG Chúng ta đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tiến tới xây dựng nền kinh tế tri thức và một xã hội hiện đại sẽ được hình thành ừong tương lai. 9 Vì vậy, việc đổi mới giáo dục hiện nay dù ở một lĩnh vực cụ thể nào cũng cần quán triệt để hướng tới mục tiêu cơ bản, lâu dài, đó là: xây dựng một nền giáo dục tiên tiến; phục vụ nhu cầu học tập đa dạng của mọi người. Xây dựng nền giáo dục hiện đại là một quá trình phải đáp ứng nhiều tiêu chí và xây dựng một đội ngũ giáo viên vững mạnh là mục tiêu được Đảng và Nhà nước ta đặt lên hàng đầu. Vì vậy, việc xử lý cô Nguyễn Thị M ở trường THCS z sử dụng văn bằng không hợp pháp cần phải tiến hành một cách nghiêm túc, phải tìm ra hướng giải quyết tốt nhất. Và các phương án lựa chọn phải đạt đến các mục tiêu chính sau đây: Thứ nhất: cần làm rõ các sai phạm của cô giáo Nguyễn Thị M để từ đó có biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Thứ hai: Xây dựng, cũng cố đội ngũ giáo viên ở trường THCS z nói riêng cũng như trên toàn bộ địa bàn huyện K nói chung, đảm bảo về số lượng, chất lượng theo tiêu chuẩn để thực hiện mục đích giáo dục đạt hiệu quả. Thứ ba: Ổn định, tăng cường công tác chính ứị tư tưởng ứong đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh nhằm đảm bảo công tác dạy học của nhà trường, không gây xáo trộn tư tưởng trong quần chúng nhân dân. Thứ tư: Rút ra những bài học kinh nghiệm trong hoạt động quản lý về văn bằng chứng chỉ nói riêng cũng như các mặt hoạt động giáo dục khác của nhà trường, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. IV. XÂY DƯNG, PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG ÁN VÀ LƯA CHON PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH HUỐNG 1. Cơ sở xây dựng, phân tích các phương án và lựa chọn phương án xử lý tình huống Việc xây dựng và phân tích cũng như lựa chọn các phương án xử lý tình huống được dựa trên các căn cứ sau đây: - Căn cứ Luật Giáo dục 2005 - Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998, sửa đổi bổ sung 2003; 10 - Căn cứ Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức; - Căn cứ Thông tư số 03/2006/TT-BNV ngày 08 tháng 2 năm 2006 của Bộ nội vụ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức. 2. Xây dựng, phân tích các phương án xử lý tình huống Phương án 1: UBND Huyện K chỉ đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo và trường THCS z tiến hành xem xét xử lý theo hướng không bố trí đứng lớp mà chuyển sang làm nhiệm vụ khác đối với cô giáo Nguyễn Thị M. - Ưu điểm: + UBND Huyện đã có biện pháp kịp thời chỉ đạo các phòng, cơ quan chức năng xem xét, xử lý vụ việc xảy ra. + Việc sai phạm của cồ giáo Nguyễn Thị M đã được xử lý, đảm bảo làm ổn định chính trị tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh và quần chúng nhân dân. + Bảo đảm cho cồ Nguyễn Thị M vẫn có công việc làm nuôi sống gia đình. - Hạn chế: + Chưa phát huy được tinh thần trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan chức năng trong xử lý vi phạm của cô Nguyễn Thị M. + Việc sai phạm của cô giáo Nguyễn thị M cần được xem xét kỹ lưỡng, có kết luận và những quyết định hình thức kỷ luật thích đáng mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Phương án 2: UBND huyện xử lý kỷ luật đối với cô giáo Nguyễn Thị M bằng hình thức buộc thôi việc. - Ưu điểm: 11 + Hành vi sai phạm của cô giáo Nguyễn Thị M được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Điều 25, Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức (điều c, khoản 2) quy định áp dụng kỷ luật buộc thôi việc đối với: “Cán bộ, công chức sử dụng văn bằng, chứng chỉ không họp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước.” + Có thể giải quyết được ngay vấn đề giáo viên ngồi nhầm chỗ, đánh giá thực hiện tốt cuộc vận động "Hai không 4 nội dung" ừong ngành Giáo dục và Đào tạo. + Nhà trường cũng thanh lọc được những giáo viên không có tính trung thực trong nghề nghiệp, giữ được uy tín cho