Nhúng
Toàn màn hình
/ 25
Sao chép
Đang tải
Tải xuống tài liệu (25 trang)
Thông tin tài liệu
Ngày đăng: 2012-10-18 01:13:21
1 Chương IV SUY LUẬN I- ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA SUY LUẬN. 1- Suy luận là gì ? Suy luận là hình thức của tư duy nhằm rút ra phán đoán mới từ một hay nhiều phán đoán đã có. Nếu như phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm, thì suy luận là sự liên hệ giữa các phán đoán. Suy luận là quá trình đi đến một phán đoán mới từ những phán đoán cho trước. Ví dụ : Từ hai phán đoán đã có : - Mọi kim loại đều dẫn điện. - Nhôm là kim loại. Ta rút ra một phán đoán mới : - Nhôm dẫn điện. 2- Cấu trúc của suy luận. Thông thường mỗi suy luận gồm có hai phần : - Phần đầu gồm những phán đoán sẵn có, gọi là Tiền đề. - Phần sau là phán đoán mới (được rút ra từ tiền đề), gọi là Kết luận. Tiền đề có thể là một hoặc nhiều phán đoán. Chẳng hạn, theo ví dụ trên, tiền đề bao gồm hai phán đoán : - Mọi kim loại đều dẫn điện – Nhôm là kim loại. Kết luận là một phán đoán được rút ra từ những tiền đề. Theo ví dụ trên, kết luận là phán đoán : - Nhôm dẫn điện. - Giữa các tiền đề và kết luận có liên hệ về mặt nội dung. Tính đúng đắn của kết luận phụ thuộc vào tính đúng đắn của các tiền đề và tính chính xác của lập luận. Một suy luận được coi là đúng đắn khi nó bảo đảm 2 điều kiện sau : - Tiền đề phải đúng. - Quá trình lập luận phải tuân theo các qui tắc, qui luật lôgíc. 3- Các loại suy luận. Tuy theo đặc điểm của suy luận, thông thường người ta chia suy luận thành hai loại : Suy luận diễn dịch và suy luận qui nạp, gọi tắt là suy diễn và qui nập. Ngoài ra, còn có suy luận tương tự. Có thể coi suy luận tương tư là 53 một trường hợp của suy luận diễn dịch, song khác với các suy luận diễn dịch thông thường, kết luận của các suy luận tương tự, không tất yếu đúng. II- SUY LUẬN DIỄN DỊCH. 1- Định nghĩa. Trong lôgíc học truyền thống, suy luận diễn dịch được định nghĩa là suy luận nhằm rút ra những tri thức riêng biệt từ những tri thức phổ biến. Trong suy luận diễn dịch, thông thường tiền đề là những phán đoán chung, còn kết luận là những phán đoán riêng. Ví dụ : - Mọi người đều phải chết. - Socrate là người. - Socrate cũng phải chết. Trong lôgíc học hiện đại, suy luận diễn dịch được coi là suy luận theo những qui tắc nhất định, do đó tính đúng đắn của kết luận được rút ra một cách tất yếu từ tính đúng đắn của tiền đề. Nói cách khác, suy luận diễn dịch là suy luận theo qui tắc lôgíc, vì thế bảo đảm rằng : Nếu xuất phát từ những tiền đề đúng thì kết luận nhất thiết cũng phải đúng. Như vậy, trong lôgíc học hiện đại, các tiền đề của phép suy diễn không nhất thiết phải là những phán đoán chung. Ví dụ : - Điện bị cắt hoặc đèn bàn hỏng. - Điện không bị cắt. - Đèn bàn không bị hỏng. 2- Suy diễn trực tiếp. Suy diễn trực tiếp là suy diễn từ một tiền đề, nghĩa là có thể rút ra kết luận mà chỉ căn cứ vào một tiền đề duy nhất. Sơ đồ suy diễn : A  B hoặc : Đọc là : Từ A suy ra B; Có A vậy có B. (A được gọi là tiền đề, B là kết luận của A). SUY LUẬN ĐÚNG ĐẮN (hợp lôgíc) khi phép suy diễn : A  B là một hằng đúng, nghĩa là khi A đúng thì B đúng. Khi đó B kết luận lôgíc của A và sơ đồ A  B là một qui tắc suy diễn. Ví dụ : - Mọi hành vi phạm pháp cần phải được nghiêm trị (A). Suy ra : - Một số hành vi phạm pháp cần phải được nghiêm trị ...
— Xem thêm —
Bình luận