Nhúng
Toàn màn hình
/ 5
Sao chép
Đang tải
Tải xuống tài liệu (5 trang)
Thông tin tài liệu
Ngày đăng: 2012-12-03 05:45:33
Bào ngư là loài có giá trị kinh tế bởi vì hàm lượng dinh dưỡng trong thịt của chúng rất cao. Bào ngư có khoảng gần 100 loài, tất cả đều thuộc giống Haliotis. Chùng có mặt ở nhiều vùng trên trái đất, một số loài hiện nay đang được nuôi như Haliotis disversicolor, H. asinina, H. oliva... 37 CHƯƠNG VI KỸ THUẬT NUÔI BÀO NGƯ Bào ngư là loà i c ó giá trị kinh tế bởi vì hàm lượng dinh dưỡng trong thịt của chúng rất cao. Bào ngư có khoảng gần 100 loà i, tất cả đều thuộc giống Haliotis. Chùng có mặt ở nhiều vùng trên trái đất, một số loà i h iện nay đang được nuôi như Haliotis disversicolor, H. asinina, H. oliva... Hình 6.1: Hình dạng của Bào ngư (Haliotis) 1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 1.1 Phân bố Các loài Bào ngư phân bố rộng khắp thế giới nhưng chúng phát tr iển phong phú về số lượng ở vùng ôn đới. Bào ngư thích sống ở vùng biển cạn, môi trường nước xáo động mạnh và hàm lượng oxy hòa tan cao. Vì vậy, chúng thường phân bố ở nền đáy cứng, trên các mõm đá. Bào ngư không phân bố ở các vùng cửa sông bởi vì cửa sông nồng độ muối thấp, có nhiều bùn, nhiệt độ cao và oxy hòa tan thấp. Bà o ngư thích nghi trong khoảng nhiệt độ từ 10-35 oC và nồng độ muối từ 25-35%o. Ở Việt Nam Bào ngư phân bố ở đảo Cô Tô, Hạ Long, các đảo ở Bắc và Trung Bộ. Ở Nam Bộ Bào ngư có ở đảo P hú Quốc. 1.2 Phương thức sống Phương thức sống của Bào ngư có liên quan đến cấu tạo của chân. Bào ngư dùng chân để bò từ nơi này đến nơi khác giống như những loà i ốc khác. Nhưng chân của Bào ngư không thích hợp để bò hoặc bám trên cát. Trên mặt cát chùng dể bi lật ngửa và dể bị địch hại tấn công. Vì vậy, chỉ thấy Bào ngư phân bố ở vù n g đáy đá. Khi gặp kẻ thù, Bào ngư dùng chân bám chặt trên đá và hạ thấp vỏ xuống để che đậy phần cơ thể và chân. Chân của bào ngư có thể bám chắc trên đá, khi chúng 38 nhận thấy bị đe đọa thì chúng bám rất c hắc và khó có thể tách chúng ra khỏi mặt đá. Bào ngư sợ ánh sáng nên chúng thường ẩn nấp trong các hốc đá vào ban ngày và ban đêm thì bò ra để tìm mồi. 1.3 Thức ăn Bào ngư là loà i ăn thực vật. Thức ăn của Bào ngư thay đổi the o gia i đoạn phát triển. Trong gia i đoạn đầu của chu kỳ sống thì ấu trùng của Bào ngư sống trôi nổi. Chúng dường như không ăn trong gia i đoạn ấu trùng. Ở Mỹ người ta đã thành công ương ấu trùng trong nước vô trùng (sterile water). Tuy nhiên, theo qui trình truyền thống của Nhật Bản thì ấu trùng Bào Ngư được ương trong môi trường có cung cấp tảo sống và cho kết quả tốt hơn. Một nghiên cứu khác cho rằng ấu trùng có thể hấp thu chất dinh dưỡng trực tiếp từ môi trường ngoà i cho hoạt động sống của chúng. Khi kết thúc giai đoạn ấu trùng phù du chúng chuyển sang sống bám. Ấu trùng bám dùng lưỡi sừng để cạp các tảo san hô (coralline) hoặc lớp chất nhầy trên bề mặt đá (slime) lấy thức ăn. Chất nhầy trên mặt đá bao gồm các tảo đơn bào và vi khuẩn tạo thành. Gia i đoạn trưởng thành thức ăn của Bào ngư là rong biển (seaweed). Bào ngư thích ăn rong đỏ (red algae), loại rong nâu (brown algae) và vài loại rong lục (green algae). Nhiệt độ có ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của bào ngư. Ở 8 oC bào ngư không bắt mồi, 12 oC bào ngư ăn với lượng thức ăn là 6% trọng lượng cơ thể, 20oC b à o ngư ăn với lượng bằng 15% trọng lượng cơ thể. Bào ngư ăn nhiều rong nâu Laminar ia (53%), một ít rong lục (6% Ulva, 2% Porphyra). Bào ngư bắt mồi tích cực về đêm, đặc biệt là lúc mặt trời sắp lặn và sắp mọc. 1.4 Sinh Trưởng Bào ngư sinh trưởng tương đối c hậm, bào ngư V à nh ta i ( H a liot is a sin ina ) đạt 3,5cm sau 6 tháng, 55cm trong 1 năm và 7,5 cm trong 3 năm. Bào ngư Nhật (H. discus) đạt 3 cm trong năm đầu, 5,5 cm, 7,5 cm và 9,5 cm cho năm thứ 2, 3 và măm thứ 4. Bào ngư sinh trưởng đều, không thay đổi tỉ lệ hình học theo thời gian (b=3). Các yếu tố di truyền, môi trường, thức ăn... ảnh hưởng đến sinh trưởng của bào ngư. 39 1.5 Sinh sản Bào ngư phân tính đực, cái riêng biệt và chúng ta có thể phân biệt dựa vào màu sắc của chúng trong mùa sinh sản. Con cái thường có màu xanh đen, con đực có màu và n g. Trứng của Bào ngư thụ tinh ngoà i, cho nên tỉ lệ thụ tinh rất thấp. Tuy nhiên Bào ngư cũng có một tập tính sinh sản đặc biệt nhằm làm tăng tối đa khả năng gặp nhau giữa tinh trùng và trứng. Khi sinh sản chúng thường tập trung thành từng đàn trên trong một nơi với mật độ cao, như vậy đảm bảo trứng có cơ hội thụ tinh cao. Trong tự nhiên Bào ngư thường thành thục sinh dục ở một thời ...
— Xem thêm —
Bình luận