ngành giáo dục. - Hạn chế: + Cồ giáo Nguyễn Thị M rơi vào tình thế bất lợi về nhiều mặt; vừa mất công ăn việc làm vừa không có thu nhập ứong khi hoàn cảnh gia đình lại rất khó khăn, các con của cồ đang nhỏ. + Chưa phát huy được vai trò lãnh đạo của cấp cơ sở. Phương án 3: Chủ tịch UBND Huyện K giao cho phòng Nội vụ Huyện phối hợp với phòng GD- ĐT Huyện xem xét về việc sai phạm của cô giáo Nguyễn Thị M để đề xuất các biện pháp xử lý một cách đúng đắn, phù hợp. - Ưu điểm: + Việc xử lý vụ việc bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ thục theo quy định của pháp luật. + Xem xét, giải quyết sai phạm một cách có căn cứ, bảo đảm tính khách quan, chính xác. + Hành vi vi phạm của cô giáo Nguyễn Thị M sẽ được xử lý hợp lý, hợp tình. Một mặt vừa xử lý nghiêm vi phạm, mặt khác tạo điều kiện cho cô có việc làm. 12 - Hạn chế + UBND Huyện K và các cơ quan chức năng có thẩm quyền của Huyện K, truờng THCS z phải mất nhiều thời gian cho việc xem xét, giải quyết vụ việc. Rõ ràng trong ba phuơng án trên phương án nào cũng có những ưu điểm và những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, phương án thứ ba theo tôi là tối ưu hơn cả. Đây là phương án vừa đảm bảo họp lý và hợp tình, trong đó thể hiện sự nghiêm minh theo quy định của pháp luật đồng thời có tính đến điều kiện hoàn cảnh khó khăn của gia đình, sự cố gắng phấn đấu vươn lên của cô giáo Nguyễn Thị M và đặc biệt là xem xét đến sự cống hiến của cô cho sự nghiệp giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn của huyện K. V. TỔ CHỨC THƯC HIÊN • • Bước 1: Chủ tịch UBND Huyện K chủ trì tổ chức cuộc họp với lãnh đạo phòng nội vụ, phòng GD-ĐT Huyện và các tổ chức, đơn vị chức năng có thẩm quyền để giao nhiệm vụ xử lý tình huống. Bước 2. Chủ tịch UBND Huyện K thành lập Đoàn kiểm tra xem xét các sai phạm của cồ giáo Nguyễn Thị M. Bước 3. Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra. Các công việc bao gồm: - Yêu cầu cá nhân cồ Nguyễn Thị M tường trình lại sự việc cụ thể về việc mình đang sử dụng các loại văn bằng chứng chỉ hiện đang có. - Nộp toàn bộ các loại văn bằng chứng chỉ, giấy khai sinh, các loại hồ sơ cá nhân có liên quan. - Yêu cầu Nhà trường triệu tập cuộc họp đầy đủ các thành phần: Ban lãnh đạo, dại diện công đoàn, chi đoàn, các tổ trưởng tổ khối, ban thanh ứa nhân dân để cùng nhau xem xét hồ sơ và đóng góp ý kiến cho cá nhân cô Nguyễn Thị M. 13TT Nội dung công việc Cơ quan, tể chức có người chủ trì Thời gian thực hiện Bắt đầu Kết thúc 1 Chủ tịch UBND Huyện tổ chức cuộc họp với lãnh đạo phòng Nội vụ, phòng GD-ĐT và các tổ chức, đon vị chức năng Chủ tịch UBND Huyện Lãnh đạo phòng Nội vụ Lãnh đạo phòng GD-ĐT 24/11/2009 (Thứ 3) 16h 2 Chủ tịch UBND Huyện K thành lập Đoàn kiểm tra Chủ tịch UBND Huyện Lãnh đạo phòng Nội vụ Lãnh đạo phòng GD-ĐT 26/11/2009 (Thứ 5) 3 Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra. Trưởng đoàn kiểm ứa (chủ trì) Lãnh đạo nhà trường Cô giáo Nguyễn Thị M 30/11/2009 (Thứ 2) 01/12/2009 4 Đoàn thanh tra báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất hình thức, biện pháp xử lý- Chủ tịch UBND Trưởng đoàn kiểm ứa (chủ trì) và các thành viên 02/12/2009 (Thứ 2) 5 Chủ tịch UBND Huyện K kết luận và quyết định xử lý vụ việc. Chủ tịch UBND Huyện 07/12/2009 (Thứ 2) 6 Thông báo kết luận và quyết định Phòng Nội vụ Huyện Phòng GD- ĐT 09/12/2009KÉ HOẠCH THựC HIỆN CÁC BƯỚC cụ THỂBước 4. Đoàn thanh tra báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất hình thức, biện pháp xử lý. Bước 5. Chủ tịch UBND Huyện K kết luận và quyết định xử lý vụ việc sai phạm của cô giáo Nguyễn Thị M. Bước 6. Thông báo kết luận và quyết định về việc xử lý vụ việc sai phạm của cô giáo Nguyễn Thị M. 14về việc xử lý vụ việc sai phạm của cô giáo Nguyễn Thị M. Hiệu trưởng trường THCS z —> (Thứ 6) VII. KIẾN NGHỊ Để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH, Đảng ta chỉ đạo ngành Giáo dục phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện, mà mục tiêu cơ bản là: "Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính ừị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước". Qua việc xử lý tình huống cô giáo Nguyễn Thị M ở trường THCS z, huyện K, tỉnh L sử dụng văng bằng không hợp pháp, tôi xin đề xuất kiến nghị một số vấn đề sau đây: Đổi với đội ngũ giáo viên : Phải tích cực, tự giác trong rèn luyện và ứong công tác. Phấn đấu mỗi thầy cồ giáo là một tấm gương đạo đức cho học sinh noi theo, tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật. Đối với lãnh đạo nhà trường : - Tiến hành rà soát, kiểm tra lại toàn bộ hệ thống văn bằng, chứng chỉ của đội ngũ cán bộ giáo viên của nhà trường. - Tăng cường công tác bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ giáo viên. Đối với phòng giáo dục: 15 - Tổ chức các lớp tập huấn về công tác quản lý hồ sơ sổ sách bằng nhiều hình thức, nhất là vấn đề quản lý hồ sơ qua công nghệ thông tin. - Hàng năm thuờng xuyên tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra việc quản lý hồ sơ sổ sách trong các đơn vị. - Tham mưu cho lãnh đạo các cấp thống nhất chỉ đạo công tác quản lý các hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức trong đơn vị được tốt hơn. - Việc bổ nhiệm cán bộ quản lý cần hợp lý hơn cả về số lượng cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đảm bảo đáp ứng kịp thời với sự phát triển của xã hội hiện nay. 16 KẾT LUẬN Là một người cán bộ quản lý nhà nước phải biết tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước (Quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp) để duy trì ổn định xã hội và điều chỉnh các hành vi của từng cá nhân ứong xã hội, để xã hội phát ứiển theo mục tiêu đã định để đạt được mục tiêu nhà nước đã đề ra trong từng giai đoạn, từng thời kỳ. Chúng ta phải xác định rằng công tác quản lý các loại hồ sơ, sổ sách, quản lý các loại văn bằng, chứng chỉ ừong cơ quan nhà nước là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Vì nếu trải qua quá trình đào tạo, được tiếp thu những kiến thức cơ bản cả về văn hoá cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà được các cấp có thẩm quyền công nhận đó đã là một tiêu chí hàng đầu để xây dựng nhà nước ta ngày một phát triển và bền vững. Bài học rút ra ở đây là cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cồng tác quản lý hành chính nhà nước. Tuyên truyền phổ biến sâu rộng mọi chủ chương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước cho đông đảo quần chúng, cán bộ, công chức, viên chức hiểu rõ và tự giác thực hiện. Phát huy tính chủ động sáng tạo của cán bộ cơ sở, tăng cường phối hợp với các đoàn thể ứong cơ quan, nâng cao vai ứò lãnh đạo của người đứng đàu ứong cơ quan. Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, các ngành, các cấp. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra. Thực hiện tốt việc quản lý hồ sơ bằng công nghệ thông tin. Trong quá trình nghiên cứu thực hiện làm đề tài, với sự hiểu biết còn hạn chế, thời gian đầu tư cho nghiên cứu có hạn, tôi mạnh dạn nêu lên những suy nghĩ, quan điểm của mình về xử lý tình huống sử dụng vãn bằng, chứng chỉ không họp pháp tại trường THCS z xã B, huyện K, tỉnh L. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy giáo, Cô giáo và đồng nghiệp để bài viết được hoàn thiện hơn./. 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Luật Giáo dục 2005 2. Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998, sửa đổi bổ sung 2003; 3. Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức; 4. Thông tư số 03/2006/TT-BNV ngày 08 tháng 2 năm 2006 của Bộ nội vụ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức. 5. Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính Nhà nước (Phần I) 6. Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính Nhà nước (Phần II) 7. Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính Nhà nước (Phần III) 18
— Xem thêm —
Từ khóa:
Bình luận